ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THÚY HẰNG
MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁP LUẬT VÀ ĐẠO ĐỨC
- LIÊN HỆ VÀO LĨNH VỰC KINH DOANH
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - NĂM 2006
MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1
MỞ ĐẦU
2
Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA
6
PHÁP LUẬT VÀ ĐẠO ĐỨC - LIÊN HỆ TRONG LĨNH
VỰC KINH DOANH
1.1. Các khái niệm cơ bản
1.2.1. Tính chất của mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức
10
1.2.2. Những biểu hiện cụ thể của mối quan hệ giữa pháp luật và
12
đạo đức - liên hệ trong lĩnh vực kinh doanh
1.2.2.1. Đạo đức giúp lấp đầy những “khoảng trống” của pháp luật
12
1.2.2.2. Pháp luật ghi nhận và bảo vệ các giá trị đạo đức tốt đẹp
14
1.2.2.3. Pháp luật và đạo đức về cơ bản có sự thống nhất
16
1.2.2.4. Tuân thủ pháp luật là một trong những con đường hình
19
thành thói quen đạo đức
1.2.2.5. Tự nguyện tuân thủ pháp luật là một trong những
nguyên tắc cơ bản của đạo đức
20
2.2.1. Thực hiện nghĩa vụ thuế
27
2.2.1.1. Khái niệm thuế và ý nghĩa của thuế
27
2.2.1.2. Hiện trạng thực hiện nghĩa vụ thuế của các cơ sở kinh doanh
28
2.2.1.3. Nguyên nhân của hiện tượng trốn lậu thuế ở Việt Nam
31
2.2.2. Chống cạnh tranh không lành mạnh và kiểm soát độc quyền
33
2.2.2.1. Các khái niệm và ý nghÜa ph©n tÝch
33
2.2.2.2. Một số dẫn chứng về hiện tượng cạnh tranh không lành
35
mạnh và độc quyền ở Việt Nam hiện nay
2.2.2.3. Nguyên nhân của hiện tượng cạnh tranh không lành
49
2.2.4.1. Ý nghÜa ph©n tÝch
49
2.2.4.2. Hiện trạng thực hiện pháp luật lao động của các cơ sở
50
kinh doanh
2.2.4.3. Nguyên nhân của hiện tượng vi phạm trách nhiệm của
55
chủ sử dụng lao động
2.2.5. Bảo vệ mơi trường
59
2.2.5.1. Ý nghĩa phân tích
59
2.2.5.2. Thùc tr¹ng øng xử đối vỡi môi trường
60
của các cơ sở kinh doanh ë
3.2. Một số giải pháp nhằm xây dựng ý thức và thói quen tuân thủ
65
pháp luật và đạo đức trong kinh doanh ở Việt Nam
3.2.1. Hoàn thiện các quy định của pháp luật
65
3.2.2. Đẩy mạnh công cuộc cải cách hành chính, xây dựng một
69
nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên
nghiệp và hiện đại
3.2.3. Khuyến khích việc cam kết và thực hiện trách nhiệm xã hội
72
của doanh nghiệp
3.2.4. Khơi dậy tinh thần tồn dân kinh doanh vì mục tiêu dân giàu
76
- nước mạnh
3.2.5. Tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật và đạo đức, đặc
77
- BHXH
bảo hiểm xã hội
- CoC
Bộ Quy tắc ứng xử - Code of Conduct
MỞ ĐẦU
1
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, các quy phạm pháp luật có xu hướng được ban hành nhiều
hơn, khiến cho khơng ít người đặt câu hỏi: Phải chăng chúng ta đang sống
trong một xã hội mà cái gì không được quy định, hành vi nào không được đề
ra khuôn mẫu bắt buộc và không bị răn đe bởi các chế tài thì con người ắt có
xử sự khơng đúng đắn? Nhưng tại sao pháp luật ngày càng chặt chẽ mà tội
phạm lại ngày càng gia tăng, xã hội ngày một phức tạp? Như vậy có phải khi
pháp luật lên ngơi cũng có nghĩa là đạo đức đã xuống cấp hay khơng?
