luận văn thạc sĩ Phát huy vai trò phụ nữ trong phát triển kinh tế kinh tế hộ gia đình nông dân ở tỉnh Kiên Giang hiệ nay - Pdf 26

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, vấn đề giải phóng phụ nữ và thực hiện bình
đẳng giới được cộng đồng thế giới quan tâm nghiên cứu và trên thực tế đã đạt
được những thành tựu đáng ghi nhận.
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân nên sự nghiệp giải phóng phụ nữ
cũng còn gặp nhiều trở ngại. Một thực tế cho thấy: phụ nữ góp phần to lớn
trong việc xây dựng gia đình, phát triển kinh tế-xã hội, song, những đóng
góp của họ chưa được ghi nhận một cách thỏa đáng. Xét trên góc độ kinh
tế, vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế (bao gồm cả phát triển kinh tế
gia đình và phát triển kinh tế - xã hội nói chung) vẫn chưa được đánh giá
đúng đắn.
Ở Việt Nam, từ năm 1986, trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội,
Đảng và Nhà nước chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành
phần định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó kinh tế hộ gia đình là một đơn vị
kinh tế góp phần quan trọng vào sự phát triển chung của đất nước. Những
năm qua ở nhiều địa phương trên cả nước, kinh tế hộ gia đình đã và đang
được tạo điều kiện thuận lợi để phát triển. Trong việc phát triển kinh tế hộ gia
đình, cùng với nam giới, phụ nữ đã đóng góp phần tích cực và quan trọng.
Việc phát huy một cách có hiệu quả vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế
hộ gia đình không chỉ là cách giúp các hộ gia đình thoát nghèo, phát triển
kinh tế, vươn lên làm giàu, mà còn góp phần quan trọng thúc đẩy kinh tế-xã
hội phát triển, đồng thời là con đường để giải phóng phụ nữ một cách hữu
hiệu.
Kiên Giang là vùng đất nằm cuối cực nam của Tổ quốc, cách xa các
trung tâm, đô thị lớn của cả nước, phải gánh chịu hậu quả hết sức nặng nề của
1
chiến tranh và thường xuyên bị thiên tai nên sự phát triển kinh tế - xã hội còn
nhiều khó khăn. Song trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh,
Đảng bộ chính quyền và nhân dân tỉnh Kiên Giang rất coi trọng phát triển
kinh tế hộ gia đình và bước đầu đã thu được những kết quả nhất định, trong sự

trò của phụ nữ.
Ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Nhà nước cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam ngay từ những ngày đầu cách mạng đã quan tâm đến vấn đề
này, coi việc nâng cao vị trí, vai trò của người phụ nữ trong gia đình và xã hội
là một nhiệm vụ của sự nghiệp giải phóng phụ nữ. Điều đó được thể hiện
trong bài viết: “Ba cuộc cách mạng với vấn đề giải phóng phụ nữ” (1996),
“Bác Hồ với sự nghiệp giải phóng phụ nữ”.
Vấn đề lý luận và thực tiễn về phụ nữ và gia đình đã được các tổ chức
quốc tế và các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Có thể khái quát các kết
quả nghiên cứu đó theo các tuyến vấn đề sau:
Một là, những công trình nghiên cứu về gia đình và vai trò của người
phụ nữ dưới góc độ kinh tế.
“Phụ nữ nghèo nông thôn trong điều kiện kinh tế thị trường” (1996)
của Đỗ Thị Bình, Lê Ngọc Lân: “Vai trò của phụ nữ trong sản xuất nông
nghiệp ở đồng bằng sông Cửu Long” và “Phụ nữ Việt Nam trong chuyển đổi
kinh tế” (1998) của Thái Thị Ngọc Dư; “Kinh tế hộ gia đình trong bước
chuyển sang cơ chế thị trường ở nông thôn nước ta hiện nay”(2001); Luận án
tiến sĩ chuyên ngành kinh tế chính trị của Nguyễn Văn Ngừng.
