LUẬN VĂN:
Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo
định hướng XHCN là giải pháp cơ bản để
chuyển từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn ở
nước Việt Nam hiện nay Lời mở đầu
Nền kinh tế Việt Nam đang chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trường có sự
quản lý của nhà nước. Sự nghiệp đổi mới kinh tế dòi hỏi phải nhanh chóng tiếp cận
những lý luận và thực tiễn quản lý kinh tế của nhiều nước trên thế giới. Quá trình đổi
mới kinh tế cần có những cán bộ kinh tế có kiến thức có phương pháp thích hợp với
kinh tế thị trường.
Vào cuối những năm 80 của thế kỷ 20, về cơ bản nền kinh tế của Việt Nam sản xuất
nhỏ vẫn còn là phổ biến, trạng thái kinh tế tự nhiên hiện vật, tự cung, tự cấp còn chiếm
ưu thế, vận hành theo cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp và có nhiều sai lầm
trong nhận thức về mô hình xã hội chủ nghĩa. Việt Nam đã không nhận thức đúng về
kinh tế thị trường, cho rằng sản xuất hàng hoá là hình thức tổ chức của Chủ nghĩa tư
bản, đồng nhất hình thức sở hữu với hình thức tổ chức kinh tế và thành phần kinh tế, coi
nhẹ qui luật giá trị, qui luật cạnh tranh, chỉ thấy mặt tiêu cực của thị trường.
Xã hội Việt Nam vẫn dựa trên nền tảng của văn minh nông nghiệp lúa nước, nông
thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội
ở Việt Nam Phần I : Lý luận chung
I. Lý luận chung định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế nhiều thành phần
trong thời kỳ quá độ ở việt Nam.
Nói đến quan điểm nền kinh tế nhiều thành phần thì trước hết ta phải hiểu các thành
phần kinh tế ? khái niệm xã hội chủ nghĩa là gì ? và tại sao phải phát triển nền kinh tế
theo định hướng xã hội chủ nghĩa mà không theo một định hướng khác.
1. Khái niệm về xã hội chủ nghĩa
Tại đại hội Đảng lần thứ VIII vào tháng 6 – 1996 đã xác định xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam là một xã hội do nhân dân lao động làm chủ, có nền kinh tế phát triển cao dựa
trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, chủ yếu có nền
văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, con người được giải phóng khỏi áp bức bóc lột mọi
người có quyền làm chủ bản thân mình và làm theo năng lực hưởng theo lao động. Là
xã hội mà người dân có cuộc sống ấm no hạnh phúc, tự do trong khuôn khổ pháp luật,
có điều kiện để phát triển toàn diện cá nhân, các dân tộc trong nước đoàn kết, bình đẳng
và giúp đỡ lẫn nhau để cùng tiến bộ và hợp tác với nhân dân ở các nước trên thế giới.
Theo Mác xã hội chủ nghĩa đáng lẽ phải ra đời từ các nước tư bản văn minh có nền
kinh tế phát triển cao, song do lịch sử Việt Nam đã chịu ách thống trị của phong kiến và
xã hội mới ra đời, đang lớn lên từng bước, nhưng chưa giành toàn thắng. Điều đó có
nghĩa là nó mang tính chất quá độ. V.I. Lênin viết “danh từ quá độ có nghĩa là gì ? Vận
dụng vào kinh tế, có phải nó có nghĩa là trong chế độ hiện nay có những thành phần,
những bộ phận, những mảng của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội không ? Bất cứ
ai cũng đều thừa nhận là có”. (V.I. Lênin : toàn tập, Nxb Tiến Bộ. 1978, t.43, tr248) Lênin cũng chỉ ra rằng, ở các nước đi lên chủ nghĩa xã hội, phổ biến có ba thành
phần kinh tế cơ bản : kinh tế xã hội chủ nghĩa, kinh tế tư bản chủ nghĩa và kinh tế sản
xuất hàng hoá nhỏ.