Hãy nhìn vào một trong những lĩnh vực nóng bỏng hiện nay là kinh
doanh. Tại sao đã qua 20 năm đổi mới theo cơ chế thị trường chúng ta vẫn
chưa có một cộng đồng doanh nhân đích thực, chưa hồn tồn có một cái nhìn
thực sự thiện cảm về giới kinh doanh? Tại sao những con người làm nên tâm
điểm của định hướng mà chúng ta đang theo đuổi lại vẫn còn bị gọi một cách
miệt thị là “con buôn” - một danh từ mà khi sử dụng như tính từ thì nó dùng
để chỉ những ai có bản tính tham lam, trí trá, lật lọng, sẵn sàng vì đồng tiền
hay lợi ích cá nhân của mình mà chà đạp lên lợi ích của người khác?
2000.
Vấn đề pháp luật và đạo đức trong kinh doanh cũng đã được đề cập đến
trong khơng ít tác phẩm chun khảo và báo chí. Tuy nhiên, cách tiếp cận
trong những nghiên cứu đó hoặc chỉ thuần tuý về đạo đức kinh doanh, hoặc
chỉ trên một chế định, một lĩnh vực pháp luật cụ thể, chưa có sự phân tích
chun sâu theo hướng song hành giữa hai nhân tố này về mặt lý luận cũng
như trong thực tiễn các quan hệ kinh doanh một cách hệ thống.
3. Mục đích nghiên cứu của luận văn
Xuất phát từ tình hình nghiên cứu đề tài như trên, trong Luận án này
chúng tôi không đặt nặng vấn đề nghiên cứu, phân tích mối quan hệ giữa pháp
luật và đạo đức nói chung mà đặt trọng tâm là liên hệ mối quan hệ đó vào lĩnh
3
vực kinh doanh ở Việt Nam hiện nay nhằm những mục đích và nhiệm vụ chủ
yếu sau:
- Phân tích mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật trong lĩnh vực kinh
doanh để nêu bật được vai trò của hai yếu tố này và mối quan hệ giữa chúng
trong việc điều chỉnh hành vi của chủ thể kinh doanh cũng như tác động đến
hiệu quả kinh doanh.
- Phác thảo những nét cơ bản về thực thực tiễn pháp luật và đạo đức
trong kinh doanh ở Việt Nam hiện nay, chỉ ra những nguyên nhân của các
hiện tượng được phản ánh và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao ý thức
pháp luật, tạo dựng thói quen hành xử theo đạo đức cho các chủ thể kinh
doanh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận án nghiên cứu những vấn đề lý luận về mối quan hệ giữa pháp
luật và đạo đức nói chung và trong kinh doanh nói riêng; khảo sát và đánh giá
thực trạng hệ thống pháp luật, nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật, thực
có kết cấu gồm ba chương như sau:
Chương 1. Một số vấn đề lý luận về mối quan hệ giữa pháp luật và đạo
đức - liên hệ trong lĩnh vực kinh doanh.
Chương 2. Sự thể hiện của mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong
thực tiễn pháp luật và hoạt động kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Chương 3. Một số giải pháp nhằm xây dựng ý thức và thói quen tuân
thủ pháp luật và đạo đức trong kinh doanh ở Việt Nam.
5
Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ
GIỮA PHÁP LUẬT VÀ ĐẠO ĐỨC - LIÊN HỆ TRONG LĨNH VỰC
KINH DOANH
Trước khi bàn luận về mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức, đồng
thời liên hệ vấn đề đó vào lĩnh vực kinh doanh, chúng tơi muốn khái quát
những nội dung cơ bản nhất về các khái niệm này, coi đó là cái gốc đề nhìn
nhận một cách tổng thể, rộng hơn, khái quát hơn về tầm điều chỉnh của pháp
luật và đạo đức trong các quan hệ xã hội nói chung và trong kinh doanh nói
riêng.
