Biện pháp nâng cao hiệu quả chuyển giao công nghệ trong ngành công nghiệp ô tô Việt Nam hiện nay. - Pdf 25

LỜI MỞ ĐẦU
Theo quy hoạch ngành ô tô:công nghiệp ô tô được coi là một
ngành công nghiệp mũi nhọn,nó có vai trò quan trọng trong sự phát
triển kinh tế của nước ta.bởi công nghiệp ô tô thúc đẩy nhiều ngành
công nghiệp liên quan khác như:cao su,luyện kim,chế tạo máy thủy
tinh và chất dẻo,xăng dầu,điện,điện tử…Cứ một đồng vốn bỏ vào công
nghiệp ô tô thì cần tám đồng vốn để sản xuất các ngành công nghiệp
phụ trợ.Nó là cơ sở để nâng cao tiện nghi và mức sống cho con
người,đồng thời nó cũng tạo ra hàng triệu việc làm cho người lao
động.
Tuy nhiên ngành công nghiệp ô tô Việt Nam Hiện nay các doanh
nghiệp Việt Nam chưa phải là nhà sản xuất ô tô mà chỉ là nhà lắp ráp
ô tô. tuy nhiều doanh nghiệp trong nước xây dựng dự án đầu tư sản
xuất lắp ráp ô tô, nhưng các dự án này phần lớn đều có quy mô nhỏ,
công nghệ còn lạc hậu (chủ yếu là lắp ráp đơn giản) và khả năng nội
địa hoá chưa cao.Mặc dù thời gian vừa qua chúng ta đều thấy ngành
công nghiệp ô tô là ngành được nhà nước ưu tiên nhiêu nhât bàng
chính sách bảo hộ, để rồi bây giờ lại có nhận định là ngành công
nghiệp ô tô Việt Nam là đứa con chiều quá hóa hư.
Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để có ngành công nghiệp ô tô
trong khi Việt Nam hiện nay gần như là chưa có công nghiệp ô tô.Câu
trả lời không thể khác được ngoài việc tăng cường vào phát triển đổi
mới công nghê ô tô.Mà biện pháp huuwx hiệu nhất hiện nay theo tôi
đó là chuyển giao công nghệ trong ngành công nghiệp ô tô.
Với mục đích nghiên cứu tình hình và giải pháp cho ngành công
nghiệp ô tô VIệt Nam, Em xin chọn đề tài
Biện pháp nâng cao hiệu
1
1
quả chuyển giao công nghệ trong ngành công nghiệp ô tô Việt Nam
hiện nay

• Tổ chức thể hiện trong thiết kế tổ chức,liên kết, phốI hợp
quản lý các bộ phận trong hệ thống.
• Con ngườI được đào tạo chuyên môn,có kinh nghiệm và kỹ
năng ,kỹ xảo về nghề nghiệp.
1.a.2.
Khái niệm chuyển giao công nghệ.
Chuyển giao công nghệ là hoạt động nhằm đưa công nghệ
3
3
tiên tiến, công nghệ hiện đại vào sản xuất thông qua việc áp dụng kết
quả nghiên cứu khoa học vào sản xuất hoặc có thể áp dụng một công
nghệ đã hoàn thiện từ doanh nghiệp này sang doanh nghiệp khác.
Chuyển giao công nghệ là sự mua bán công nghệ và là quá trình đào
tạo huấn luyện để sử dụng công nghệ được tiếp nhận.
Đặc điểm của chuyển giao công nghệ bao gồm:
• Hoạt động chuyển giao công nghệ có hai bên tham gia và yếu
tố quyết định là công nghê mới.
• Hoạt động chuyển giao công nghệ không chỉ bao gồm chuyển
nhượng phương tiện vật chất kỹ thuật hữu hình mà điều quan trọng
hơn là phảI đào tạo,huấn luyện,để ngườI lao động nắm,sử dụng
thành thạo công nghệ nhập.
1.2 .Vai trò của ngành công nghệ và chuyển giao công
nghệ trong công nghiệp
1.2.1
Vai trò của công nghệ trong công nghiệp.
1.2.1.1
Vai trò của công nghệ trong sản xuất kinh doanh
.
• Công nghệ là một yếu tố cấu thành cơ sở vật chất ,tạo nên điều kiện
tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.Đặc biệt công nghệ ảnh hưởng