Vận dụng tư tưởng của Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, Đảng ta khẳng
định, ở nước ta hiện có các thành phần kinh tế sau:
- kinh tế Nhà nước
- kinh tế hợp tác
- kinh tế tư bản Nhà nước
- kinh tế cá thể tiểu chủ
- kinh tế tư bản tư nhân
Sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế nói trên ở nước ta là tất yếu. Tính tất yếu đó
được quy định bởi các điểm sau đây:
- Khi giai cấp công nhân và nhân dân lao động giành được chính quyền và bước vào
con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội thì một đòi hỏi khách quan là phải từng bước xây
dựng cở sở kinh tế - xã hội của chế độ mới - chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu
sản xuất, với hình thức sở hữu Nhà nước xã hội chủ nghĩa và sở hữu tập thể. Kinh tế
Nhà nước, kinh tế hợp tác hình thành trên cơ sở chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa về tư
liệu sản xuất.
- Do lực lượng sản xuất phát triển không đồng đều giữa các vùng, các ngành và trong
nội bộ từng vùng, do tính chất quá độ từ một nước thuộc địa nửa phong kiến đi lên chủ
nghĩa xã hội, không qua chế độ tư bản chủ nghĩa, nước ta tất yếu còn kinh tế tư bản tư
nhân , kinh tế cá thể của nông dân, thợ thủ công, người làm thương nghiệp, dịch vụ và
kinh tế tự nhiên.
sống của nhân dân lao động gặp nhiều khó khăn. Đổi mới kinh tế không chỉ thừa nhận sự tồn tại khách quan nhiều thành phần kinh tế,
mà còn phải thực hiện nhất quán chính sách cơ cấu kinh tế nhiều thành phần theo định
hướng xã hội chủ nghĩa.
Tóm lại :
Tính chất nhiều thành phần kinh tế là đặc trưng, là đặc điểm bản chất mang tính
quy luật khách quan trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Vấn đề không phải chỉ là
sự thừa nhận đó mà mấu chốt là phải thực hiện chính sách nhiều thành phần kinh tế
trong đời sống kinh tế hiện thực, coi đó là nhiệm vụ có tính chất chiến lược lâu dài.
2. Xuất phát từ thực trạng của nền kinh tế Việt Nam
Việt Nam bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội sau khi hoàn thành cuộc đấu
tranh chống xâm lược, đất nước đã thống nhất. Vào thời điểm đó nền kinh tế Việt Nam
đã đạt được một số thành tựu nhưng hết sức nhỏ bé và còn tồn tại nhiều yếu điểm, hạn
chế cần phải khắc phục. cụ thể :
a. Một số thành tựu đạt được :
Khi bước vào thời kỳ quá độ, nước ta cơ bản đã xây dựng được một nền kinh tế quốc
doanh có năng lực đáng kể và giữ vai trò nòng cốt, chủ chốt trong nền kinh tế. Trước
thời kỳ quá độ và cả trong thời gian đầu của thời kỳ quá độ nước ta chủ trương xây
dựng một nền kinh tế thuần khiết XHCN, nghĩa là chỉ tập chung phát triển những thành
phần kinh tế XHCN, ra sức quốc hữu hóa các doanh nghiệp tư nhân và các thành phần
kinh tế phi XHCN. Do vậy, Đảng và nhà nước tập chung phát triển kinh tế quốc doanh,
kinh tế tập thể và đã đạt được những thành công nhất định. Đến năm 1975, nước ta có
hệ thống nông trường quốc doanh với số lượng lớn, thu hút hàng trăm nghìn công nhân
và hơn 3000 máy kéo. Các ngành trong kinh tế quốc doanh như công nghiệp, nông
nghiệp, giao thông vận tải … đều được chú trọng phát triển. Nhiều nghành công nghiệp
như công nghiệp điện đã có những đóng góp đáng kể tạo ra điện năng phục vụ cuộc
sống và sản xuất. Nhờ đó cuộc sống của người dân từng bước được nâng cao.
