LỜI MỞ ĐẦU
Theo quy hoạch ngành ô tô:công nghiệp ô tô được coi là một ngành
công nghiệp mũi nhọn,nó có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của
nước ta.bởi công nghiệp ô tô thúc đẩy nhiều ngành công nghiệp liên quan
khác như:cao su,luyện kim,chế tạo máy thủy tinh và chất dẻo,xăng
dầu,điện,điện tử…Cứ một đồng vốn bỏ vào công nghiệp ô tô thì cần tám đồng
vốn để sản xuất các ngành công nghiệp phụ trợ.Nó là cơ sở để nâng cao tiện
nghi và mức sống cho con người,đồng thời nó cũng tạo ra hàng triệu việc làm
cho người lao động.
Tuy nhiên ngành công nghiệp ô tô Việt Nam Hiện nay các doanh
nghiệp Việt Nam chưa phải là nhà sản xuất ô tô mà chỉ là nhà lắp ráp ô tô. tuy
nhiều doanh nghiệp trong nước xây dựng dự án đầu tư sản xuất lắp ráp ô tô,
nhưng các dự án này phần lớn đều có quy mô nhỏ, công nghệ còn lạc hậu
(chủ yếu là lắp ráp đơn giản) và khả năng nội địa hoá chưa cao.Mặc dù thời
gian vừa qua chúng ta đều thấy ngành công nghiệp ô tô là ngành được nhà
nước ưu tiên nhiêu nhât bàng chính sách bảo hộ, để rồi bây giờ lại có nhận
định là ngành công nghiệp ô tô Việt Nam là đứa con chiều quá hóa hư.
Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để có ngành công nghiệp ô tô trong khi
Việt Nam hiện nay gần như là chưa có công nghiệp ô tô.Câu trả lời không thể
khác được ngoài việc tăng cường vào phát triển đổi mới công nghê ô tô.Mà
biện pháp huuwx hiệu nhất hiện nay theo tôi đó là chuyển giao công nghệ
trong ngành công nghiệp ô tô.
Với mục đích nghiên cứu tình hình và giải pháp cho ngành công
nghiệp ô tô VIệt Nam, Em xin chọn đề tài Biện pháp nâng cao hiệu quả
chuyển giao công nghệ trong ngành công nghiệp ô tô Việt Nam hiện nay.
1
1. TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHỆ VÀ CHUYỂN GIAO CÔNG TRONG CÔNG
NGHIỆP.NGHỆ
1.1. Khái niệm cơ bản.
1.a.1. Khái niệm công nghệ.
quyết định là công nghê mới.
• Hoạt động chuyển giao công nghệ không chỉ bao gồm chuyển
nhượng phương tiện vật chất kỹ thuật hữu hình mà điều quan
trọng hơn là phảI đào tạo,huấn luyện,để ngườI lao động nắm,sử
dụng thành thạo công nghệ nhập.
1.2 .Vai trò của ngành công nghệ và chuyển giao công nghệ trong công
nghiệp
1.2.1 Vai trò của công nghệ trong công nghiệp.
1.2.1.1 Vai trò của công nghệ trong sản xuất kinh doanh.
• Công nghệ là một yếu tố cấu thành cơ sở vật chất ,tạo nên điều kiện tồn
tại và phát triển của doanh nghiệp.Đặc biệt công nghệ ảnh hưởng trực
tiếp và quyết định tới khả năng sản xuất.Sản phẩm ngày càng đa
dạng ,phong phú để thỏa mãn nhu cầu phát triển của xã hội. Không có
sự phát triển của công nghệ đặc biệt là những công nghệ có hàm lượng
chất xám cao thì không thể đa dạng hóa sản xuất và cung cấp cho thị
trường nhiều sản phẩm có ảnh hưởng quyết định đến nền sản xuất và
đời sống của xã hội hiện đại.
• Công nghệ là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tớI năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp. Tác động này thể hiện trước tiên ở chỗ:Công nghệ và
tiến bộ công nghệ đã làm chất lượng sản phẩm được duy trì và nâng
cao, chi phí sản xuất được tiết kiệm một cách tương đối để giá thành
được giảm bớt ,sản phẩm mới có tính năng công dụng tốt hơn có thể
được đưa vào thiết kế đưa vào sản xuất,tiêu dùng.Hơn nữa ngày nay
công nghệ đã trở thành đốI tượng sản xuất trực tiếp.
