A.ĐẶT VẤN ĐỀ
Hơn 20 năm qua, trong thời kì đổi mới, vấn đề phát triển nền kinh tế
nhiều thành phần được coi là một nhu cầu tất yếu đối với Việt Nam. Từ nhận
thức đúng đắn về thời kì quá độ, Đảng đã quyết định đổi mới nền kinh tế, coi
nền kinh tế nhiều thành phần là đặc trưng của thời kì quá độ. Đại hội VI đã vận
dụng đúng đắn quan điểm của Lênin về kinh tế nhiều thành phần. Chính Lênin
cũng cho rằng tên nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa là để khẳng định hướng tiến
lên chứ điều đó chưa có nghĩa là nền kinh tế của ta đã hoàn toàn là kinh tế xã hội
chủ nghĩa. Vì vậy, ở nước ta cần thiết phải có nhiều thành phần kinh tế phát
triển bình đẳng trước pháp luật, đó là yêu cầu khách quan. Đại hội VI khẳng
định nước ta có các thành phần: kinh tế xã hội chủ nghĩa bao gồm khu vực quốc
doanh và khu vực tập thể; kinh tế tiểu sản xuất hàng hóa; kinh tế tư bản tư nhân;
kinh tế tư bản nhà nước; kinh tế tự nhiên, tự túc tự cấp. Đại hội IX bổ sung thêm
một thành phần nữa là kinh tế 100% vốn nước ngoài. Trong quá trình đổi mới,
20 năm qua, Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài
chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần. Trong đó, kinh tế
tư nhân là một bộ phận giữ vai trò cực kì quan trọng trong cơ cấu này.
Kinh tế tư nhân không chỉ có tiếng nói quyết định đến sức mạnh kinh tế
của hầu hết các quốc gia mà còn trở thành một lực lượng kinh tế có ý nghĩa
chính trị toàn cầu. Phát triển khu vực kinh tế tư nhân cũng có nghĩa là bảo tồn
tính đa dạng phong phú của đời sống kinh tế, xem nó như là nguồn gốc của mọi
sự phát triển.
Ngày nay sở hữu tư nhân đã phát triển lên một trình độ mới về chất, quy mô sở
hữu của nhiều công ty ngày càng đồ sộ và nhiều công ty tạo ra lượng tài sản có
giá trị lớn hơn cả GDP của một số quốc gia. Cùng với quá trình phát triển kinh
tế, nhân loại càng ngày càng sáng tạo ra nhiều loại hình sở hữu mới. Ngoài sở
hữu tài sản hữu hình, người ta không chỉ sở hữu những tài sản vô hình như các
1
nhãn hiệu hàng hóa, bí quyết công nghệ mà còn sở hữu cả không gian ảo trên
mạng Internet và tài sản ảo là những thông tin đang tràn ngập trên mạng thông
tin toàn cầu. Trong nền kinh tế thị trường mở, quốc gia nào có nền kinh tế tư
nghiệp của tư nhân, xoá bỏ mọi rào cản, tạo tâm lý xã hội và môi trường kinh
doanh thuận lợi cho các loại hình doanh nghiệp của tư nhân phát triển không hạn
chế quy mô trong mọi ngành nghề, lĩnh vực, kể cả các lĩnh vực sản xuất kinh
doanh quan trọng của nền kinh tế mà pháp luật không cấm. Như vậy có thể thấy
rằng, cho đến nay, Đảng và Nhà nước đã khẳng định: sự tồn tại của kinh tế tư
nhân không những là sự tồn tại khách quan mà chúng ta phải chấp nhận, mà
trong bối cảnh hiện nay, sự tồn tại đó đang đóng một vai trò quan trọng trong sự
nghiệp phát triển kinh tế.
Trong khuôn khổ bài tiểu luận này, em xin được đi sâu tập trung vào một
số nội dung về những vấn đề chung về kinh tế tư nhân, thực trạng của kinh tế tư
nhân và đề xuất một số giải pháp thúc đẩy sự phát triển của kinh tế tư nhân.
3
B. NI DUNG
I. Nhng vn lớ lun v kinh t t nhõn.
1. Quan nim v c im ca kinh t t nhõn.
Kinh tế t nhân là khái niệm chỉ khu vực kinh tế t nhân, bao gồm các hình
thức tổ chức sản xuất kinh doanh thuộc nhóm các thành phần kinh tế t nhân. Tiêu
thức cơ bản để xác định một thành phần kinh tế, một hình thức tổ chức sản xuất
nào đó có thuộc kinh tế t nhân hay không là quan hệ sản xuất, trớc hết là quan hệ
sở hữu. Theo đó kinh tế t nhân là một khu vực kinh tế dựa trên sở hữu t nhân về t
liệu sản xuất (hoặc vốn) với các hình thức tổ chức kinh doanh nh doanh nghiêp,
công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp doanh, các cơ sở kinh
tế cá thể, tiểu chủ và bộ phận các doanh nghiệp của nớc ngoài đầu t vào Việt Nam.