M:đầu vào vật chất.
C:vốn.
A:thể hiện tác động tổng hợp của các nhân tố tổ chức công
nghệ.
Như vậy có thể thấy rằng tiến bộ công nghệ và viếc ứng
dụng chúng sẽ làm tăng kết quả sản xuất Y.Bằng cách có thể tăng
A(tăng tác dộng tổng hợp của công nghệ tới sản xuất kinh doanh)
hoặc tăng hệ số (tăng hiệu quả cá biệt của các yếu tố).Như
5
5
vậy tiến bộ khoa hoạc công ngheejvaf việc áp dụng chúng vào sản
xuất không chỉ làm tăng năng suất,tăng hiệu quartheo cấp số cộng mà
là tăng theo cấp số nhân.
1.2.1.2
Vai trò của công nghệ trong tạo lập môi trường kinh doanh
của các doanh nghiệp công nghiệp.
Công nghệ vừa có vai trò ảnh hưởng vừa có vai trò ảnh hưởng
trực tiếp vừa có vai trò ảnh hưởng gián tiếp.
• Công nghệ cho phép mở rộng và nâng cấp hệ thông cơ sở vật chất kỹ
thuật cũng như cơ sở hạ tầng xã hội.Tiến bộ công nghệ cho phép các
nhà kinh doanh có thể tiếp cận ,xử lý thông tin nhanh chóng, kiểm tra
thông tin một cách dễ dàng.
• Công nghệ làm cho những lĩnh vực kinh doanh mới trong công nghiệp
được hình thành. Chính nhờ những phát minh sáng chế trong các lĩnh
vực điện tử mà ngành công nghiệp không ngừng phát triển.công
nghệ tạo ra sự bình đẳng trong việc tiếp cận thông tin,thúc dẩy mạnh
mẽ viêc hình thành một môi trường kinh tế-xã hội bình đẳng cho tất
cả các doanh nghiệp kinh doanh.
Như vậy công nghệ có vai trò rất quan trọng đối với doanh
nghiệp kinh doanh.

xuất công nghệ hoàn toàn mới nhưng dộ rủi ro mạo hiểm cao.
1.3.2.
Chuyển giao ngang.
Là quá trình đưa công nghệđã dược phát triển hoàn chỉnh,đã
được khai thác và sử dụng tại một tổ chức hoặc một khu vực nào
đó(doanh nghiêp,quốc gia) sang cho một tổ chức hoặc khu vực
khác(doanh nghiệp khác,quốc gia khác)
Về nguyên tắc trong quá trình chuyển giao ngang dối với công
nghệ không cần những cải tiến đổi mới,hoànthiện thêm.Tuy nhiên trên
thực tế ngay trong quá trình này việc thích nghi hóa cũng chính là quá
7
7
trình cải tiến công nghệ được chuyển giao.Hình thức chuyển giao này
tuy không mạo hiểm nhưng bên nhận công nghệ thường phải chấp
nhận công gnhệ dưới tầm.
1.4. Quá trình chuyển giao công nghệ trong công nghiệp.
Quá trình chuyển giao công nghệ trong công nghiệp thường
đượctiến hành tuần tự theo các bước sau:
Bước một:chuẩn bị công nghệ chuyển giao.
Là giai đoạn tiến hành chính xác hóa và cụ thể hóa vấn đề công
nghệ chuyển giao.
Bước hai:Chuẩn y hợp đồng công nghê.
Bước ba:thực hiện hợp đồng chuyển giao công nghệ.
Bước bốn:phát triển các hoạt động tư vấn,dịch vụ chuyển giao
công nghệ.
1.5. Sự cần thiết của chuyển giao công nghệ trong ngành
công nghiệp ô tô Việt Nam hiện nay
1.5.1. Vai trò của ngành công nghiệp ô tô.

Công nghiệp ô tô là một ngành rất quan trọng đối với sự

nghiệp phụ trợ:cứ một đồng vốn bỏ vào ngàh công nghiệp ô tô thì cần
tám đồng vốn cho các ngành công nghiệp phụ trợ.Trong tương laikhi
nhu cầu ô tô tới hàng triệu xe một năm thì thì ngành công nghiệp ô tô
và các ngành công nghiệp phụ trợ sẽ đóng vai trò quan trọng trong
nền kinh tế đất nước.