• Công nghệ tác động mạnh mẽ tớI việc tạo lập một hình ảnh của doanh
3
nghiệp.Những doanh nghiệp cảI tiến đổI mớI công nghệ liên tục có thể
tạo ra dược sự tin tưởng của khách hàng .
• Công nghệ là nhân tố ảnh hưởng tớI hiệu quả sản xuất kinh doanh của
mỗI doanh nghiệp. Điều này có thể thực hiện được nhờ việc áp dụng
triển.công nghệ tạo ra sự bình đẳng trong việc tiếp cận thông
tin,thúc dẩy mạnh mẽ viêc hình thành một môi trường kinh tế-xã hội
bình đẳng cho tất cả các doanh nghiệp kinh doanh.
Như vậy công nghệ có vai trò rất quan trọng đối với doanh nghiệp kinh
doanh.
1.2.2 Vai trò của chuyển giao công nghệ trong công nghiệp.
Vai trò quan trọng của chuyển giao công nghệ bắt nguồn từ ý nghĩa của
công nghệ đối với các doanh nghiệp công nghiệp. ở nước ta hiện nay tiến bộ
khoa học công nghệ tạo ra khoảng 30-40% trong công nghiệp.
Chuyển giao công nghệ là phương thức ,biện pháp chủ yếu để đổi mới
công nghệ một cách nhanh chóng và có hiệu quả.
Chuyển giao công nghệ trong công nghiệp các doanh nghiệp kế thừa
được các thnhf tựu khoa học của các doanh nghiệp khác,tiết kiệm được chi
phí nghiên cứu, phát triển công nghệ và tránh được rủi ro tỷong các hoạt động
nghiên cứu và phát triển công nghệ.
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có nhiều hạn chế trong việc tự đầu tư
nghiên cứu,phát triển công nghệ do đó không thể triển khai được nhiều hoạt
động nghiên cứu và phát triển công nghệ.
Thông qua chuyển giao công nghệ các doanh nghiệp có thể tiết kiệm
được thời gian,sớm tạo lập được một tiềm lực công nghệ lớn,trang bị được
những công nghệ tiên tiến để nâng cao trình độ sản xuất.
1.3. Các hình thức chuyển giao công nghệ.
1.3.1. chuyển giao doc.
Đây là quá trình tri thức,lý luận cơ sơ được chuyển giao từ các tổ chức
bộ phận,tổ chức nghiên cứu,phát triển(nơi tạo ra công nghệ) sang các bộ phận
5
,tổ chức ứng dụng công nghệ đó.trong quá trình này cứ mỗi bước chuyên giao
công nghệ lại được phát triển tiếp để trở nên hoàn thiện hơn.Có thể khai thác
trên thực tế hoặc có thể mở rông giá trị sử dụng của nó.Hình thức này có thể
mang đến cho nhà sản xuất công nghệ hoàn toàn mới nhưng dộ rủi ro mạo
Tầm quan trọng ấy được thể hiện qua một số vai trò sau:
• Là ngành sản xuất phương tiện đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và
cung cấp phưng tiện cho nghành giao thông vận tải.
• Góp phần giải quyết một số vấn đề xã hội : Giải quyết phần lớn
việc làm cho lượng lao động dư thừa, hạn chế tình trạng thất
nghiệp, tạo việc làm thu nhập cao bình ổn đời sống cho người
lao động.
• Thúc đẩy quá trình tập trung hoá sản xuất và phân công lao độg
xã hội. Từ sự phát triển của nghành công nghiệp ô tô đã hình
thành một số cụm công nghiệp tập trung sản xuất chuyên môn
hoá.ví dụ cum công nghiệp ô tô Nguyên Khê – Đông Anh, cụm
CN ô tô Thủ Đức – TP Hồ Chí Minh.