Kinh tế t nhân không phải là một thành phần kinh tế mà là phạm trù để chỉ
nhóm thành phần kinh tế vừa có những đặc trng chung, lại vừa có bản chất khác
nhau. Có thể xem xét kinh tế t nhân trên các quan hệ kinh tế cơ bản sau đây:
Quan hệ sở hữu: Kinh tế t nhân thể hiện quan hệ sở hữu t nhân về t liệu sản
xuất(hoặc vốn) cũng nh phần của cải vật chất đợc tạo ra từ t liêu sản xuất(hay vốn)
đó. Nó bao gồm sở hữu t nhân nhỏ, là sở hữu của những ngời lao động tự do, sản
xuất ra sản phẩm nhờ lao động của chính mình và các thành viên trong gia
hành sản xuất và lu thông hàng hoá một cách bình thờng, nếu không thực hiện
những mối quan hệ kinh tế trong nội bộ từng thành phần và giữa các thành phần
kinh tế với nhau, giữa khu vực kinh tế nhà nớc và khu vực kinh tế t nhân. Các
thành phần kinh tế, các khu vực kinh tế chỉ có thể tồn tại và phát triển trong mối
quan hệ phụ thuộc vào nhau qua các khâu của quá trình tái sản xuất xã hội. Các
thành phần kinh tế, khu vực kinh tế vừa cạnh tranh với nhau, vừa hợp tác, hỗ trợ,
thúc đẩy nhau, là tiền đề phát triển của nhau theo cơ chế thị trờng trong nền kinh
tế thống nhất.
5
Hai là, phát triển kinh tế t nhân phải kết hợp với các mục tiêu độc lập tự
chủ, xã hội chủ nghĩa trong cơ chế thị trờng, mở cửa, hội nhập quốc tế. Khụng
th ph nhn rng kinh t t nhõn úng gúp mt phn khụng nh vo nn kinh t
quc dõn, tuy nhiờn khụng phi vỡ th m cú th cho kinh t t nhõn t do
phỏt trin m thiu s qun lớ ca Nh nc. Thiu s nh hng ca Nh
nc, các thành phần kinh tế t bản t nhân, cá thể và tiểu chủ, bộ phận doanh
nghiệp của các nhà t bản t nhân nớc ngoài đầu t xây dựng(100% hoặc góp vốn với
các cơ sở sản xuất kinh doanh t nhân trong nớc) vốn thuộc phạm trù kinh tế sẽ
chệch hớng, tự phát sang chủ nghĩa t bản. éi vi chỳng ta, trong bi cnh hi
nhp kinh t quc t hin nay, cuc u tranh bo v c lp t ch v kinh
t, nhỡn rng hn l bo v s la chn con ng phỏt trin ca mỡnh, nht thit
Vit Nam khụng th coi nh, cng khụng th thiu vai trũ ch o ca kinh t
nh nc. éú l vn sinh t, mang tớnh quy lut ca s nghip xõy dng ch
ngha xó hi. Thc t cho thy, nu Vit Nam khụng cú khu vc kinh t nh
nc mnh, s khụng cú nhng thnh tu v hi nhp kinh t quc t kh
quan nh ó thy; ng thi, vn gi vng s n nh v phỏt trin v kinh t,
chớnh tr, xó hi qua mi chng ng phc tp v y cam go ca cụng cuc
i mi hn 20 nm va qua.
Ba là, phát triển kinh tế t nhân phải nhằm đạt tới hệ các mục tiêu: huy
động vốn, tạo việc làm, nâng cao thu nhập của dân c, tăng tổng sản phẩm xã hội
và tăng thu cho ngân sách nhà nớc. Quan điểm thừa nhận sự tồn tại của khu vực
triển nền kinh tế quốc dân, tạo tiền đề về vật chất cho CNXH.
Tóm lại, kinh tế tư nhân là hình thức kinh tế tự nhiên của quá trình phát
triển xã hội, tồn tại và phát triển ngoài ý muốn chủ quan của những nhà chính trị
cho dù họ đại diện cho bất kỳ lực lượng xã hội nào, hoặc nhân danh ai, hoặc với
mục đích nhân đạo hay cao cả đến đâu chăng nữa. Chừng nào con người còn cần
đến kinh tế tư nhân như là một phương tiện hữu hiệu để xây dựng và kiến tạo
7
cuộc sống của mình và đồng loại, thì kinh tế tư nhân còn tồn tại như một hành
trang của con người trong tiến trình đi tới tương lai.
II. Đánh giá thực trạng của kinh tế tư nhân trong quá trình hình thành và
phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
1. Tiến trình phát triển.
a. Trước thời kì đổi mới.
