LUẬN VĂN: CNH - HĐH - vai trò của nó đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa ở nước ta doc - Pdf 11

LUẬN VĂN:

CNH - HĐH - vai trò của nó
đối với sự nghiệp xây dựng
chủ nghĩa ở nước ta

A - Đặt vấn đề

hoá trong sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta như thế nào cho đúng, và công
nghiệp hoá, hiên đại hoá có vai trò vị trí như thế nào trong quá trình xây dựng
CNXH ở nước ta.
B - Nội dung
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây
dựng XHCN ở nước ta
1. Khái niệm về công nghiệp hoá hiện đại hoá và các vấn đề cơ bản
1.1Khái niệm công nghiệp hoá hiện đại hoá
Công nghiệp hoá và hiện đại hoá là một quá trình có tính chất lịch sử. Tất
cả các nước công nghiệp phát triển đều trải qua quá trình công nghiệp hoá ở các
thời điểm khác nhau, với những quy mô tốc độ khác nhau trong những điều kiện
lịch sử kinh tế xh khác nhau. Với hầu hết các nước phát triển hiện nay công
nghiệp hoá là một trong những chính sách chủ yếu và là một thách thức lớn. Tuy
nhiên, chính sách công nghiệp hoá trong giai đoạn hiên nay có nhiều khác biệt
lớn so với các nước công nghiệp hoá giai đoạn trước đây . Chính điều này đã làm
cho chính sách ở các nước, ở các thời kỳ thêm đa dạng.
Kết hợp quan niệm truyền thống với quan niệm hiện đại và vận dụng vào
điều kiện cụ thể của Việt Nam, hội nghị lần thứ VII ban chấp hành TW Đảng
khoá VII đã đưa ra quan niệm mới về công nghiệp hoá hiện đại hoá và đây cungx
chính là quan niệm được sử dụng một cách phổ biến ở nước ta trong giai đoạn
hiện nay. Theo tư tưởng này, công nghiệp hoá hiện đại hoá là qúa trình chuyển
đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý
kinh tế - xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách
phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến
hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học – công nghệ
tạo ra năng suất lao động xã hội cao
1.2. Vai trò và những mục tiêu nhiệm vụ của công nghiệp hoá hiện đại hoá

xác định phương thức sản xuất đó thuộc loại hình xã hội- lịch sử nào và thuộc
thời đại kinh tế nào.
Cơ sở vật chất kỹ thuật của một phương thức sản xuất của xã hội là tổng
thể hữu cơ các yếu tố vật chất của lực lượng sản xuất đạt được trong những điều
kiện lịch sử nhất định của sự tiến bộ khoa học – kỹ thuật, dựa trên đó lực lượng
lao động của xã hội ấy sản xuất ra của cải vật chất để thoả mãn nhu cầu vật chất
của xã hội.
Do trong lịch sử xã hội đã hình thành và tồn tại những mối liên hệ tất yếu,
nên phương thức sản xuất ra đời sau bao giờ cũng kế thừa những yếu tố của cơ sở
vật chất – kỹ thuật của phương thức sản xuất trước đó, trên cơ sở đó cải tạo và
phát triển thành cơ sở vật chất – kỹ thuật của bản thân mình
Phương thức sản xuất TBCN tuy xuất hiện từ đầu thế kỷ thứ XVI , nhưng
nó chỉ trở thành phương thức sản xuất thống trị khi đã tạo ra được nền đại công
nghiệp cơ khí ra đời từ cuộc cách mạng công nghiệp và quá trình công nghiệp
hoá TBCN thế kỷ XVIII – IXX. Tiếp sau đó nó được hiện đại hoá ngày càng cao
trên cơ sở của những thành tựu của tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhất là những
thành tựu mới của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại.
Chính sự phát triển của nền đại công nghiệp cơ khí với sản xuất ngày càng
xã hội hoá đã tự phát tạo ra tiền đề vật chất khách quan cho sự ra đời của phương
thức sản xuất mới: phương thức sản xuất cộng sản chủ nghiã mà giai đoạn đầu
của nó là CNXH. tính tất yếu đó đã được chứng minh trong sự phát triển của lịch
sử xã hội: Nước Nga XHCN xuất hiện từ cách mạng tháng 10 năm 1917 mở đầu
một thời đại mới; thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH. Như vậy, do
mối liên hệ tất yếu của lịch sử, cơ sở vật chất – kỹ thuật của XHCN – giai đoạn
đầu của phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa phải là nền đại công nghiệp cơ
khí hiên đại.
Các Mác và Ph.Ăng – ghen, Lênin đã nói nhiều về vấn đề nền đại công