• Công nghiệp ô tô là một nghành công nghiệp hiện đậi đồi hỏi
công nghệ cao, vì vậy nó thúc đẩy phát triến công nghệ bằng
nhiều con đường khác nhau, có doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu,
cũng có doanh nghiệp thúc đẩy chuyển giao công nghệ hiện đại
từ nước ngoài. Đồng thời cũng góp phần phát triển nguồn nhân
lực và phương thức quản lý.
• Nếu biết cách giải quyết tốt thì ô tô còn góp phần cải thiện môi
trường vì các tiêu chuẩn khí thải cao. Làm đẹp đô thị và hiện đại
hoá cuộc sống, tiện nghi và thoải mái.
• Công nghiệp ô tô thúc đẩy sự phát triển của các ngành công
nghiệp phụ trợ:cứ một đồng vốn bỏ vào ngàh công nghiệp ô tô
thì cần tám đồng vốn cho các ngành công nghiệp phụ trợ.Trong
tương laikhi nhu cầu ô tô tới hàng triệu xe một năm thì thì ngành
7
công nghiệp ô tô và các ngành công nghiệp phụ trợ sẽ đóng vai
trò quan trọng trong nền kinh tế đất nước.
• 1.5.2.Thực trạng của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam hiện nay.
1.5.2.1.Thành tích đạt được của ngành công nghiệp ô tô Việt nam.
1.5.2.2.Những khó khăn của ngành công nghiệp ô tô.
• Kết cấu hạ tầng yếu kém.
Tính đến hết năm 2000, hệ thống đường bộ Việt Nam có 210.447
km, trong đó 169.005 km là đường nông thôn và chỉ có 3.211 km đường đô
thị. Phần lớn lòng đuờng hẹp, chất lượng xấu. Diện tích dành cho giao thông
tính trong các đô thị (bãi đỗ xe, nhà đỗ xe) qá ít ỏi, chỉ có 0.7 % trong khi ở
các đô thị hiện đại là 5- 7%.
• Nhu cầu về ô tô của thi trường Việt Nam tương đối nhỏ.
Chỉ khoảng 60.000 xe/ năm, trong khi đó ASEAN là 2,1 triệu
xe/năm, Trung Quốc là 5,2 triệu xe/ năm, Nhật Bản 5,9 triệu xe/ năm…Đến
nay, số lượng xe ô tô ở Việt Nam mới chỉ đạt 8 xe/ 1000 dân, trong khi ở
Trung Quốc là 24 xe/ 1000 dân, Thái Lan là 152 xe/1000 dân, Hàn Quốc 228
xe/ 1000 dân, Mỹ là 682 xe/ 1000 dân…
CHLB Đức có dân số gần như Việt Nam (khoảng 83 triệu dân),
diện tích cũng gần bằng nhau (khoảng 330.000 km2). Nhưng lượng ô tô ở việt
nam là khoảng 670.000 chiếc và 18 triệu xe gắn máy, trong khi ở Đức có 52
triệu ô tô và khoảng 7 triệu xe gắn máy (diện tích sử dụng mặt bằng một xe ô
tô bằng 8 chiếc xe gắn máy).
Một số nhận xét cho rằng cầu ô tô trên thị trường Việt Nam là cung
cầu giả tạo. Vì giá ô tô quá cao so với khả năng của người tiêu dùng, lượng
lớn ô tô sản xuất ra được mua bằng công quỹ, bằng ngân sách nhà nước
( mua làm xe công). tất nhiên đối tượng này cũng vẫn là khách hàng và họ
được xếp vào “thị trường của tổ chức”chứ không phải “thị trường người tiêu
dùng cá nhân”.Và sức mua của đối tượng này là rất lớn ở bất kì quốc gia đang
phát triển nào cũng được chú trọng, được chăm sóc quá nhiệt thành. Nhưng ở
9
Việt Nam đã quá chú trọng đến đối tượng khách hàng ấy nên làm cho thị
trường bị bóp méo và quá phị thuộc vào các quyết điịnh hành chính. Đây
cũng là nguyên nhận chính cho giá xe cao vì khi khách hàng mua xe bằng
công quỹ thì “không tiếc tiền”, vaf thị trường ô tô bỗng chốc trở lên ảm đạm