1.1. Các khái niệm cơ bản
1.1.1. Pháp luật và pháp luật kinh doanh
1.1.1.1. Khái niệm pháp luật
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về khái niệm pháp luật, nhưng một
cách chung nhất, trên cơ sở khái quát những thuộc tính và chức năng cơ bản
nhất, pháp luật được hiểu là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc
chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận thể hiện ý chí của giai cấp thống trị
trên cơ sở ghi nhận các nhu cầu về lợi ích của tồn xã hội, được đảm bảo thực
hiện bằng nhà nước nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội với mục đích trật tự
và ổn định xã hội vì sự phát triển bền vững của xã hội [38, tr. 288].
- Nguyên tắc tự nguyện tuân thủ pháp luật;
- Nguyên tắc hành động có thiện chí trong các cuộc đàm phán;
- Nguyên tắc tôn trọng hạnh phúc của mọi người;
- Nguyên tắc tôn trọng quyền tự do và các quyền hạn hợp pháp khác
[36, tr. 45-46].
8
Đạo đức trong kinh doanh được nhìn nhận ở tất cả các mối quan hệ
phát sinh trong quá trình kinh doanh của một doanh nghiệp: quan hệ giữa
doanh nghiệp với đối thủ cạnh tranh, giữa doanh nghiệp với khách hàng, giữa
doanh nghiệp với nhà nước trong việc thực hiện nghĩa vụ, quan hệ giữa các cổ
đông, các thành viên công ty với nhau, quan hệ giữa người sử dụng lao động
và người lao động, cách hành xử của doanh nghiệp đối với mơi trường…
Bên cạnh đó, đạo đức kinh doanh cũng có thể hiểu một cách rộng hơn,
ngồi các mối quan hệ trong hoạt động kinh doanh thuần túy, thể hiện qua
những hành vi tương tự đạo đức hàng ngày của chủ thể kinh doanh với tư
cách là một thành viên tham gia vào mọi mặt của đời sống xã hội như: đền ơn
đáp nghĩa, làm từ thiện… Nếu những hành động này được thực hiện một cách
tự nguyện, xuất phát từ ý thức trách nhiệm của chủ thể kinh doanh đối với xã
hội chứ khơng nhằm mục đích duy nhất là quảng cáo hình ảnh, đánh bóng tên
tuổi… thì đó cũng được coi là một hành vi đạo đức của chủ thể kinh doanh.
Tuy nhiên, chúng tôi không bàn về đạo đức kinh doanh theo hướng là
tất cả các hành vi đạo đức của chủ thể kinh doanh mà chỉ xem xét theo nghĩa
hẹp, tức là đạo đức gắn liền với hoạt động kinh doanh.
Theo nghĩa này, đạo đức trong kinh doanh có những khác biệt nhất định
với đạo đức trong sinh hoạt, ứng xử hàng ngày. Bởi lẽ, người kinh doanh luôn
phải quan tâm đến các yếu tố: lợi nhuận, thời cơ và thị trường. Quá trình tìm
kiếm lợi nhuận trên thị trường cũng giống như phân chia một cái bánh, nếu
sở những chuẩn mực đạo đức chung kết hợp với đặc thù của nghề nghiệp này.
Nói như Montesquieu: “Tinh thần thương mại tạo cho con người một ý thức
về cơng bằng đúng mức. Một mặt nó phản đối cướp bóc, mặt khác nó phản
đối đạo đức đơn thuần khiến người ta khơng muốn tranh chấp gay gắt về
mình mà sao nhãng lợi ích người khác” [27, tr. 168].
1.2. Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức - liên hệ trong lĩnh vực
kinh doanh
10
1.2.1. Tính chất của mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức
Pháp luật và đạo đức xét dưới giác độ xã hội đều tồn tại dưới dạng ý
thức xã hội, thuộc kiến trúc thượng tầng và do cơ sở hạ tầng quyết định. Giữa
pháp luật và đạo đức có mối quan hệ biện chứng. Chúng là hai khái niệm độc
lập với nhiều điểm khác biệt, nhưng với tư cách là hai loại quy phạm xã hội
quan trọng nhất trong việc điều chỉnh hành vi của mỗi con người, pháp luật và
đạo đức về cơ bản chúng vẫn hướng tới những chuẩn mực chung.