Các công trình này đã luận giải nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn quan
trọng, làm sáng tỏ ở mức độ nhất định chức năng kinh tế của gia đình, các
hoạt động kinh tế sản xuất, hoạt động xã hội của các thành viên trong gia
3
đình, đặc biệt là vai trò của người phụ nữ trong phát triển kinh tế.
Hai là, các công trình nghiên cứu gia đình và vai trò của phụ nữ dưới
góc độ chính trị-xã hội.
Nguyễn Hồng Quán (1995) “Vai trò của phụ nữ trong gia đình ở nước
ta hiện nay”; “Vấn đề phụ nữ trong gia đình ở Việt Nam hiện nay, thực trạng
và giải pháp”(1997) luận án phó tiến sĩ Triết học, viện nghiên cứu Chủ nghĩa
Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh,Hà Nội của Đặng Thị Linh; “Gia đình
phụ nữ Việt Nam với dân số văn hóa và sự phát triển bền vững” (2004) Nxb

thực tiễn phát huy vai trò của phụ nữ Kiên Giang trong phát triển kinh tế hộ
gia đình thời gian qua, luận văn đề xuất phương hướng và những giải pháp
chủ yếu nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ Kiên Giang trong việc phát triển
kinh tế hộ gia đình nông dân ở tỉnh Kiên Giang trong thời gian tới.
- Nhiệm vụ của luận văn:
Để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung thực hiện những nhiệm
vụ sau:
* Làm rõ quan điểm kinh tế hộ gia đình, vai trò phụ nữ trong phát triển
kinh tế và kinh tế hộ gia đình
* Phân tích đặc điểm kinh tế hộ gia đình nông dân ở Kiên Giang và sự
cần thiết phải phát huy vai trò của phụ nữ Kiên Giang trong phát triển kinh tế
hộ gia đình nông dân
* Làm rõ thực trạng việc phát huy vai trò của phụ nữ Kiên Giang trong
phát triển kinh tế hộ gia đình nông dân ở tỉnh
* Đề xuất những phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm tiếp tục phát
huy vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình ở Kiên Giang hiện nay
- Phạm vi nghiên cứu đề tài:
Dưới góc độ chính trị-xã hội, luận văn nghiên cứu làm rõ vai trò của
phụ nữ trong việc phát triển kinh tế hộ gia đình nông dân ở tỉnh Kiên Giang
5
từ 1997 đến nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận:
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác -Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng ta về vấn đề phụ nữ, gia đình và
kinh tế hộ gia đình.
- Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn thực hiện theo các phương pháp kết hợp lôgíc và lịch sử,
phân tích, tổng hợp tư liệu thực tế có liên quan nhằm giải quyết vấn đề đặt ra.
5. Đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn

Trong tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại, chế độ mẫu hệ đã tồn
tại trong một thời kỳ dài. Đặc trưng nổi bật của chế độ này là phụ nữ đóng vai
trò chủ đạo trong gia đình, dòng họ; đồng thời có vai trò to lớn trong sinh hoạt
kinh tế và trong đời sống xã hội. Cùng với sự phát triển của lịch sử, ở các chế
độ xã hội khác nhau, vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế cũng có
những thay đổi và được thực hiện ở những mức độ khác nhau. Tuy vậy, thông
thường, ở tất cả các chế độ xã hội, phụ nữ vẫn đóng vai trò quan trọng trong
gia đình, đảm trách những công việc nội trợ, đồng thời tham gia vào các hoạt
động kinh tế như: chăn nuôi, trồng trọt, buôn bán, làm thuê để có thêm
nguồn thu nhập cho gia đình. Phụ nữ không những làm kinh tế mà còn là
người mẹ , người vợ có trách nhiệm giáo dục con cái, truyền đạt những giá trị
văn hóa cho thế hệ mai sau, hay nói cách khác họ đã có công lao to lớn trong
việc lưu giữ và truyền bá văn hóa cho dân tộc.
