BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
Đề tài
Biện pháp nâng cao hiệu quả chuyển giao công nghệ
trong ngành công nghiệp ô tô Việt Nam hiện nay
1
1
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Theo quy hoạch ngành ô tô:công nghiệp ô tô được coi là một ngành
công nghiệp mũi nhọn,nó có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của
nước ta.bởi công nghiệp ô tô thúc đẩy nhiều ngành công nghiệp liên quan
khác như:cao su,luyện kim,chế tạo máy thủy tinh và chất dẻo,xăng
dầu,điện,điện tử…Cứ một đồng vốn bỏ vào công nghiệp ô tô thì cần tám đồng
vốn để sản xuất các ngành công nghiệp phụ trợ.Nó là cơ sở để nâng cao tiện
nghi và mức sống cho con người,đồng thời nó cũng tạo ra hàng triệu việc làm
cho người lao động.
Tuy nhiên ngành công nghiệp ô tô Việt Nam Hiện nay các doanh
nghiệp Việt Nam chưa phải là nhà sản xuất ô tô mà chỉ là nhà lắp ráp ô tô. tuy
nhiều doanh nghiệp trong nước xây dựng dự án đầu tư sản xuất lắp ráp ô tô,
nhưng các dự án này phần lớn đều có quy mô nhỏ, công nghệ còn lạc hậu
(chủ yếu là lắp ráp đơn giản) và khả năng nội địa hoá chưa cao.Mặc dù thời
2
2
gian vừa qua chúng ta đều thấy ngành công nghiệp ô tô là ngành được nhà
nước ưu tiên nhiêu nhât bàng chính sách bảo hộ, để rồi bây giờ lại có nhận
định là ngành công nghiệp ô tô Việt Nam là đứa con chiều quá hóa hư.
Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để có ngành công nghiệp ô tô trong khi
Việt Nam hiện nay gần như là chưa có công nghiệp ô tô.Câu trả lời không thể
khác được ngoài việc tăng cường vào phát triển đổi mới công nghê ô tô.Mà
biện pháp huuwx hiệu nhất hiện nay theo tôi đó là chuyển giao công nghệ
trong ngành công nghiệp ô tô.
1.a.2. Khái niệm chuyển giao công nghệ.
Chuyển giao công nghệ là hoạt động nhằm đưa công nghệ tiên tiến,
công nghệ hiện đại vào sản xuất thông qua việc áp dụng kết quả nghiên cứu
khoa học vào sản xuất hoặc có thể áp dụng một công nghệ đã hoàn thiện từ
4
4
doanh nghiệp này sang doanh nghiệp khác. Chuyển giao công nghệ là sự mua
bán công nghệ và là quá trình đào tạo huấn luyện để sử dụng công nghệ được
tiếp nhận.
Đặc điểm của chuyển giao công nghệ bao gồm:
• Hoạt động chuyển giao công nghệ có hai bên tham gia và yếu tố quyết
định là công nghê mới.
• Hoạt động chuyển giao công nghệ không chỉ bao gồm chuyển nhượng
phương tiện vật chất kỹ thuật hữu hình mà điều quan trọng hơn là phảI đào
tạo,huấn luyện,để ngườI lao động nắm,sử dụng thành thạo công nghệ nhập.
1.2 .Vai trò của ngành công nghệ và chuyển giao công nghệ trong công
nghiệp
1.2.1 Vai trò của công nghệ trong công nghiệp.
1.2.1.1 Vai trò của công nghệ trong sản xuất kinh doanh.
• Công nghệ là một yếu tố cấu thành cơ sở vật chất ,tạo nên điều kiện tồn tại và
phát triển của doanh nghiệp.Đặc biệt công nghệ ảnh hưởng trực tiếp và quyết
định tới khả năng sản xuất.Sản phẩm ngày càng đa dạng ,phong phú để thỏa
mãn nhu cầu phát triển của xã hội. Không có sự phát triển của công nghệ đặc
biệt là những công nghệ có hàm lượng chất xám cao thì không thể đa dạng
hóa sản xuất và cung cấp cho thị trường nhiều sản phẩm có ảnh hưởng quyết
định đến nền sản xuất và đời sống của xã hội hiện đại.