1.5.2.Thực trạng của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam hiện
nay.
1.5.2.1.Thành tích đạt được của ngành công nghiệp ô tô Việt
nam
.
• Ngành sản xuất, lắp ráp ô tô của Việt Nam bao gồm 2 khối: FDI
và các DN trong nước. 12 trong tổng số 17 DN FDI được cấp phép đầu
9
9
tư tại Việt Nam đang hoạt động có tổng vốn đầu tư khoảng 1 tỉ USD,
năng lực sản xuất 150.000 xe/năm, chủ yếu là xe du lịch, xe đa dụng.
Hiện đã có 47 DN trong nước đầu tư vào lĩnh vực sản xuất, lắp ráp ô
tô với tổng mức đầu tư hàng chục nghìn tỉ đồng, chủ yếu sản xuất các
loại ô tô bus, xe khách, xe tải nhỏ và nặng, các loại xe chuyên dùng.
Tuy nhiên, ảnh hưởng nhiều nhất đến thị trường ô tô trong nước là
các sản phẩm xe con 4-9 chỗ ngồi, giá bán của những loại xe này
cũng như các mức thuế đi kèm với nó luôn là đề tài nóng bỏng trên
thị trường.
Thị trường ô tô trong nước khoảng 5 năm trở lại đây đã tăng mạnh,
nhiều lúc rơi vào tình trạng cung không đủ cầu. Đơn cử như thời điểm
này, nhiều DN đã phải làm ba ca mỗi ngày và nâng hết công suất
nhưng cũng không đủ cung cấp ô tô cho thị trường. Đến hết tháng
9/2007, lượng xe bán ra của các DN FDI đạt 32.000 chiếc, nhiều DN
đã có đơn đặt hàng của người tiêu dùng từ vài trăm đến cả ngàn chiếc

tích sử dụng mặt bằng một xe ô tô bằng 8 chiếc xe gắn máy).
Một số nhận xét cho rằng cầu ô tô trên thị trường Việt Nam
là cung cầu giả tạo. Vì giá ô tô quá cao so với khả năng của người tiêu
dùng, lượng lớn ô tô sản xuất ra được mua bằng công quỹ, bằng ngân
sách nhà nước ( mua làm xe công). tất nhiên đối tượng này cũng
vẫn là khách hàng và họ được xếp vào “thị trường của tổ chức”chứ
không phải “thị trường người tiêu dùng cá nhân”.Và sức mua của đối
tượng này là rất lớn ở bất kì quốc gia đang phát triển nào cũng được
chú trọng, được chăm sóc quá nhiệt thành. Nhưng ở Việt Nam đã quá
chú trọng đến đối tượng khách hàng ấy nên làm cho thị trường bị bóp
méo và quá phị thuộc vào các quyết điịnh hành chính. Đây cũng là
11
11
nguyên nhận chính cho giá xe cao vì khi khách hàng mua xe bằng
công quỹ thì “không tiếc tiền”, vaf thị trường ô tô bỗng chốc trở lên
ảm đạm sau quyết định 25/20 Ngành sản xuất ô tô Việt Nam, 06/QĐ-
TTg của thủ tướng chính phủ về thực hành tiết kiệm với nội dung “Từ
ngày 01/06/2006 sẽ tạm dừng mua xe bằng ngân sách.
• Nghành công nghiệp phụ trợ cho nghành công nghiệp này
hiện tại còn chưa phát triển.
Hiện tại ở Việt Nam mới có gần 40 nhà sản xuất FDI và 30
nhà sản xuất trong nước cung cấp linh kiện cho ô tô. Theo ông Phan
Đắc Tuất, viện trưởng viện nghiên cứu chiến lược chính sách công
nghiệp: Hiện Việt Nam còn có quá ít nhà phụ trợ. Theo tính toán,một
chiếc ô tô có từ 20.000 đến 30.000 chi tiết và để sản xuất được 1
chiếc ô tô cần đến hàng ngàn nhà cung cấp linh kiện, và để tránh khỏi
lắp ráp giản đơn thì một doanh nghiệp ô tô phải cần tối thiểu 20 nhà
cung cấp linh kiện khác nhau . Tuy nhiên, cho đến nay chưa doanh
nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô nào tại Việt Nam có được 20 nhà cung
cấp linh kiện trong nước.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status