nghiệp hoá hiện đại hoá
Thời đại ngày nay là thời đại quá độ lên CNXH trên toàn thế giới, ở nước
ta khi đất nước hoà bình thống nhất cả nước đi lên CNXH “Đây là sự lựa chọn
duy nhất đúng đắn của Đảng và nhân dân ta”. Nước ta quá độ đi lên CNXH từ
một nước nông nghiệp lạc hậu điều dó cũng có nghĩa là nước ta bỏ qua giai đoạn
phát triển TBCN. nhưng người ta chỉ bỏ việc xác lập phương thức sản xuất
TBCN, chứ không thể bỏ qua việc phát triển lực lượng sản xuất. Cái thiếu nhất
của đất nước ta là thiếu một lực lượng sản xuất phát triển. đất nước ta chưa có
một cơ sở vật chất kỹ thuật phù hợp với CNXH. Chừng nào chư tạo ra được cái
cốt vật chất – kỹ thuật phù hợp với CNXH thì đất nước ta chưa có CNXH hiện
thực. Quá trình xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật ấy ở nước ta chính là quá trình
công nghiệp hoá hiện đại hoá nên kinh tế quốc dân. Văn kiện hội nghị lầ thứ VII
ban chấp hành TW khoá VII khẳng định quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá
ở nước ta là: “Quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất,
kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là
chính sang sử dụng một cách phổ biến sứ lao động cùng với công nghệ, phương
tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển của nông nghiệp và
tiến bộ khoa học – công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao”. Thực chất
công nghiệp hoá,hiện đại hoá ở nước ta là quá trình tạo ra những tiền đề vật chất,
kỹ thuật về con người, công nghệ, phương tiện, phương pháp – những yếu tố cơ
bản của lực lượng sản xuất cho CNXH. Nội dung cốt lõi của quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá là cải biến lao động thủ công, lạc hậu thành lao động sử
dụng kỹ thuật tiên tiến, hiện đại để đạt tới năng suất lao động xã hội cao. Xây
dựng nền đại công nghiệp cơ khí hiện đại – cơ sở vật chất – kỹ thuật của CNXH
bằng con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá đó là một tất yếu khách quan đối
với nước ta quá độ lên CNXH xúat phát từ một nên kinh tế kém phát triển. Tính
tất yếu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong sự nghiệp xây dựng

kỹ thuật hiện đại và sản xuất theo phương thức đại công nghiệp đòi hỏi quần
chúng lao động phải có trình độ giác ngộ cách mạng và trình độ văn hoá khoa
học kỹ thuật ngày càng cao. Đồng thời cơ sở vật chất – kỹ thuật của CNXH lạ tạo
ra những điều kiện vật chất cần thiết cho việc xây dựng nền văn hoá mới và con
người mới XHCN.
Công nghiệp hoá XHCN còn là một yêu cầu khách quan của quốc phòng.
Nguồn lực quốc phòng của một nước phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố, trong đó
nền kinh tế lớn mạnh, sản xuất nhiều loại sản phẩm chế độ chính trị kinh tế và xã
hội vững chắc và việc cung cấp các phương tiện hiện đại hoá quốc phòng có ý
nghĩa đặc biệc quan trọng. Công nghiệp hoá hiện đại hoá có tác dụng trực tiếp
trong việc tạo ra các nhân tố đó.
Công nghiệp hoá hiện đại hoá ở nước ta là quá trình giai cấp công nhân
trưởng thành về số lượng và chất lượng. Giai cấp công nhân ngày càng đông, kỹ
thuật sản xuất ngày càng cao, đời sống ngày càng được cải thiện, trình độ giác
ngộ XHCN được nâng dần lên. Do đó vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân
trong mọi mặt sinh hoạt của xã hội ngày càng được củng cố. Chỉ có thực hiện
công nghiệp hoá, hiện đại hoá XHCN nước ta mới xây dựng được nền kinh tế
độc lập tự chủ và tham gia phân công hợp tác quốc tế và chủ động hội nhập.
Qua đó có thể khẳng định rằng sự thành công của quá trình công nghiệp
hoá hiện đại hoá XHCN là nhân tố quyết định sự thắng lợi hoàn toàn và triệt để
của XHCN, không làm công nghiệp hoá hiện đại hoá sẽ không có XHCN. xuất
phát từ tính khách quan và tác dụng nhiều mặt trên đây của công nghiệp hoá hiện
đại hoá XHCN, đảng ta coi công nghiệp hoá hiện đại hoá là “Nhiệm vụ trung tâm
trong suốt cả thời kỳ quá độ lên CNXH”. Chỉ có hoàn thành công nghiệp hoá
hiện đại hoá XHCN mới có cơ sở để thực hiện các nhiệm vụ khác một cách triệt
để và mới có CNXH một cách đầy đủ
Nhiệm vụ cải tạo quan hệ sản xuất và để có được quan hệ sản xuất XHCN