• Công nghệ là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tớI năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp. Tác động này thể hiện trước tiên ở chỗ:Công nghệ và tiến bộ công
nghệ đã làm chất lượng sản phẩm được duy trì và nâng cao, chi phí sản xuất
được tiết kiệm một cách tương đối để giá thành được giảm bớt ,sản phẩm mới
Công nghệ vừa có vai trò ảnh hưởng vừa có vai trò ảnh hưởng trực tiếp
vừa có vai trò ảnh hưởng gián tiếp.
• Công nghệ cho phép mở rộng và nâng cấp hệ thông cơ sở vật chất kỹ thuật
cũng như cơ sở hạ tầng xã hội.Tiến bộ công nghệ cho phép các nhà kinh
doanh có thể tiếp cận ,xử lý thông tin nhanh chóng, kiểm tra thông tin một
cách dễ dàng.
6
6
• Công nghệ làm cho những lĩnh vực kinh doanh mới trong công nghiệp được
hình thành. Chính nhờ những phát minh sáng chế trong các lĩnh vực điện tử
mà ngành công nghiệp không ngừng phát triển.công nghệ tạo ra sự bình đẳng
trong việc tiếp cận thông tin,thúc dẩy mạnh mẽ viêc hình thành một môi
trường kinh tế-xã hội bình đẳng cho tất cả các doanh nghiệp kinh doanh.
Như vậy công nghệ có vai trò rất quan trọng đối với doanh nghiệp kinh
doanh.
1.2.2 Vai trò của chuyển giao công nghệ trong công nghiệp.
Vai trò quan trọng của chuyển giao công nghệ bắt nguồn từ ý nghĩa của
công nghệ đối với các doanh nghiệp công nghiệp. ở nước ta hiện nay tiến bộ
khoa học công nghệ tạo ra khoảng 30-40% trong công nghiệp.
Chuyển giao công nghệ là phương thức ,biện pháp chủ yếu để đổi mới
công nghệ một cách nhanh chóng và có hiệu quả.
Chuyển giao công nghệ trong công nghiệp các doanh nghiệp kế thừa
được các thnhf tựu khoa học của các doanh nghiệp khác,tiết kiệm được chi
phí nghiên cứu, phát triển công nghệ và tránh được rủi ro tỷong các hoạt động
nghiên cứu và phát triển công nghệ.
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có nhiều hạn chế trong việc tự đầu tư
nghiên cứu,phát triển công nghệ do đó không thể triển khai được nhiều hoạt
động nghiên cứu và phát triển công nghệ.
Thông qua chuyển giao công nghệ các doanh nghiệp có thể tiết kiệm
được thời gian,sớm tạo lập được một tiềm lực công nghệ lớn,trang bị được
Bước bốn:phát triển các hoạt động tư vấn,dịch vụ chuyển giao công
nghệ.
1.5. Sự cần thiết của chuyển giao công nghệ trong ngành công
nghiệp ô tô Việt Nam hiện nay
1.5.1. Vai trò của ngành công nghiệp ô tô.
Công nghiệp ô tô là một ngành rất quan trọng đối với sự phát triển
của xã hội.Trong quy hoạch ngành công nghiệp ô tô đã xác định sẽ xây dựng
ngành công nghiệp ô tô trở thành một ngành rất quan trọng vào năm 2020.Sở
8
8
dĩ như vậy là vì ngành công nghiệp ô tô tạo cơ sở để nâng cao mức sống mức
tiện nghi của con người đồng thời cũng tạo ra việc làm cho người lao động.
Tầm quan trọng ấy được thể hiện qua một số vai trò sau:
• Là ngành sản xuất phương tiện đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và cung cấp
phưng tiện cho nghành giao thông vận tải.
• Góp phần giải quyết một số vấn đề xã hội : Giải quyết phần lớn việc
làm cho lượng lao động dư thừa, hạn chế tình trạng thất nghiệp, tạo việc làm
thu nhập cao bình ổn đời sống cho người lao động.
• Thúc đẩy quá trình tập trung hoá sản xuất và phân công lao độg xã hội.
Từ sự phát triển của nghành công nghiệp ô tô đã hình thành một số cụm công
nghiệp tập trung sản xuất chuyên môn hoá.ví dụ cum công nghiệp ô tô
Nguyên Khê – Đông Anh, cụm CN ô tô Thủ Đức – TP Hồ Chí Minh.