Trước thời kì đổi mới, Đảng và Nhà nước ta chủ trương cải tạo XHCN
với công nghiệp và thương nghiệp tư bản tư doanh, đồng thời đầu tư xây dựng
mới các xí nghiệp quốc doanh.
Sau khi thống nhất đất nước, ở miền Bắc, công cuộc cải tạo XHCN đối
với tư bản tư doanh đã cơ bản hoàn thành, gần 100% hộ tư sản thuộc diện cải tạo
đã được cải tạo, 45,6% số tiểu thương vào hợp tác xã. Còn ở miền Nam, nghị
quyết Đại hội Đảng khóa IV đặt ra mục tiêu đến năm 1980 phải hoàn thành cơ
bản công cuộc cải tạo XHCN đối với công thương nghiệp, tháng 1/1977, Bộ
Chính trị đã quyết định: hoàn thành về cơ bản nhiệm vụ cải tạo XHCN đối với
công thương nghiệp tư bản tư doanh trong 2 năm 1977 – 1978, trước hết là xóa
bỏ thương nghiệp tư bản chủ nghĩa. Thực hiện chủ trương đó, công cuộc cải tạo
công nghiệp tư bản tư doanh ở miền Nam đã được đẩy nhanh và thực hiện triệt
để.Về thương nghiệp, Đảng ta chủ trương “xóa bỏ ngay thương nghiệp tư bản tư
doanh” bằng nhiều biện pháp như: kiểm kê, tịch thu hàng hóa, đánh thuế siêu
ngạch đối với tư sản thương nghiệp, tịch thu các cơ sở kinh doanh của họ. Đến
năm 1978, Nhà nước ta tuyên bố đã hoàn thành công cuộc cải tạo tư sản công
thương nghiệp ở miền Nam.
nông dân, kinh tế trang trại, các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động có tính chất
công nghiệp ở nông thôn phát triển mạnh, tạo nên sự thay đổi to lớn bộ mặt của
nhiều vùng nông thôn. Nếu nh năm 1990, số lợng các hộ cá thể có khoảng trên 9,4
triệu hộ thì đén năm 1995 đã lên tới 11974595 hộ hoạt động trên gần 9000 xã
trong khắp 7 vùng sinh thái. Trong đó, số hộ nông nghiệp là 9528896 hộ (chiếm
9
79,58%); hộ lâm nghiệp là 18456 hộ (chiếm 0,15%); hộ thuỷ sản là 229909 hộ
(chiếm 1,92%); hộ công nghiệp là 160370 hộ(chiếm 1,34%); hộ xây dựng là
31914 hộ(chiếm 0,27%); hộ thơng nghiệp là 384272 hộ (chiếm 3,21%), hộ dịch
vụ là 14165 hộ(chiếm 1,18%); hộ khác là 1479341(chiếm 12,35%). Trong số các
hộ đó, nhóm hộ nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất(79,58%), nhng nếu hiểu
nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm cả nông, lâm, ng nghiệp thì hộ nông nghiệp
còn chiếm tỷ trọng lớn hơn nữa: 81,65%. Đây thực sự là lực lợng kinh tế mạnh thể
hiện trên các mặt sau đây:
Chỉ trong thời gian ngắn, các hộ nông dân đã mua sắm rất nhiều trang thiết
bị hiện đại, tăng cờng cơ sở vật chất kỹ thuật cho nông nghiệp lên một bớc. Nông
dân đã bỏ vốn lập trên 110000 trang trại trong đó riêng các tỉnh phía Bắc 67000
trang trại. Các trang trại đã tạo ra một lợng hàng hoá lớn với tỷ trọng hàng hoá là
86,74% tạo vic làm cho 60 vạn lao động.
Có thể nói khu vực kinh tế t nhân trong nông nghiệp thời gian qua đã góp
phần xứng đáng vào thành tích của ngành nông nghiệp nói chung: tạo ra gần 1/4
tổng sản lợng của Việt Nam, và 30% kim ngạch hàng xuất khẩu(Bao gồm cả thuỷ
sản). Theo tổng cục thống kê, nếu nh năm 1990 nông nghiệp chiếm 32% GDP của
Việt Nam thì năm 1999 nông nghiệp chiếm tỷ trọng là 24% GDP.
- Trong lĩnh vực công nghiệp:
Với cơ chế mới, khu vực kinh tế t nhân cũng thâm nhập mạnh mẽ vào lĩnh
vực công nghiệp. Toàn bộ khu vực kinh tế t nhân trong công nghiệp (bao gồm các
doanh nghiệp hộ gia đình, các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nớc, các doanh
nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài) đã đa phần đóng góp vào sản lợng công nghiệp cả
nớc từ 37% năm 1990 lên 58% năm 2000, trong đó đóng góp quan trọng nhất là