Tìm hiểu về vai trò của phụ nữ trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa
C.Mác và Ph. Ăngghen đã rất khách quan khi cho rằng: Sự phát triển của
công nghiệp tư bản chủ nghĩa đã tạo ra những điều kiện khách quan để phụ nữ
có thể tham gia vào hoạt động kinh tế của xã hội, mặc dù chỉ đối với phụ nữ
vô sản mà thôi. Đây là một xu hướng tiến bộ vì nó góp phần làm thay đổi
nhận thức của xã hội về vai trò của phụ nữ, từ đó xã hội có cái nhìn khách
8
quan hơn khi đánh giá vị trí và vai trò của phụ nữ. Họ không chỉ đảm đương
chức năng nội trợ và sinh đẻ đơn thuần, mà còn có khả năng tham gia làm
kinh tế, tạo ra nguồn thu nhập cho gia đình. Nhờ đó phụ nữ ngày càng trở nên
chủ động hơn về kinh tế và không còn lệ thuộc hoàn toàn vào người đàn ông.
Khẳng định điều này, C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “Chúng tôi coi khuynh
hướng của nền công nghiệp hiện đại thu hút trẻ em và thiếu niên nam nữ tham
gia vào công việc sản xuất xã hội lớn lao là một khuynh hướng tiến bộ, lành
mạnh và chính đáng, mặc dù, trong chế độ tư bản nó đã mang những hình
thức quái gở’’ [16, tr.216].
Theo C.Mác và Ph. Ăngghen, việc sử dụng lao động nữ trong nền sản

Một chủ xưởng cho biết rằng, ông ta chỉ toàn dùng phụ nữ để
đứng máy dệt; ông thích sử dụng đàn bà có chồng rồi, nhất là những
người có gia đình mà họ phải nuôi; họ chăm chỉ hơn và dễ bảo hơn
là những phụ nữ chưa chồng và hơn nữa họ buộc phải làm việc cật
lực để kiếm được những tư liệu sinh hoạt cần thiết. Như vậy là
những đức tính đặc biệt của người phụ nữ lại quay trở lại làm hại
họ, cũng như sự dịu dàng nết na trong bản chất người phụ nữ đã trở
thành công cụ biến họ thành nô lệ và làm cho họ đau khổ [23, tr. 578].
Mục đích của chủ nghĩa tư bản là vì lợi nhuận, do đó giới chủ không
ngừng cải tiến kỹ thuật, cải tiến công nghệ sản xuất, mặt khác không ngừng
thay thế lao động nam giới bằng lao động phụ nữ vào tất cả các loại lao động,
kể cả những loại lao động nặng nhọc hao tổn nhiều sức lực và hoàn toàn
không phù hợp với lao động nữ. Đó là, những ngành nghề mang tính độc hại,
nặng nhọc và phụ nữ phải làm việc trong những điều kiện hết sức tồi tệ, do
vậy, không ít lao động nữ bị kiệt sức, suy sụp về thể xác và tinh thần, thậm
10
chí “chết chỉ vì lao động quá sức’’. C.Mác viết :
“Công nhân gồm đàn ông và đàn bà, người lớn và trẻ em thuộc cả hai
giới. Trong một số ngành thì ban đêm đàn bà và nữ thanh niên làm việc lẫn
lộn với đàn ông’’ [23, tr.377, 378].
Chủ nghĩa tư bản phát triển đã tạo ra các tiền đề kinh tế-xã hội cho
cuộc đấu tranh giải phóng các giai cấp bị áp bức bóc lột, giải phóng phụ nữ.