• Công nghiệp ô tô là một nghành công nghiệp hiện đậi đồi hỏi công
nghệ cao, vì vậy nó thúc đẩy phát triến công nghệ bằng nhiều con đường khác
nhau, có doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu, cũng có doanh nghiệp thúc đẩy
chuyển giao công nghệ hiện đại từ nước ngoài. Đồng thời cũng góp phần phát
triển nguồn nhân lực và phương thức quản lý.
• Nếu biết cách giải quyết tốt thì ô tô còn góp phần cải thiện môi trường
vì các tiêu chuẩn khí thải cao. Làm đẹp đô thị và hiện đại hoá cuộc sống, tiện
nghi và thoải mái.
nghiệp sản xuất,kinh doanh ô tô.theo số liệu của Hiệp Hội các nhà sản xuất ô
tô Việt Nam(VAMA) trong tháng 5/2007 số lượng xe bán được là 5.580 chiếc
tăng 59% so với cùng kỳ năm 2006,tăng 19% so với tháng 4,trong đó xe 5
chỗ ngồi tănggấp 2 lần và xe đa dụng tăng 25%.Dự báo đến năm 2010sẽ tăng
lên 3065040chiếc.
1.5.2.2.Những khó khăn của ngành công nghiệp ô tô.
• Kết cấu hạ tầng yếu kém.
10
10
Tính đến hết năm 2000, hệ thống đường bộ Việt Nam có 210.447
km, trong đó 169.005 km là đường nông thôn và chỉ có 3.211 km đường đô
thị. Phần lớn lòng đuờng hẹp, chất lượng xấu. Diện tích dành cho giao thông
tính trong các đô thị (bãi đỗ xe, nhà đỗ xe) qá ít ỏi, chỉ có 0.7 % trong khi ở
các đô thị hiện đại là 5- 7%.
• Nhu cầu về ô tô của thi trường Việt Nam tương đối nhỏ.
Chỉ khoảng 60.000 xe/ năm, trong khi đó ASEAN là 2,1 triệu
xe/năm, Trung Quốc là 5,2 triệu xe/ năm, Nhật Bản 5,9 triệu xe/ năm…Đến
nay, số lượng xe ô tô ở Việt Nam mới chỉ đạt 8 xe/ 1000 dân, trong khi ở
Trung Quốc là 24 xe/ 1000 dân, Thái Lan là 152 xe/1000 dân, Hàn Quốc 228
xe/ 1000 dân, Mỹ là 682 xe/ 1000 dân…
CHLB Đức có dân số gần như Việt Nam (khoảng 83 triệu dân),
diện tích cũng gần bằng nhau (khoảng 330.000 km2). Nhưng lượng ô tô ở việt
nam là khoảng 670.000 chiếc và 18 triệu xe gắn máy, trong khi ở Đức có 52
triệu ô tô và khoảng 7 triệu xe gắn máy (diện tích sử dụng mặt bằng một xe ô
tô bằng 8 chiếc xe gắn máy).
Một số nhận xét cho rằng cầu ô tô trên thị trường Việt Nam là cung
cầu giả tạo. Vì giá ô tô quá cao so với khả năng của người tiêu dùng, lượng
lớn ô tô sản xuất ra được mua bằng công quỹ, bằng ngân sách nhà nước
( mua làm xe công). tất nhiên đối tượng này cũng vẫn là khách hàng và họ
được xếp vào “thị trường của tổ chức”chứ không phải “thị trường người tiêu
hiếm linh kiện trên thị trường.
Khi khả năng cung ứng linh kiện còn bị hạn chế bởi số lượng ít,
chất lượng kém, giá cả lại cao thì nghành công nghiệp ô tô còn chưa thể phát
triển, và khi đó thị trường ô tô Việt Nam vẫn chỉ là thị trường tiềm năng chứ
chưa thể là thị trường lớn.
2.THỰCTRẠNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ TRONG NGÀNH CÔNG
NGHIỆP Ô TÔ VIỆT NAM.
2.1.Chính sách phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam.