tỷ trọng ngày càng lớn. Nước ta chưa có thị trường theo đúng nghĩa, năng xuất lao động
còn thấp, lao động thủ công vẫn chiếm tỷ trọng lớn. Việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào
sản xuất vẫn chưa được chú trọng đúng mức. Do vậy, năng suất lao động trong các
ngành còn thấp, sản lượng sản xuất ra chưa nhiều và chưa đáp ứng đủ nhu cầu. Vì thế,
thu nhập của người lao động còn thấp, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn. Ngân
sách nhà nước không lớn do đó không đủ khả năng để đầu tư phát triên các ngành kinh
tế đúng mức và tương xứng với tiềm năng.
Do những thiếu sót trong những chính sách và cơ chế quản lý kinh tế tập chung
trong thời kỳ này, chúng ta mới chỉ chú trọng phát triển kinh tế quốc doanh, kinh tế tập
thể còn các thành phần kinh tế khác chưa được coi trọng vì thế kinh tế nước ta phát triển
không cân đối. Chúng ta chưa thấy được vai trò của, vị trí và đóng góp của các thành
phần kinh tế này là rất quan trọng trong giai đoạn đầu để tạo cơ sở vật chất - kỹ thuật
cho chủ nghĩa xã hội, vì thế chúng chưa được phát triển tương xứng với vị trí và tiềm
năng vốn có của mình.
Thêm vào đó trình độ của người lao động còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu phát
triển kinh tế. Trình độ các cán bộ quản lý cũng chưa đáp ứng được đòi hỏi. Nhận thức
về nền kinh tế thị trường chưa đầy đủ, chưa đúng đắn do vậy kinh tế thị trường chưa
phát triển. Việc giao lưu buôn bán, mở rộng hợp tác với các nước khác trong vùng chưa
được coi trọng đúng mức và vì thế chúng ta chưa khai thác hết tiềm năng để phát triển
kinh tế.
Bên cạnh đó, việc áp dụng mô hình kinh tế chỉ huy tập chung quan liêu bao cấp cũng
đã gây tình trạng trì trệ cho nền kinh tế nước ta trong một thời gian dài trước khi bước
vào thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Bộ máy tổ chức hành chính của nước ta còn
hết sức cồng kềnh, quan liêu, bao cấp, hoạt động không hiệu quả. Các cơ chế chính sách
đã không khuyến khích được mọi người tích cực lao động
Nhiều chính sách kinh tế đưa ra tỏ ra không hợp lý và kém hiệu quả. Chẳng hạn như
chính sách chuyển hàng loạt HTX nông nghiệp bậc thấp lên bậc cao, từ quy mô thôn lên quy mô xã mà chưa được chuẩn bị kỹ về mặt kỹ thuật, tư tưởng và tổ chức cán bộ,
Trong điều kiện một nước thuộc địa, nửa phong kiến đi lên chủ nghĩa xã hội, không
qua chế độ tư bản chủ nghĩa, kết cấu kinh tế - xã hội trong thời kỳ quá độ càng phức
tạp: nó vừa có những quan hệ tiền tư bản chủ nghĩa , vừa có những quan hệ xã hội chủ
nghĩa. Đảng ta xác định nên kinh tế ở nước ta hiện nay có các thành phần kinh sau đây:
a. Kinh tế nhà nước :
Là thành phần kinh tế bao gồm các doanh nghiệp nhà nước các xí nghiệp quốc gia
và tài sản thuộc quyền sở hữu nhà nước như đất đai, hầm mỏ, rừng, biển ngân sách, các
quỹ dự trữ ngân hàng nhà nước
Kinh tế nhà nước rộng và mạnh hơn doanh nghiệp nhà nước phân biệt được hai
phạm trù này nhận thức đầy đủ vai trò kinh tế nhà nước là một bước phát triển về nhận
thức thực tiễn nền kinh tế nước ta trong quá trình đổi mới.
Kinh tế Nhà nước dựa trên hình thức sở hữu Nhà nước về tư liệu sản xuất .
Kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân, làm đòn bẩy đẩy
nhanh tăng trưởng kinh tế và giả quyết những vấn đề xã hội, mở đường, hướng dẫn, hỗ
trợ các thành phần kinh tế khác cùng phát triển, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà
nước thược hiện chức năng điều tiết và quản lý vĩ mô, tạo nền tảng cho chế độ xã hội
mới.
b. Kinh tế tập thể:
Là hình thức liên kết tự nguyện của những người lao động nhằm kết hợp sức mạnh
của từng thành viên với sức mạnh tập thể để giải quyết có hiệu quả hơn những vấn đề
của sản xuất, kinh doanh và đời sống.
Kinh tế tập thể phát triển với nhiều hình thức hợp tác đa dạng từ thấp đến cao từ tổ
nhóm hợp tác đến hợp tác xã theo tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi, quản lý dân
chủ thực hiện đúng luật hợp tác xã. Kinh tế tập thể được phát triển, rộng rãi và đa dạng trong các ngành nghề ở nông thôn và thành thị, nó giữ vai trò quan trọng trong nền kinh
tế quốc dân. Trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, kinh
tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền
kinh tế quốc dân.
kinh tế này còn có vai trò đáng kể xét về phương diện phát triển lực lượng sản xuất, xã
hội hoá sản xuất cũng như về phương diện giải quyết các vấn đề xã hội.
Các thành phần kinh tế có mối quan hệ và tác động qua lại lẫn nhau, hoạt động đan
xen nhau vào trong cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất. Vai trò, tỷ lệ của mỗi thành
phần kinh tế phụ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, hiệu quả sản xuất
- kinh doanh và sự đóng góp của chúng vào sự phát triển chung của nền kinh tế.
2. Mối quan hệ giữa các thành phần kinh tế:
Nền kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội bao gồm nhiều thành phần
khác nhau, trong đó:
- Mỗi thành phần kinh tế dựa trên một hình thức sở hữu nhất định về tư liệu sản
xuất. Các hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất tuy có sự độc lập tương đối và có bản
chất riêng, nhưng trong hoạt động sản xuất - kinh doanh không có sự ngăn cách, có thể
hỗn hợp, đan kết với nhau (cùng một chủ sở hữu có thể tham gia nhiều quan hệ sở hữu,
cùng một đối tượng sở hữu có nhiều quan hệ sở hữu ), hình thành các tổ chức kinh
doanh đa dạng.
- Trong nền kinh tế quốc dân thống nhất do Nhà nước hướng dẫn, điều tiết, kiểm
soát, cùng với việc kinh tế Nhà nước nắm giữ vai trò chủ đạo, các chủ thể sản xuất -
kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế vừa hợp tác với nhau, bỏ sung cho nhau, vừa
cạnh tranh bình đẳng trước pháp luật.
Tuy vậy các thành phần kinh tế ấy đều nằm trong tổng thể nền kinh tế quốc dân, có
mối liên tương tác và mâu thuẫn với nhau. Tính thống nhất biểu hiện ở chỗ : mỗi thành phần kinh tế là một bộ phận của nền
kinh tế xã hội, phục vụ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, các thành phần kinh tế
nằm trong hệ thống phân công lao động xã hội, liên hệ phụ thuộc lẫn nhau về sản xuất
và tiêu dùng. Đó là sụ thống nhất “không hữu cơ” ; sự thống nhất đó không phải tự
nhiên mà có mà phải qua hợp tác và đấu tranh để hợp tác tốt hơn.
Các thành phần kinh tế mang bản chất kinh tế và quan hệ kinh tế khác nhau. Vì
vậy giữa chúng có sự mâu thuẫn với nhau : mâu thuẫn giữa tư hữu và công hữu, giữa
sản xuất phát triển ; tạo nguồn lực để đẩy nhanh nhịp độ tăng trưởng của nền kinh tế,
bảo đảm cho nền kinh tế hoạt động năng động, đáp ứng nhu cầu của sản xuất, tiêu dùng
trong nước, hoà nhập vào thị trường thế giới với hiệu quả kinh tế xá hội cao.