Nhưng bản thân chủ nghĩa tư bản khi xác lập vị trí của nó trên vũ đài lịch sử
lại không giải phóng được con người nói chung, phụ nữ nói riêng khỏi sự áp
bức trong gia đình và xã hội, thậm chí nó còn làm tăng cường sự áp bức bóc
lột và làm tha hóa phụ nữ. Trong tác phẩm “Phụ nữ và chủ nghĩa xã hội’’ của
A.Bebel (1840-1913 ) - là một nhà sáng lập Đảng dân chủ xã hội Đức-viết
vào năm 1879 đã chỉ ra rằng, địa vị của người phụ nữ xét cho cùng phụ thuộc
vào những quan hệ xã hội. Sự xuất hiện chế độ tư hữu là cơ sở của sự hạ thấp
phụ nữ và thậm chí “Coi khinh’’ phụ nữ.

thành hiện thực. Lênin tố cáo rằng, dưới chế độ chủ nghĩa tư bản, phụ nữ tức
là một nửa nhân loại bị hai tầng áp bức. Ngay cả ở những nước cộng hòa tư
sản dân chủ nhất vào đầu thế kỹ XX, phụ nữ vẫn trong tình cảnh “một cổ hai
tròng’’ - vẫn bị mất bình đẳng, bị bóc lột và nô lệ cùng một lúc trong xã hội
và trong chính gia đình họ, vì pháp luật không cho họ có quyền bình đẳng với
nam giới, họ bị giam hãm trong chế độ gia đình, bị nghẹt thở dưới gánh nặng
những công việc bếp núc nhỏ nhặt nhất, lam lũ nhất, khổ cực nhất và làm cho
mụ người nhất. Ở giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, địa vị của người phụ nữ cũng
không có gì thay đổi, thậm chí còn tồi tệ hơn. Đối lập với cực bên kia là một
ít gia đình tư sản giàu có, lấy việc tăng lên của lợi nhuận làm mục tiêu thì sự
nghèo khổ bao trùm lên mọi tầng lớp gia đình trong xã hội. Trong những gia
12
đình khốn khổ này, phụ nữ đã sống khốn khổ nhất, họ sẵn sàng nhận số tiền rẻ
mạt để kiếm thêm cho bản thân hoặc gia đình một mẩu bánh mì. Cùng quẫn,
nhiều chị em rơi vào con đường nhục nhã, họ phải bán thân nuôi miệng.
Như vậy, phụ nữ là nạn nhân của sự bần hàn đói rách và bị đọa đày
trong kiếp “gia nô’’ đúng như Lênin đã chỉ ra :
Hàng triệu phụ nữ trong gia đình như vậy đang sống (hoặc nói
cho đúng hơn đang bị đọa đày ) trong kiếp “gia nô’’ , ra sức lo ăn,
lo mặc cho cả gia đình bằng từng xu nhỏ mà họ phải trả bằng sự cố
gắng phí thu 72 ngàn hàng ngày và bằng “Sự tiết kiệm’’ tất cả mọi
thứ - chỉ trừ có tiết kiệm lao động của bản thân [13, tr.463].
Các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác-Lênin đã minh chứng rất rõ ràng
nguyên nhân của tình cảnh cùng khổ của giai cấp công nhân nói chung và của
phụ nữ nói riêng không phải là sự hà hiếp vặt vãnh, không phải là những thủ
đoạn bóc lột và thủ đoạn làm tiền ti tiện nào đó, mà chính là do chế độ tư bản
chủ nghĩa. Chế độ này khi xác lập vị trí của nó trên vũ đài chính trị thì nó
không thể giải phóng con người nói chung, giải phóng người phụ nữ nói riêng
khỏi sự áp bức gia đình và xã hội mà thậm chí còn làm tha hóa người phụ nữ.
Sự cùng khổ của lao động nữ dưới chủ nghĩa tư bản và sự bất bình đẳng

định của nhiều học giả trước đây, phụ nữ Việt Nam có một quyền lực và một
sự tự do rộng rãi hơn so với nhiều phụ nữ dân tộc Á đông (Trung Quốc, Ấn
Độ ). Họ nói: trong gia đình Việt Nam cổ truyền, người đàn ông “trị vì’’
nhưng người đàn bà “cai quản’’ . Điều này cho thấy trong xã hội chưa có sự
phân công rõ rệt giữa phụ nữ và nam giới trong công việc gia đình và xã hội,
nhưng đã có sự phân định cho đàn bà và đàn ông những công việc khá rõ nét.