12
12
2.1.1.Các chính sách về thuế đối với ô tô và linh kiện, phụ tùng ô tô
Để khuyến khích phát triển công nghiệp sản xuất ô tô và phụ tùng
phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu, Nhà nước có một số chính sách hỗ
trợ như sau:
- Không tính thuế nhập khẩu theo bộ linh kiện rời dạng CKD, IKD;
tính thuế nhập khẩu theo biểu thuế đối với linh kiện và phụ tùng nhập khẩu và
theo hướng khuyến khích sản xuất trong nước.
- Miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với sản phẩm chế thử trong
thời gian một năm kể từ khi sản phẩm được tiêu thụ trên thị trường.
2.1.2. Các chính sách và giải pháp về thị trường
- Bảo vệ thị trường:
+ Áp dụng các biện pháp hỗ trợ sản xuất trong nước phù hợp với
tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực.
+ Ban hành các tiêu chuẩn kỹ thuật đối với ô tô, phụ tùng ô tô để
ngăn chặn việc lưu thông những hàng hóa kém chất lượng, không an toàn, gây
ô nhiễm môi trường.
+ Xử lý nghiêm khắc hàng nhập lậu, hàng gian lận thương mại
được đưa vào thị trường Việt Nam.
- Mở rộng thị trường:
+ Đẩy mạnh đầu tư nâng cấp mạng lưới giao thông đường bộ trong cả
triển trong công nghiệp ô tô.
2.1.5. Các chính sách và giải pháp về nguồn nhân lực
Tăng cường đầu tư cho đào tạo và đào tạo lại cán bộ quản lý, cán
bộ thiết kế, công nhân lành nghề phục vụ công nghiệp ô tô, kể cả cử đi học
nước ngoài từ nguồn vốn ngân sách của Nhà nước.
2.1.6. Các chính sách và giải pháp về huy động vốn
14
14
- Khuyến khích cổ phần hóa các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô
tô, phụ tùng ô tô, kể cả bán cổ phần cho người nước ngoài để tạo vốn đầu tư
mới và đa dạng hóa nguồn vốn.
- Khuyến khích mọi thành phần kinh tế đầu tư vào lĩnh vực sản xuất
phụ tùng, linh kiện ô tô.
- Các doanh nghiệp được thành lập theo pháp luật, có dự án đáp
ứng đầy đủ các yêu cầu nêu ở khoản 4 (phần "Đối với các dự án trong nước
khác") đều được phép đầu tư dự án trên nguyên tắc tự chịu trách nhiệm về
hiệu quả đầu tư. Khi xây dựng dự án, chủ đầu tư căn cứ các định hướng quy
hoạch, định hướng đầu tư nêu trên (nhất là nhu cầu thị trường, nhu cầu sản
lượng bổ sung từng thời kỳ đối với mỗi loại xe, định hướng phân bố lực
lượng sản xuất ), khả năng cạnh tranh thực tế của doanh nghiệp để xác định
quy mô và địa điểm đầu tư thích hợp, đồng thời tự chịu trách nhiệm về quyết
định của mình.
2.1.6. Các chính sách và giải pháp về thị trường.
- Chú trọng nghiên cứu, thực hiện các giải pháp điều tiết cung cầu
của thị trường ô tô Việt Nam nhằm đảm bảo tính cạnh tranh lành mạnh và
hiệu quả chung cho toàn ngành.
- Xây dựng, hoàn thiện khung khổ pháp lý nhằm tạo điều kiện để
các doanh nghiệp tự sắp xếp, tổ chức lại, hình thành các doanh nghiệp lớn
theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con, các công ty vệ tinh của các doanh
nghiệp lớn trong lĩnh vực sản xuất, lắp ráp ô tô; thực hiện tốt việc chuyên môn
xấu hơn xe sản xuất trong nước.Xe ở mỹ,Đức khi đỗ tuyệt nhiên không có
mùi xăng vì nó có bộ phận thu hồi hơi xăng trong khi đở Việt Nam ngay cả
chiếc xe Xịn như Mercedes cũng không có thiết bị này.Lý giải cho điều này
lỗi không phải do các nhà sản xuất mà do Việt Nam chưa có tiêu chuẩn về
công nghệ ô tô.