Chỉ có như vậy mới bảo đảm sự phát triển kinh tế ở nước ta theo định hướng xã hội
chủ nghĩa,mới giải phóng sức sản xuất, khơi dậy mọi tiềm năng kinh tế, động viên và
tạo điều kiện cho mọi thành phân kinh tế, mọi người , mọi gia đình… làm giàu cho
mình và cho đất nước.
Phần II
Phương hướng nhằm phát triển kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ ở
nước ta
I. Phương hướng chung :
+ Có cơ chế và chính sách đúng đắn
+ Phải xây dựng các hành lang pháp lý tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các
thành phần kinh tế trước pháp luật. + Phải tăng cường và phát triển thành phần kinh tế nhà nước để nó thực sự giữ vai
trò chủ đạo định hướng nền kinh tế đi nên XHCN.
+ Xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam
Đối với thành phần kinh tế nhà nước cần tiếp tục khẳng định vai trò chủ đạo của
mình đối với nền kinh tế, thành phần kinh tế tập thể cũng được tạo điều kiện cho phát
triển để thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của mình các thành phần kinh tế khác : mỗi
thành phần kinh tế có vai trò nhiệm vụ và thế mạnh riêng của mình do đó cần phải phát
huy tối đa năng lực hiện có tận dụng triệt để ưu thế của mình để phát triển đi lên.
II. Phương hướng và giải pháp cụ thể đối với từng thành phần kinh tế :
Xuất phát từ thực trạng của nền kinh tế và từ các quan điểm cơ bản nêu trên, có thể
tìm các bước được cụ để nhằm phát triển nền kinh tế nhiều thành phần của nước ta bằng
Mặc dù nhà nước khuyến khích phát triển nhưng tốc độ tăng chậm chạp và không tương
xứng với tiềm năng hiện có. Muốn phát triển sản xuất thì nguyên lý muôn thủa là phải
tăng xuất đầu tư, trước hết là đầu tư về tài chính. Nguồn tài chính này trong dân khá lớn
nhưng chưa được sử dụng để phát triển sản xuất, để các nguồn này có thể góp phần tăng
thêm suất đầu tư cho sản xuất kinh doanh cần phải có hàng loạt các biện pháp.
Có thể bắt đầu ngay từ tên gọi. Không nên xuất phát từ KTQD để đặt tên cho các
thành phần kinh tế (TPKT) khác, gọi là “ngoài quốc doanh”. Trong nền kinh tế nhiều
thành phần cho dù kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo thì vẫn phải đảm bảo tính
bình đẳng của các thành phần kinh tế và thực chất mỗi thành phần kinh tế là một bộ
phận cấu thành của nền kinh tế quốc dân thống nhất, không có bộ phận này là “trong”
còn các bộ phận khác là “ngoài”. Thay đổi cách gọi cũng là giải pháp xoá đi tâm lý tự ti,
bi quan của các thành phần kinh tế khác mà một thời họ đã bị chèn ép, lãng quên.