Lúc này, phụ nữ giữ vai trò là người “cai quản’’ , tức là người phụ nữ phải
14
gánh vác công việc gia đình: vừa làm kinh tế, vừa phải chăm sóc các thành
viên trong gia đình. Những công việc tuy đơn giản nhưng lại hết sức nặng nề
đặt lên đôi vai của người phụ nữ. Nhưng với sự đảm đang, khéo léo, tinh tế,
thông minh, cần cù và sáng tạo phụ nữ đã vượt qua mọi khó khăn để vươn lên
khẳng định vai trò của mình trong phát triển kinh tế - xã hội.
Dưới chế độ thực dân nửa phong kiến, nhân dân bị áp bức bóc lột nặng
nề thì phụ nữ càng bị áp bức bốc lột nặng nề hơn. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
chỉ ra nguyên nhân kinh tế - xã hội đẩy người phụ nữ vào cảnh cơ cực. Theo
Người “Ách áp bức dân tộc và giai cấp của bọn thực dân pháp và phong kiến
tay sai là nguyên nhân cơ bản gây nên những nỗi đau khổ cơ cực của người
phụ nữ’’ [13, tr.15]. Bị tước đoạt quyền sở hữu về tư liệu sản xuất, phụ nữ chỉ
có cách bán sức lao động cho bọn chủ nhà máy, chủ đồn điền. Sức lao động rẻ
mạt của phụ nữ và trẻ em đã mang lại những món lợi nhuận kết xù cho bọn tư
bản độc quyền Pháp. Hồ Chí Minh đã tính rằng “Bọn chủ hàng năm thu lợi
nhuận trung bình từ 35% đến 50% ; cùng thời gian đó có 5.548 tai nạn lao
động, trong đó 2.200 phụ nữ và thiếu nhi đã chết để làm giàu cho bọn thực
dân’’ [42, tr. 12].
Trong khi đó chủ nghĩa tư bản rêu rao chiêu bài tự do, bình đẳng, bác
ái, đó chỉ là hình thức mị dân của chủ nghĩa tư bản để trang điểm cho cái huy
chương mục nát của nó chứ thực ra là dân một nước thuộc địa thì chẳng bao
giờ được hưởng điều đó cả. Vì vậy, khi đến thăm tượng nữ thần tự do ở Hoa
Kỳ, Hồ Chủ tịch đã nhận xét: Trong khi người ta tượng trưng cho tự do và

người già, giết chết trẻ em, hãm hiếp phụ nữ vô cùng man rợ Hồ Chí Minh tố
cáo :
Trên mảnh đất bằng phẳng trước kia là ruộng muối ba cái xác
16
chết nằm đói, em bé bị lột trần truồng, người thiếu nữ bị nổ bụng,
cánh tay trái cứng đờ giơ nắm tay lên nền trời vô hình, còn các ông
cụ già thì ghê gớm làm sao, cũng trần truồng như thế nhưng vì bị thiêu
cháy nên không nhận ra mặt mũi nữa, mở chảy ra lênh láng đã đông
lại và da bụng phồng lên chín vàng óng như con lợn quay [13, tr.11].
Chính vì vậy Hồ chủ tịch đã thốt lên rằng “Người ta nói chủ nghĩa thực
dân là chế độ ăn cướp, chúng tôi xin nói thêm chế độ hãm hiếp đàn bà và giết
người’’ [30, tr.106].