16
16
Các liên doanh dầu tư vào Việt nam thực tế là quá nhỏ,liên doanh
đầu tư cao cũng chỉ vài chục USD.Trong đó đầu tư cho dây chuyền lắp
ráp,cho công nghệ không đáng kể khi so sánh với mục tiêu nội địa hóa,phát
triển công nghiệp ô tô,dù là sản xuất hay lắp ráp.Trong số các liên doanh hiện
nay chỉ có Honda là có dây chuyền lắp ráp còn lại các liên doanh khác đều là
dây chuyền lắp ráp giản đơn.Tuy nhiên dây chuyên lắp ráp của Honda ở mức
độ nào,lắp ráp rời toàn bộ,hay chỉ lắp ráp động cơ ở mức đơn giản,lắp ráp một
số linh kiện phụ của động cơ ,công suất bao nhiêu,vốn đầu tư riêng cho khoản
mục này là bao nhiêu hiện nay cũng chưa thấy ai nhắ tới.Có quan điểm cho
rằng vì ra đời muộn nên Honda mới đầu tư dây chuyền lắp ráp đọng cơ chứ
nếu đầu tư trước đây thì thì cũng chưa chắc.TOYOTA Việt Nam,ngoài dây
chuyền lắp ráp còn đầu tư thêm dây chuyền dập thân vỏ,nhưng cũng chỉ sử
dụng cho1-2 mẫu xe.Tổng công suất của các dây chuyền của tất cả các liên
doanh là khá lớn,Hơn 120 nghìn xe/năm, nhưng khi thị trường mới chỉ mức
tiêu thụ khoảng 40.000 xe/năm mà tình trạng thiếu xe,không lắp ráp kịp luôn
diễn ra.
2.2.2.2. Những thuận lợi trong quá trình chuyển giao công nghệ ngành
công nghiệp ô tô.
Việc mở rộng hội nhập sẽ xóa dần chênh lệch về giá bán giữa xe ô tô
nguyên chiếc và xe lắp ráp trong nước.
bảo hộ thực sự hữu hiệu cho ô tô nội địa, vì nó chỉ khuyến khích nhập
khẩu linh kiện về lắp ráp để bán ra trên thị trường nội địa sẽ có lợi hơn nhiều
so với nhập khẩu xe hoàn chỉnh hay là chế tạo linh kiện tại chỗ
• Thêm vào đó, chính sách thuế quan có tính chất bảo hộ cao cho ô tô lắp ráp
nội địa kéo dài trong thời gian qua của chính phủ đã góp phần làm chậm quá
trình trưởng thành của ngành công nghiệp ô tô. Sau nhiều lần buộc phải điều
chỉnh giảm, đến tháng 7/2006 thuế nhập khẩu và thuế tiêu thụ đặc biệt áp lên
mặt hàng ô tô
18
18
3.BIỆN PHÁP NÂNG CAO HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ TRONG
NGÀNH CÔNG NGHIỆP Ô TÔ VIỆT NAM
3.1. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.
3.1.1. Thực trạng đào tạo nguồn nhân lực cho ngành ô tô Việt Nam.
Một điều hết sức hiển nhiên là nguồn nhân lực có vai trò quan trọng đối
với sự phát triển của các ngành công nghiệp phụ trợ. Với lực lượng lao động
khoảng 46 triệu người, Việt Nam có thể cung cấp một lượng lao động lớn mà
không gặp bất kỳ một trở ngại nào. Tuy nhiên, Việt nam lại thiếu lực lượng
kỹ sư có trình độ trung cấp đến cao cấp. Số lượng kỹ sư tốt nghiệp đại học
được tuyển dụng có đủ năng lực thể đáp ứng các nhu cầu về quản lý lại rất
thiếu, đặc biệt là ở miền Bắc. Một phần của thực trạng này là việc đào tạo
thực hành khoa học và kỹ thuật (kỹ thuật cơ khí, kỹ thuật điện, hoá ứng
dụng….) trong các trường đại học còn rất yếu, và vì thế đây cũng là một
nguyên nhân dẫn đến việc trang thiết bị phục vụ cho hoạt động này cũng
thiếu. Sự thiếu nhiệt tình trong quá trình tiếp thu những kiến thức thực tế cũng
là một vấn đề nảy sinh từ phía sinh viên ở các trường.