Sự khác biệt giữa pháp luật và đạo đức thể hiện ở con đường hình
thành, hình thức, phạm vi điều chỉnh và tính chất điều chỉnh… Pháp luật chỉ
xuất hiện khi có giai cấp và nhà nước, trong khi những quy phạm đạo đức
hình thành từ rất sớm trong xã hội lồi người; pháp luật được hình thành một
cách tự giác (do nhà nước ban hành) và được áp dụng chung, cịn đạo đức
thường hình thành mang tính tự phát và khác nhau với từng giai cấp, tầng lớp;
pháp luật có thể tồn tại dưới hình thức thành văn và ln chặt chẽ, chính xác,
một nghĩa, nhưng đạo đức lại khơng có văn bản chun biệt và thường rất
chung chung, mỗi người có thể nhìn nhận một vấn đề đạo đức theo nhiều cách
khác nhau; pháp luật chỉ điều chỉnh hành vi của con người trong những loại
quan hệ xã hội quan trọng nhất, nhưng đạo đức đi vào từ suy nghĩ đến hành vi
trong mọi ngóc ngách của cuộc sống con người; pháp luật hướng tới duy trì
đó chỉ phát huy hết giá trị của mình trong mối quan hệ biện chứng với nhau.
Nói cách khác, “cái chân lý tạo ra động lực phát triển đồng thời là triết lý phát
triển không phải ở một bên đạo đức hay pháp luật mà chính là ở mối quan hệ
biện chứng giữa đạo đức và pháp luật” [29, tr. 38].
1.2.2. Những biểu hiện cụ thể của mối quan hệ giữa pháp luật và đạo
đức - liên hệ trong lĩnh vực kinh doanh
Một cách cụ thể, mối quan hệ biện chứng giữa pháp luật và đạo đức
được biểu hiện trên những khía cạnh sau:
12
1.2.2.1 Đạo đức giúp lấp đầy những “khoảng trống” của pháp luật
Như đã khẳng định ở trên, pháp luật chỉ điều chỉnh hành vi của con
người trong những loại quan hệ xã hội quan trọng nhất để duy trì trật tự và sự
phát triển bình thường của xã hội, nhưng đạo đức đi vào từ suy nghĩ đến hành
vi trong mọi ngóc ngách của cuộc sống con người ở mọi lĩnh vực. Có nhiều
lĩnh vực mà pháp luật khơng điều chỉnh được nhưng vẫn có quy phạm đạo
đức điều chỉnh, đặc biệt trong những vấn đề liên quan đến tình cảm như quan
hệ thầy trị, tình bạn, tình u… hay những quy tắc trong giao tiếp, ứng xử…
Lẽ dĩ nhiên, chẳng thể vì lý do những lĩnh vực đó khơng có quy phạm pháp
luật điều chỉnh mà cho rằng chúng khơng quan trọng. Trái lại, chúng là những
gì gần gũi, thiết thân và thường nhật nhất trong đời sống mỗi con người.
Nhưng các mối quan hệ này quá đa dạng, phức tạp, thiên biến vạn hoá, phụ
thuộc vào tâm tư, tình cảm, suy nghĩ của cá nhân và khơng một nhà làm luật
nào có thể dự liệu chính xác cũng như đánh giá hết được các khả năng có thể
xảy ra để đặt tiêu chí chung cho chúng.
Mặt khác, pháp luật chỉ phán xét con người qua hành vi, nhưng đạo đức
phán xét con người từ suy nghĩ - sự phán xét của lương tâm, do chính chủ thể
tự phán xét trên nền tảng đạo đức xã hội mà người đó đã được hấp thu trong
sự của những sản phẩm trí tuệ đó, các cơng ty Việt Nam có thể bảo rằng họ
(những kẻ dám “ăn cắp” thương hiệu) chơi xấu - ai cũng thừa nhận như vậy,
chúng ta có thể kiện - khơng ai ngăn cản quyền đó, nhưng chúng ta lại khơng
thể thắng - đơn giản vì sản phẩm của chúng ta chưa được bảo hộ ở các quốc
gia này theo quy định của pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu cơng nghiệp.