Ba là, tốc độ tăng lao động trong các ngành phi sản xuất vật chất tăng lên
nhanh hơn tốc độ tăng lao động trong các ngành sản xuất vật chất
ở nước ta phương hướng phân công lại lao động xã hội hiện nay cần triển
khai trên cả hai địa bàn: cả nước và tại chỗ để kết hợp phát triển cả về chiều rộng
lẫn chiều sâu. Xong phải đặc biệc chú ý đến phân công lao động tại chỗ, phải trên
cơ sở hợp lý hoá lao động tại chỗ mà phân bổ lại lao động trên phạm vi cả nước.
đi đôi với quá trình phân công lại lao động xã hội, một cơ cấu kinh tế mới cũng
dần dần được hình thành . Cơ cấu kinh tế của một nước là tổng thể các quan hệ
kinh tế hay các bộ phận hợp thành của nền kinh tế, gắn với vị trí, trình độ kỹ
thuật công nghệ, quy mô, tỷ trọng tương ứng với từng bộ phận và mối quan hệ
tương tác giữa các bộ phận, gắn với điều kiện kinh tế – xã hội trong từng giai
đoạn phát triển nhất định, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế đã được hoạch
định. Cấu trúc của cơ cấu kinh tế bao gồm:
Cơ cấu ngành kinh tế
Cơ cấu vùng kinh tế
Cơ cấu giữa thị tứ, thị xã, thị trấn, thành phố và đô thị
Cơ cấu thành phần kinh tế
Để tối ưu hoá cơ cấu kinh tế được hình thành phải đạt được các yêu cầu
sau: phản ánh được và đúng các quy luật khách quan, trước hết là các quy luật
kinh tế, cho phép khai thác tối đa các tiềm năng kinh tế của đất nước, sử dụng
được nhiều lợi thế so sánh của các nước phát triển muộn về công nghiệp, phù
hợp với xu thế của cách mạng khoa học công nghệ, xu hướng toàn cầu hoá, khu
vực hoá và đem lại hiệu quả kinh tế – xã hội cao
Về cơ cấu nghành kinh tế: Trong những năm trước mắt cơ cấu ngành ở
nước ta sẽ được xác lập là cơ cấu công – nông nghiệp - dịch vụ. phương hướng
phát triển của các ngành trong cơ cấu ấy phải đáp ứng được những yêu cầu của
mô hình chiến lược, cụ thể là:

tiếp đầu tư nước ngoài, trước hết ưu tiên cho những khâu ách tắc và yếu kém nhất
đang cản trở sự phát triển.
Thứ năm, xây dựng có chọn lọc một số cơ sở công nghiệp nặng trọng yếu
và hết sức cấp thiết, có điều kiện về vốn, công nghệ, thị trường để phát huy
nhanh và có hiệu quả cao. Cụ thể: Ngành cơ khí hướng mạnh vào sản xuất công
cụ, thiết bị phục vụ sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp, thiết bị phục vụ công
nghiệp chế biến nông lâm thuỷ sản và sản xuất hàng tiêu dùng, sản xuất phụ tùng
lắp ráp một số loại sản phẩm phức tạp có trình độ kỹ thuật cao phát triển một số
ngành sản xuất nguyên nhiên vật liệu: dầu khí và lọc dầu, xi măng, luyện cán
thép
Thứ sáu, phát triển dịch vụ du lịch, khai thác có hiệu quả lợi thế về tự
nhiên, truyền thống lịch sử văn hoá dân tộc, phục vụ phát triển kinh tế và cải
thiện đời sống nhân dân
Về cơ cấu nguồn kinh tế tạo điều kiện cho tất cả các vùng đề phát triển
trên cơ sở khai thác thế mạnh và tiềm năng của các vùng liên kết giữa các vùng
làm cho mỗi vùng có một cơ cấu kinh tế hợp lý và đều có chuyển biến tiến bộ
góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội của đát nước.
Về cơ cấu giữa thị tứ, thị xã, thị trấn, thành phố và đô thị
Tuỳ điều kiện từng nơi, tất cả các thị xã, thị trấn đều phải được phát triển
trên cơ sở đẩy mạnh công nghiệp dịch vụ mang ý nghĩa tiểu vùng. Hình thành
các thị tứ làm trung tâm kinh tế, văn hoá cho mỗi xã hoặc cụm xã. Phát triển các
đô thị vệ tinh xung quanh các thành phố lớn đẻ giãn bớt công nghiệp và dân cư
tránh sự tập trung quá mức vào Hà Nội và Thành Phố Hố Chí Minh coi trọng
việc phát triển kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế và văn hoá, giữ gìn bản sắc và truyền
thống văn hoá dân tộc tiến lên hiện đại trong phát triển đô thị.
Về cơ cấu thành phần kinh tế : Lấy việc giải phóng sức sản xuất, động
viên tối đa mọi nguồn lực bên trong và bên ngoài cho việc chuyển dịch cơ cấu