Tư tưởng "Trọng nam khinh nữ’’ được chủ nghĩa thực dân biện bạch là
hợp lý, là không thay đổi được. Những phong tục tập quán lạc hậu, cổ hủ, đạo
đức phong kiến “Tam tòng tứ đức’’ được khuyến khích duy trì để trói buộc
đày đọa, chà đạp lên tình cảm của phụ nữ. Vì vậy, người phụ nữ không những
bị hành hạ, thiếu thốn về vật chất mà còn cả tinh thần, tình duyên dang dở,
chịu cảnh lẻ mọn làm thiếp, bị gia đình chồng ngược đãi, đánh đập. Giai cấp
thống trị còn ra sức đặt thêm nhiều luật lệ duy trì những tập quán hủ bại để
ngăn cấm chị em tham gia hoạt động chính trị, xã hội. Chúng cấm chị em
không cho tham gia bộ máy chính quyền các cấp, hạn chế việc học tập, đào
tạo nghề cho phụ nữ, kìm hãm sự phát triển trí tuệ, tài năng của họ. Chúng
muốn biến phụ nữ thành lớp người u mê đần độn để dễ dàng sai bảo và tự do
bóc lột sức lao động của họ. Hồ chủ tịch viết: “Bọn tư bản cá mập không
những làm cho nhân dân Việt Nam ngu độn bằng rượu ty và thuốc phiện,
chúng còn thi hành chính sách ngu dân triệt để hòng đánh lừa dư luận bên
Pháp và để được yên ổn bóc lột người bản xứ. Lớp người phải chịu hậu quả
nặng nề nhất chính là phụ nữ’’ [42,tr.16].
Hồ Chí Minh là người đã sớm nhận thấy khả năng to lớn của phụ nữ
Việt Nam, sự tham gia của phụ nữ là nhân tố quyết định thắng lợi trong sự

đang’’ ở miền Bắc được phát huy cao độ. Người phụ nữ vừa là cô du kích
đánh trả máy bay Mỹ, vừa là người lao động chính trên ruộng đồng, cũng lại
là người vợ, người mẹ đảm đang trong gia đình để chồng con ra chiến trường
chiến đấu. Bài hát nói lên điều đó: “Từ ngày anh đi việc đồng em giỏi dang,
ruộng cấy chang dây, cây lúa thẳng hàng, đào đắp nương nước dẫn quanh
làng, tiếng hát ba đảm đang’’. Nhiều bà mẹ với tinh thần yêu nước cao cả đã
động viên chồng con đi đánh giặc không sợ gian khổ, nguy hiểm. Nhiều phụ
nữ tham gia dân quân tự vệ bắn rơi máy bay Mỹ bắn phá hậu phương miền
Bắc. Ở tiền tuyến lớn miền Nam, phụ nữ đã tích cực tham gia đánh địch bằng
ba mũi giáp công: chính trị, quân sự, binh vận đã tạo nên khí thế sôi sục trong
phong trào cách mạng. Họ là những đoàn người biểu tình tay không ở khắp
nơi, những người mẹ người chị giang tay cản đầu xe tăng địch không cho
chúng tàn phá xóm làng; những đội nữ pháo binh trút bão lửa xuống đầu quân
thù; những “người mẹ cầm súng” bám thắt lưng địch mà tiêu diệt với ý chí
“Còn cái lai quần cũng đánh’’. Tiêu biểu là chị Út Tịch, chị Nguyễn Thị Định
- cô du kích rừng dừa tiêu biểu cho đồng bào Đồng khởi đã trở thành vị tướng
của quân giải phóng. Hồ Chí Minh đánh giá:
Miền nam anh hùng có đội quân đấu tranh chính trị gồm hàng
vạn chiến sĩ toàn là phụ nữ. Họ rất mưu trí và dũng cảm, làm cho
địch phải khiếp sợ và gọi họ là “Đội quân tóc dài’’, Phó tổng tư
lệnh giải phóng là cô Nguyễn Thị Định. Cả thế giới chỉ có nước ta
có vị tướng quân gái như vậy, thật là vẻ vang cho miền Nam cho tất
cả dân tộc ta [13, tr. 61].