Việc cải tạo các thành phần kinh tế phải được tiến hành theo nguyên tắc tự nguyện
và trên cơ sở hoàn cảnh XHH thực tế. Giải pháp đạt hiệu quả cao chính là không cô lập
các thành phần kinh tế với nhau mà phải sử dụng các hình thức hợp doanh, đan xen các hệ sử dụng khác nhau vào trong cùng một lĩnh vực, thậm chí trong cùng một công ti, xí
nghiệp. Các xí nghiệp hợp doanh giữa nhà nước và tư nhân, giữa hợp tác xã (HTX) và
tư nhân, giữa nhà nước và HTX, tư nhân cần phải trở thành một trong các hình thức cơ
bản tổ chức các đơn vị sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế nhiều thành phần. Trong
sản xuất nông nghiệp, do tính đặc thù của nó nên ngoài việc phải giải quyết tốt quyền sở
hữu ruộng đất lâu dài cho hộ nông dân. còn phải chuyển kinh tế HTX hiện nay thành
kinh tế nông trại. Kinh tế hộ nhận khoán là cơ sở hình thành kinh tế nông trại và các tổ
chức nông trại. Đây cũng đang là xu hướng chung của nền nông nghiệp thế giới. Trong
điều kiện nước ta hiện nay, không gian tổ chức các nông trại lớn và chưa vội hợp tác
nhiều nông trại với nhau. Có thể mỗi nhóm chỉ nên 5-20 hộ tự nguyện góp ruộng đất,
lao động và tiền vốn để sản xuất kinh doanh. Ngoài ra còn có các hình thức hợp tác
khác như : Các nông trại chung nhau mua “đầu vào” hoặc chung nhau bản hoặc chung
nhau bản “đầu ra” hoặc cũng thể hợp tác kinh doanh. Tổ chức nông trại và sự hợp tác
số người hiểu biết về thông tin chưa nhiều. Để đổi mới hoạt động này phải có hoạt động
thông tin kinh tế là một ngành dịch vụ, trong đó tất có các thành phần kinh tế cá thể và
cần thiết tham gia.
Xây dựng đội ngũ các doanh nghiệp giỏi, các nhà quản lý vĩ mô có tài, đồng thời
liên kết họ lại. Cái thiếu hụt lớn nhất của chúng ta hiện nay là ở chỗ : Chúng ta đội ngũ
cán bộ khá đông đảo nhưng chất lượng không phù hợp với quá trình đổi mới kinh tế. Có
một bộ phận quá quen với cơ chế quản lý cũ, đến nay hoàn toàn không có đủ khả năng
thích ứng với cơ chế mới, một bộ phận khác chưa được đào tạo trước khi bố trí vào các
vị trí then chốt trong các đơn vị sản xuất kinh doanh. Tóm lại là đại bộ phận số cán bộ
hiện có phải đựợc bố trí, sắp xếp và đào tạo lại. Về chính sách sử dụng cán bộ thì mạnh
dạn phải được coi là một trong những phương châm chủ yếu nếu không muốn nói là số
một. Nhanh chóng phổ cập nghề cho người lao động. Mỗi năm nước ta có trên một triệu
thanh niên đến tuổi lao động. Hệ thống trường chuyên nghiệp hiện mỗi năm chỉ đào tạo
được 20 vạn người, chủ yếu là lao động chính qui, dài hạn theo yêu cầu của nhà nước.
Như vậy phần lớn thanh niên đến tuổi lao động không được đào tạo nghề, do đó vấn đề
tiếp thu đào tạo và bồi dưỡng họ phải được đặt ra. Hướng ưu tiên, đầu tư của thế giới
hiện nay là lao động có kĩ thuật chứ không phải là sử dụng lao động không có kĩ thuật.
Giá cả sức lao động sẽ như những năm trước đây, những sản phẩm hàn hoá có thị
trường lớn là sản phẩm có hàm lựơng chất xám và khoa học kỹ thuật cao.
4. Tạp chí Cộng Sản. Mục Lục
Lời mở đầu 1
Phần I : Lý luận chung 3
I. Lý luận chung định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế nhiều thành phần
trong thời kỳ quá độ ở việt Nam 3
1. Khái niệm về xã hội chủ nghĩa 3
2. Việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng XHCN 3
III. Tín
h tất yếu khách quan của sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế trong thời kỳ quá
độ ở nước ta 4
1. Xuất phát từ đặc điểm của thời kỳ quá độ 4
2. Xuất phát từ thực trạng của nền kinh tế Việt Nam 7
III. Cơ cấu sở hữu và các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ: 11
1. Đặc trưng, vị trí và vai trò của các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ
ở nước ta 11
2. Mối quan hệ giữa các thành phần kinh tế 13
Phần II : Phương hướng nhằm phát triển kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ
quá độ ở nước ta 16
I. Phương hướng chung 16
II. Phương hướng và giải pháp cụ thể đối với từng thành phần kinh tế 16
Kết luận 21