trò rất to lớn đối với sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá trong tất cả các
nước, nhất là các nước có nền kinh tế kém phát triển. Tuy nhiên cách thức tiến
hành ở những nước khác nhau lại không giống nhau, có nước tiến hành bằng
cách tự nghiên cứu, tự trang bị công nghệ mới cho các ngành kinh tế trong nước,
có nước tiến hành thông qua chuyển giao công nghệ cũng có nước tiến hành bằng
cách kết hợp giữa tự nghiên cứu và chuyển giao.
Thực chất của chuyển giao công nghệ là đưa công nghệ bao gồm cả phần
cứng và phần mềm từ nước này sang nước khác, làm thay đổi quyền sở hữu và
quyền sử dụng công nghệ được chuyển giao. Thực tế cho thấy việc chuyển giao
công nghệ cỉ phát huy được hiệu quả trong mô hình chiến lược công nghiệp hoá
hướng ngoại, “Hướng về xuất khẩu”
Chuyển giao công nghệ có những tác dụng sau:
Một là, rút ngắn khoảng cách tụt hâu của các nước chậm phát triển so với
các nước phát triển
Hai là, tạo điều kiện để khai thác có hiệu quả hơn các nguồn lực ở trong
nước nhằm tăng trưởng kinh tế nhanh.
Ba là, đối với những nước đang trong quá trình chuyển từ mô hình chiến
lược công nghiệp hoá hướng nội, thay thế nhập khẩu sang chiến lược công
nghiệp hoá hướng ngoại hướng về xuất khẩu thì nó thúc đẩy nhanh sự chuyển
dịch này và cho phép đạt được hiệu quả kinh tế cao
Song song với quá trình tiếp nhận chuyển giao công nghệ, việt Nam còn
phải xây dựng cho mình chiến lược phát triển khoa học và công nghệ quốc gia
mang tính tổng thể lâu dài bởi vì đây là năng lực nội sinh đảm bảo sự phát triển
vững chắc và lâu bền của đát nước. đại hội lần thứ VIII của Đảng cộng sản việt
Nam đã khẳng định vai trò quan trọng của khoa học và công nghệ: “Phát triển
khoa học và công nghệ, nâng cao năng lực nội sinh, coi đó là nhân tố quan trọng
để thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá. Xuất phát từ điều kiện

khoa học, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ khoa học, phát triển và đào tạo, có cơ chế
bồi dưỡng và đào tạo nhân tài, được coi như “Một kế sách bền sâu” để tiến hành
công nghiệp hoá hiện đại hoá trên cơ sở tận dụng thế mạnh của dân tộc và con
người Việt Nam .

c. kết luận

Tiến hành công nghiệp hoá hiện đại hoá để nhằm xây dựng cơ sở vật chất
– kỹ thuật, chuyển đổi căn bản các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và
quản lý kinh tế xã hội nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao. Hơn nữa tiến
hành công nghiệp hoá là con đường để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của
CNXH. Đó là quá trình mang tính quy luật, bởi vì: Ngay sự quá độ từ chủ nghĩa
tư bản lên CNXH đã có cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa tư bản, nhưng nó
chỉ là tiền đề vật chất sẵn có. Muốn biến nó thành cơ sở vật chất kỹ thuật của
CNXH, phải tiến hành một loại các cuộc cách mạng cải biến về quan hệ sản xuất,
tiếp tục vận dụng thành tựu mới của khoa học kỹ thuật, phân bố, tổ chức lại và
hiện đại hoá cao hơn.
ở nước ta – một nước có nền kinh tế kém phát triển quá độ đi lên CNXH
việc thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá càng là một tất yếu và cần thiết
trong sự nghiệp xây dựng CNXH.
Để tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá có hiệu quả, phải giải quyết
được các yêu cầu chủ yếu sau đây:
Tạo nguồn vốn để công nghiệp hoá. Đây là một yêu cầu cơ bản và cũng là
điều kiện quan trọng hàng đầu để tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status