Hồ Chí Minh rất cảm động trước việc làm của các người mẹ, người vợ.
Người nói: các bà mẹ chiến sĩ và các chị em đã hòa lòng yêu nước yêu con,
yêu chiến sĩ thành một khối yêu thương không bờ bến, giúp đỡ chiến sĩ và săn
sóc thương binh như con ruột thịt của mình. Người phụ nữ Việt Nam thật
19
xứng với danh hiệu cao quý mà Đảng và Bác Hồ trao tặng “Anh hùng, bất
khuất, trung hậu, đảm đang’’. Phụ nữ Việt Nam không chỉ anh hùng trong

Nhiều người lầm tưởng đó là một việc dễ chỉ hôm nay anh nấu cơm rửa
bát, quét nhà, hôm sau em quét nhà , nấu cơm, rửa bát thế là bình đẳng, bình
quyền. Lầm to!
Theo Bác, giải phóng phụ nữ là một cuộc cách mạng to và khó, vì trọng
trai khinh gái là một thói quen mấy nghìn năm để lại vì nó ăn sâu vào đầu óc
của mọi người, mọi gia đình mọi tầng lớp xã hội, vì vậy không thể dùng vũ
lực mà đấu tranh được [13, tr.31].
Cuộc đấu tranh giành bình quyền, bình đẳng cho phụ nữ trước hết là
cuộc đấu tranh về nhận thức, đấu tranh chống lại các thói quen lâu đời và
cuộc đấu tranh này diễn ra ở mọi gia đình, mọi tầng lớp xã hội. Chủ tịch Hồ
Chí Minh cho rằng ‘‘Vũ lực’’ của cuộc cách mạng này là sự tiến bộ về chính
trị, văn hóa, kinh tế, pháp luật. Phải cách mạng từng người, từng gia đình đến
toàn dân, có nghĩa là giải phóng phụ nữ phải đặt trong công cuộc phát triển
toàn diện của xã hội, vì có tiến bộ về chính trị, kinh tế văn hóa, pháp luật, mới
tạo được tiền đề căn bản cho sự nghiệp giải phóng phụ nữ trở thành hiện thực.
Theo Người, phụ nữ là một lực lượng lao động rất lớn của xã hội và gia đình,
Muốn phát triển kinh tế gia đình nhằm xây dựng gia đình hạnh phúc thì cần
phải giải phóng cho phụ nữ, thực hiện nam nữ bình đẳng. Chủ tịch Hồ Chí
Minh cho rằng: “Luật lấy vợ, lấy chồng nhằm giải phóng phụ nữ, tức là giải
phóng phân nửa xã hội, giải phóng người đàn bà, đồng thời phải tiêu diệt tư
tưởng phong kiến, tư tưởng trong người đàn ông” [13, tr. 34]. Luật hôn nhân
gia đình phải được tuyên truyền, giáo dục lâu dài, phải được cả nam và nữ
giác ngộ làm theo. Trong mỗi gia đình, phụ nữ phải được tôn trọng. Bác nói:
21
"Chúng ta làm cách mạng là để tranh lấy bình quyền, bình đẳng, trai gái đều
ngang quyền nhau” [30, tr. 195]. Trên thực tế trong gia đình người phụ nữ vẫn
bị đối xử bất bình đẳng, vẫn bị đánh chửi tàn nhẫn và Bác nghiêm khắc phê
bình những hành động đó. Tư tưởng của Người đã đặt nền nóng cơ bản để xây
dựng gia đình “ít con, no ấm ,bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững’’.
Để cho phụ nữ có quyền bình đẳng, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng

độc lập đến nay, Đảng và nhà nước ta đã quan tâm đặc biệt đến phụ nữ. Hiến
pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1946))ghi nhận quyền
bình đẳng của phụ nữ. Không lâu sau ngày miền Bắc giải phóng, Hiến pháp
(1959))cũng xác nhận: Phụ nữ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa có quyền
bình đẳng với nam giới trong tất cả các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa,
xã hội (Điều 24)). Hiến pháp 1980 (Điều 63))nêu rõ: Phụ nữ và nam giới có
quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình.