3.1.2 . Biện pháp đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.
Thực trạng đó chỉ ra rằng cần phải cải cách triệt để đào tạo đại học theo
cả hai hướng, đó là phần cứng (bằng trang thiết bị) và phần mềm (chương
trình đào tạo và phương thức giảng dạy), và có một khối lượng lớn kỹ sư có
thể làm việc trong các ngành công nghiệp phụ trợ. Các chương trình liên
thông giữa các trường đại học và các tổ chức học thuật, ví dụ như chương
trình thực tập ngắn hạn, cần phải có hiệu quả để sinh viên có điều kiện nâng
quy mô Nhà nước và coi đó là ngành công nghiệp then chốt. Bên cạnh đó, cần
mời các nhà đầu tư nước ngoài từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc…tham
gia tạo dựng và phát triển công nghiệp phụ trợ tại Việt Nam. Nhà nước cũng
20
20
cần tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có thể tái đầu tư bằng chính sách thuế
trong giai đoạn 5 năm hình thành ngành công nghiệp phụ trợ. Đối với các nhà
lắp ráp, cần kêu gọi các công ty phụ trợ từ nước ngoài và thu nạp các nhà phụ
trợ nội địa vào chuỗi phụ trợ của các hãng chính. Bên cạnh đó, các nhà phụ
trợ nội địa cần nỗ lực đầu tư, chuyển giao công nghệ, kỹ thuật để sản phẩm
đạt chất lượng cao.
3.2.2. Chính sách về thuế.
Hiện nay ở nước ta: Ô tô là hàng xa xỉ phẩm, bị đánh thuế tiêu thụ đặc
biệt giống như với rượu, bia, thuốc lá Nhà nước không khuyến khích tiêu
dùng.Việc bảo hộ cho nganh công nghiệp ô tô không phải la không cần thiết
tuy nhiên cần kéo gần lại khoảng cách giữa thuế suất danh nghĩa (NTR) của
sản phẩm ô tô hoàn chỉnh và NTR của linh kiện ô tô nhằm hạ thấp bậc thang
thuế quan (giữa ô tô hoàn chỉnh với linh kiện ô tô) để điều tiết giảm lợi ích
của những doanh nghiệp chỉ chuyên nhập khẩu linh kiện về lắp ráp. Mặt khác,
mở rộng khoảng cách giữa NTR của linh kiện ô tô và NTR của nguyên liệu
gốc phục vụ chế tạo linh kiện nhằm nâng cao bậc thang thuế quan (giữa linh
kiện với nguyên liệu gốc) để làm tăng lợi ích của những doanh nghiệp chế tạo
linh kiện nội địa, kể cả nhập khẩu phần lớn nguyên liệu gốc để chế tạo linh
kiện vẫn có lợi nhiều.
Công thức tính tỷ suất
Trong đó,
• ERP(X) – tỷ suất bảo hộ hữu hiệu trên sản phẩm X.
• t(X) – thuế suất danh nghĩa của mặt hàng X.
• ai(X) – tỷ số giữa giá trị nguyên liệu i (trong sản phẩm X) với giá trị
sản phẩm X khi không có thuế quan.
thì VAMA sẽ không cần sản xuất nữa mà chỉ tập trung vào NK xe về bán.
22
22
Với việc giảm thuế vừa rồi của Bộ Tài chính, chúng tôi đã phải hoãn kế hoạch
xây dựng nhà máy để nâng công suất lắp ráp xe mà sẽ tập trung vào việc NK
xe về bán bởi lợi nhuận cao và không có rủi ro”.
Theo cam kết WTO, lộ trình thuế NK xe nguyên chiếc từ nay đến
năm 2019 là minh bạch và rõ ràng. Riêng xe ô tô con đã được Bộ Tài chính
cho giảm thuế sớm hơn 11 năm và đã có động thái giảm thuế đột ngột khiến
cho kế hoạch sản xuất của các DN gặp nhiều khó khăn, nếu không cẩn thận,
chúng ta lại trở thành thị trường tiêu thụ ô tô NK mà mất đi ngành công
nghiệp sản xuất. Ngoài ra, chính sách thuế cần quan tâm hơn nữa đối với linh
kiện và phụ tùng ô tô, nhất là những bộ phận quan trọng như động cơ, hộp
số… Bởi vậy, cần có sự xem xét giảm thuế NK đối với những linh kiện này
để giảm chi phí trong giá thành, từ đó giảm được giá bán xe.