Tóm lại, bản thân phát luật không thể dự liệu hết được những tình
huống có thể phát sinh trên thực tế, hoặc vì lý do này lý do khác mà không thể
đáp ứng được khát vọng về sự công bằng cho tất cả mọi người, bởi thế mới
nảy sinh hiện tượng "lách luật". Hành vi "lách luật" có thể gây hậu quả xấu,
xâm phạm lợi ích của người khác nhưng về nguyên tắc nhà nước không thể
14
xử lý vì khơng có quy phạm pháp luật điều chỉnh. Khi đó, điều ngăn chặn chủ
thể kinh doanh có những hành vi gây hại khơng gì khác chính là đạo đức của
họ. Dư luận xã hội, sự tẩy chay của người tiêu dùng hay sự bất hợp tác của
những người vốn “cùng hội cùng thuyền” cộng với những dằn vặt về mặt nội
tâm… chính là cái giá mà nhà kinh doanh phải gánh chịu khi bỏ qua những
giá trị đạo đức.
1.2.2.2. Pháp luật ghi nhận và bảo vệ các giá trị đạo đức tốt đẹp
Có một thực tế tất yếu là những nguyên tắc đạo đức được “luật hoá”
ngày càng nhiều. Đây là sự thừa nhận công khai của nhà nước về tính đúng
đắn, hợp tình, hợp lý của các quy phạm đạo đức và cũng là cách thức hữu
hiệu để nhà nước bảo vệ chính những giá trị đạo đức này trước sự phát triển
lạnh lùng của nền kinh tế và sức xâm thực ghê gớm của đồng tiền trong việc
điều chỉnh các quan hệ xã hội. Tính tất yếu của việc ghi nhận các giá trị đạo
đức tốt đẹp trong các quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay được lý giải
bởi các nguyên nhân sau:
Thứ nhất, đạo đức xuất hiện trước và là tiền đề làm nảy sinh các quy
Đây là một câu chuyện rất cũ và được nói nhiều từ khi nền kinh tế nước
ta chuyển từ cơ chế tập trung bao cấp sang vận hành theo cơ chế thị trường.
Một số người coi đó là “chi phí cơ hội”, tức là thứ “lợi nhuận” bị mất một
cách đương nhiên khi chúng ta lựa chọn con đường phát triển kinh tế và như
vậy hành vi của con người bị điều chỉnh bởi yếu tố lợi ích nhiều hơn là động
cơ đạo đức. Dễ dàng nhận thấy nếu không được bảo vệ bằng một cơ chế có
sức cưỡng chế hữu hình hơn thì những giá trị đạo đức tốt đẹp dần dần sẽ bị
xâm phạm không thương tiếc và để lại những hậu quả đáng tiếc về nhiều mặt
cho xã hội.
Thứ tư, nhận thức của nhà làm luật về nhu cầu ghi nhận các giá trị đạo
đức tốt đẹp trong các quy phạm pháp luật.
16
Tuyệt đại đa số các nguyên tắc đạo đức được gìn giữ đến thời điểm
hiện tại đều có tính chất tốt đẹp và vì thế nó khơng dễ dàng trở nên cũ kỹ hay
lạc hậu theo thời gian. Nếu những chuẩn mực đạo đức được lồng vào các quy
phạm pháp luật thì quy phạm đó sẽ có sức sống lâu bền, được thực hiện một
cách tự nguyện, tự giác. Ở đâu pháp luật được thực hiện một cách tự nguyện,
tự giác thì ở đó chi phí cho việc thực hiện pháp luật sẽ giảm đi đáng kể. Việc
ghi nhận các giá trị đạo đức trong các quy phạm pháp luật xuất phát chính từ
sự nhận thức của nhà làm luật về những giá trị tốt đẹp và sức mạnh to lớn của
đạo đức trong hệ thống các quy phạm xã hội. Sự kết hợp này sẽ tạo nên một
cơ chế điều chỉnh hoàn hảo hơn.
1.2.2.3. Pháp luật và đạo đức về cơ bản có sự thống nhất
Đây là hệ quả tất yếu của việc pháp luật được xây dựng trên những nền
tảng đạo đức sẵn có và sự phản ánh mang tính tất yếu của các giá trị đạo đức
trong các quy phạm pháp luật hiện đại.