Hiếp pháp 1992 (Điều 63) : nhấn mạnh công dân nữ và nam có quyền ngang
bằng nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, xã hội và gia đình.
Trên tinh thần hiến pháp ban hành, chính phủ đã thúc đẩy sự tiến bộ về
kinh tế chính trị, văn hóa để xóa bỏ hủ tục, xây dựng thuần phong mỹ tục.
Đồng thời tạo điều kiện để phụ nữ học tập, công tác, xây dựng cuộc sống mới
đem lại sự giàu mạnh cho đất nước và hạnh phúc cho mọi gia đình.
1.1.2. Kinh tế hộ gia đình nông dân và vai trò của phụ nữ trong
phát triển kinh tế hộ gia đình nông dân
1.1.2.1. Quan niệm về kinh tế hộ và kinh tế hộ gia đình nông dân
* Về kinh tế hộ và kinh tế hộ gia đình:
Ở nước ta trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế
hộ được hiểu là một đơn vị kinh tế và thường được phân tích từ các góc độ sau:
23
- Chủ sở hữu sử dụng các nguồn lực kinh tế như đất đai, nhân lực, vốn;
- Đơn vị tham gia vào các dạng hoạt kinh tế và được phân theo ngành;
theo nghề nghiệp; theo vùng; lãnh thổ; theo sự phân biệt đô thị - nông thôn:
- Trình độ phát triển kinh tế hộ (kinh tế tự cấp tự túc, kinh tế hàng
hóa);
- Hiệu quả hoạt động của kinh tế hộ dựa trên phân tích chi phí - kết
quả (hay so sách đầu vào đầu ra).
Trước thời kỳ đổi mới đất nước, do quan niệm cho rằng kinh tế hộ đồng
nghĩa với kinh tế cá thể mang những xu hướng phát triển tiêu cực, chính sách
kinh tế của nhà nước ta nhằm chủ yếu vào việc hình thành và phát triển các

Khái niệm hộ có rất nhiều cách hiểu khác nhau. Chẳng hạn có người
cho rằng hộ bao gồm những người sống chung dưới một mái nhà. Khái niệm
này thường dùng trong quản lý nhân khẩu. Một số người khác cho rằng, hộ là
một đơn vị gồm những người sống chung và ăn chung. Tổng cục Thống kê đã
đưa ra khái niệm hộ làm căn cứ tiến hành cuộc tổng điều tra dân số năm 1989
như sau: Hộ là những người có quan hệ hôn nhân hoặc ruột thịt, hoặc nuôi
dưỡng, có quỹ thu chi chung và cùng chung sống lâu dài…
Kinh tế hộ gia đình cũng có nhiều cách hiểu khác nhau. Hộ và gia đình
có những tiêu chí chung để nghiên cứu như cơ sở kinh tế, quan hệ quyết thống
và hôn nhân, tình trạng cư trú. Song, gia đình được xem xét trong mối tương
quan với xã hội, còn hộ là những đơn vị kinh tế nhỏ trong nền kinh tế. Vì vậy
gia đình được coi là hộ khi các thành viên của nó có chung một cơ sở kinh tế.
Ngược lại, hộ được coi là gia đình khi các thành viên của nó được coi là cùng
chung huyết thống và hôn nhân.
Khi nói đến kinh tế hộ gia đình thì đó là khái niệm biểu thị các thành
25

Trích đoạn Sự tác động của những điều kiện tự nhiên Tác động của chiến tranh và thiên tai trong những năm gần đây Sự tác động của cơ chế, chính sách phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước, của chính quyền địa phương Những thành tựu đạt được và nguyên nhân của thành tựu. TRÒ CỦA PHỤ NỮ KIÊN GIANG TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status