Thực tế cho thấy, quy hoạch phát triển ngành công nghiệp ô tô là
không sai, tuy nhiên cơ chế chính sách lại chưa thật phù hợp nên chưa đạt
được tiêu chí như mong muốn. Có nhiều mâu thuẫn giữa sản xuất và NK,
giữa các mức thuế linh kiện, phụ tùng… Bộ Công Thương cho biết, sẽ có sự
bàn bạc lại với Bộ Tài chính và mời các Bộ: Giao thông Vận tải, Khoa học
Công nghệ cho ý kiến để báo cáo lên Thủ tướng Chính phủ nhằm giải bài toán
khó cho ngành công nghiệp ô tô.
3.2.3. Chính sách định hướng phát triển.
Định hướng chiến lược cũng đề cập đến hai vấn đề quan trọng là nâng
cao tích cực tỷ lệ nội địa hóa sản phẩm (vào năm 2010 đạt từ 60 – 80% trên
các loại xe thông dụng, 35 – 40% trên các loại xe cao cấp); và về mặt thương
mại, không chỉ cố gắng đáp ứng phần lớn nhu cầu ô tô trong nước mà còn
phải phấn đấu xuất khẩu ra các quốc gia trong khu vực và thế giới.
3.2.4.Chính sách về đầu tư.
23
24
ô-tô tăng nhanh, từ đó ngành công nghiệp ô-tô sẽ tăng theo.hện nay chúng ta
đang có chính sách hạn chế số xe sử dụng,lý do của chính sách đưa ra là:
là "đường sá chật hẹp, ô nhiễm môi trường, tai nạn giao thông ". Rõ ràng
luận cứ này không có sức thuyết phục. Cần biết, số lượng xe ô tô ở Việt Nam
mới chỉ đạt 8 xe/1.000 dân, trong khi ở Trung Quốc là 24 xe/1.000 dân, Thái
Lan 152 xe/1.000 dân, Hàn Quốc 228 xe/1.000 dân, Mỹ 682 xe/1.000 dân
Xin cung cấp thêm số liệu sau đây để chúng ta hiểu thêm: CHLB Đức và Việt
Nam có diện tích gần như nhau (khoảng 330.000 km2), dân số gần như nhau
(khoảng 83 triệu dân), nhưng số lượng ô tô ở Việt Nam là khoảng 670.000
chiếc và 18 triệu xe gắn máy, trong khi đó, ở Đức có 52 triệu ô tô và khoảng 7
triệu xe gắn máy, diện tích mặt bằng sử dụng 8 xe gắn máy bằng 1 xe ô tô,
nhưng họ vẫn có chỗ đậu xe, và giao thông đâu có ùn tắc hay ô nhiễm ! Dĩ
nhiên việc so sánh giữa một nước đang phát triển như nước ta với một nước
phát triển như nước Đức là khập khiễng, nhưng cần nhớ là Việt Nam đang
phấn đấu đến năm 2020, tức là chỉ 13 năm nữa, phải trở thành một nước phát
triển cơ mà.
Yêu cầu đặt ra la phải có chính sách về xây dựng cơ sở hạ tầng giao
thông.bởi nếu không nó vẫn mãi là cái cớ để kìm hãm sự phát triển của nhiều
ngành công nghiệp.
3.3. Lựa chọn công nghệ thích hợp.
3.3.1. Tầm quan trọng của lựa chọn công nghệ thích hợp.
Trong hoàn cảnh hội nhập của nước ta hiện nay,lựa chọn công nghẹ thích hợp
là vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng.Bởi lẽ nếu vì trình độ nhân lực thấp và
thiếu vốn mà các doanh nghiệp sản xuất ô tô của chúng ta khó có thể tồn tại
được.Một bằng chứng cho điều đó là khi chúng ta vưa công bố là đã sản xuất
xong xe công nông thì cũng là lúc chính phủ quyết định nghiêm cấm sử dụng
loại xe đó trên đường.Còn nếu chúng ta nhập những công nghệ tiên tiến trên
25
25