Rõ ràng, pháp luật mặc dù do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và
không phải là cái chi phối tuyệt đối khi xây dựng luật.
Khi xem xét trong lĩnh vực kinh doanh, chúng ta có thể nhận thấy tính
thống nhất giữa pháp luật và đạo đức đã được khẳng định một cách cao độ và
biểu hiện thành một vấn đề mang tính ngun tắc, đó là tự nguyện tuân thủ
pháp luật là một trong những nguyên tắc cơ bản nhất của đạo đức kinh doanh.
Tuy nhiên, khi khẳng định như vậy cũng cần lưu ý rằng kể cả trong
trường hợp pháp luật hoàn toàn phù hợp với đạo đức thì việc làm theo đúng
pháp luật chưa phải lúc nào cũng là có đạo đức, tức là khơng thể đồng nhất
một hành vi hợp pháp với một hành vi đạo đức. Bởi lẽ, hành vi hợp pháp tồn
tại dưới nhiều dạng. Dựa vào thái độ tâm lý bên trong của con người đối với
hành vi của mình, có thể chia làm ba dạng hành vi hợp pháp cơ bản sau đây:
hành vi hợp pháp dựa trên lòng tin sâu sắc của mình vào tính cần thiết và tính
hợp lý của việc điều chỉnh bằng pháp luật; hành vi hợp pháp dựa trên sự phục
18
tùng các mệnh lệnh pháp luật mà bản thân không ý thức đầy đủ, toàn diện và
sâu sắc về các mệnh lệnh ấy; hành vi hợp pháp dựa trên sự tác động cưỡng
bức hoặc sự sợ hãi” [23, tr. 147-148]. Ở dạng thứ nhất, hành vi hợp pháp cũng
đồng nghĩa với hành vi đạo đức (trong điều kiện pháp luật phù hợp với đạo
đức). Ở dạng thứ hai và thứ ba thì hành vi đạo đức khơng đồng thời là hành vi
đạo đức, vì nó khơng xuất phát từ sự nhiệt tình hành động gắn với nhận thức
đầy đủ của chủ thể về nghĩa vụ pháp lý của mình.
Có thể thấy động cơ đơn giản nhất của chủ thể kinh doanh khi thực hiện
pháp luật là vì pháp luật có tính bắt buộc, dù khơng muốn cũng vẫn phải thực
hiện, nếu làm ngược lại sẽ phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý. Chẳng hạn
như đối với nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động, nếu để các
doanh nghiệp tự giác nộp thì chắc chắn số tiền cơ quan bảo hiểm xã hội thu
được sẽ chẳng đáng là bao vì nó đồng nghĩa với việc tăng chi phí, giảm lợi
bản chia làm hai xu hướng: thói quen hình thành một cách tự nguyện, tự giác
và thói quen hình thành do bị cưỡng chế, bắt buộc lâu dần trở thành hành vi tự
nguyện.
Tuy nhiên, “thói quen khơng phải đơn thuần là phép cộng của các phản
xạ có tính liên kết với nhau của chủ thể” trong hành vi mà còn bao gồm cả tư
duy - cảm xúc [26; tr. 75]. Sự điều chỉnh của pháp luật đến hành vi của các
chủ thể kinh doanh để hình thành thói quen hành động hợp pháp chính là sự
tác động đến nhận thức của chủ thể về các chuẩn mực của pháp luật phù hợp
với các giá trị đạo đức xã hội.
Tính bắt buộc chung và đảm bảo bằng quyền lực nhà nước là một ưu
thế của pháp luật so với đạo đức. Ngay cả những nghĩa vụ đạo đức cơ bản
nhất, có tính ngun tắc, khơng thể thiếu trong việc tạo nên một môi trường
kinh doanh, một môi trường xã hội lành mạnh, chẳng hạn như nộp thuế vào
ngân sách nhà nước, đảm bảo cân đối giữa thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ
ngơi cho người lao động, tôn trọng đối thủ cạnh tranh, tôn trọng với khách
20