Chi NSNN & vai trò của NSNN đối với sự nghiệp CNH - HDH đất nước - Pdf 12

lời mở đầu

Chi ngân sách Nhà nớc (NSNN) đặc biệt là trong quá trình Công nghiệp hoá -
Hiện đại hoá (CNH -HĐH) đất nớc có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc phát
triển kinh tế củng nh đảm bảo công bằng xã hội bởi thông qua chi NSNN hằng
năm, vốn đầu t từ NSNN đóng vai trò dẫn dắt, lan toả, có tác động trực tiếp và gián
tiếp đến đầu t phát triển, đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đến hiệu quả
đầu t tạo điều kiện cho nền kinh tế tăng trởng và phát triển.Nhà nớc tổ chức đúng
đắn nhiệm vụ chi ngân sách (NS), cấp phát kinh phí sao cho tiết kiệm, hợp lý và
đạt hiệu quả cao không những là động lực thúc dẩy nền kinh tế phát triển mà còn
là một trong những biện pháp phòng ngừa lạm phát, chống tham nhũng một cách
hiệu quả. Ngợc lại nếu việc tổ chức chi NS không hợp lý, không dựa vào tình hình
thực tiễn thì sẽ gây lãng phí và kìm hãm sự phát triển nền kinh tế. Nhận thức đợc
tầm quan trọng rất lờn đó Đảng và Nhà nớc ta luôn quan tâm đến việc s dụng vai
trò tích cực của chi NSNNtrong quá trình phát triển khinh tế, nhất là khi thực hiện
CNH-HĐH đất nớc.
Tiến hành CNH-HĐH đất nớc là một yếu tố khách quan đối với nớc ta nhằm
tng bớc xây dụng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội (CNXH), tạo tiền đè
cho các bớc phát triển mới đẻ tiến đến xây dựng thành công xã hội chủ nghĩa
(XHCN). Các văn kiện và nghị quyết của Đảng ta đèu nhấn mạnh rằng trong khi
chăm lo phát triển kinh tế thì còn phải hớng theo con đờng CNH-HĐH.
Nớc ta hiện nay đang trong quá trình chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần vân.đọng theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc, việc nghiên
cứu đổi mới chính sách và cơ chế quản lý nguồn thu và chế độ chi NSNN có ý
nghĩa rất cấp bách cả về lý luận lãn thực tiễn.Đối với một nớc chậm phát triển nh
nớc ta hiện nay, muốn đạt đợc trình độ của một quốc gia phát triển, không bị tụt
hậu xa so với các nớc trong khu vực và trên thế giới thì việc xác định cơ cấu chi
NSNN đẻ phục vụ cho sự nghiệp CNH-HĐH nớc là một việc làm hết sức khó khăn
và có ý nghĩa sông còn.
Để xác định rõ vai trò của chi NSNN trong sự nghiệp CNH-HĐH đất nớc,
chúng ta phải nắm vững đợc khía cạnh lý luận và phơng pháp luận liên quan đến

quốc gia và quốc tế nên đã đã triển khai chiến lợc này theo mô hình xây dựng nền
kinh tế độc lập tự chủ kiểu khép kín và u tiên phát công nghiệp nặng từ đầu một
cách tràn lan, hiẹu quả đem lại rất thấp.
Nớc ta lựa chọn con đờng quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ T Bản và với xuất
phát điểm thấp của một nền kinh tế nông nghiệp, công nghiệp thủ công lạc hậu
cho nên việc thực hiện CNH-HĐH trở thành một nhiệm vụ cực kỳ khó khăn và
phức tạp. Thực tiễn 20 nam xây dựng nền công nghiẹp ở miền Bắc và15 năm phát
triển công nghiệp trong cả nóc, ben cạnh những thành công còn có không ít thất
bại, đa đén cho chúng ta nhiều bài học sâu sắc về CNH. Ba vấn đề đặt ra cho nớc
ta là:
Thứ nhất: Tại sao cần phải CNH -HĐH ?
Thứ hai: Thực chất của CNH-HĐH là gì ?
Thứ ba: Con đờng của CNH-HĐH ở Việt Nam cần phải lựa chọn là gì?
I. Sự cần thiết khách quan của CNH-HĐH đất nớc
Lôgíc và lịch sử đã chứng minh rằng quá trình cải tạo xã hội nhanh nhất là
con đờng CNH. Trên thế giới, công nghiệp biến đổi nhiều nớc từ lạc hậu trở thành
những nớc văn minh hiện đại. Một đất nức văn minh hiện đại chứa đụng trong nó
một nền sản xuất lớn.Nhng để có một nền sản xuất lớn thì đòi hỏi phải có cơ sở hạ
tầng và những công cụ lao động hiện đại.
Cơ sở vật chất - kỹ thuật của mỗi phơng thức sản xuất (PTSX) là tổng thể hữu
cơ các yếu tố vật chất của lực lợng sản xuất (LLSX) đạt đợc trong những điều kiện
3
lịch sử nhất định của tiến bộ khoa học và công nghệ, dựa trên đó lực lợng lao đọng
của xã hội ấy sản xuất ra của cải vật chất để thoả mãn nhu cầu của xã hội.Trong
lịch sử bao giờ PTSX cũng kế thừa cơ sở vật chất _kỹ thuật của PTSX trớc nó, trên
cơ sở đó, cải tạo, phát triển thành cơ sở vật chất -kỹ thuật cho bản thân mình.
CNXH ra đời và phát triển cũng phải tuân theo tính quy luật đó.
Cơ sở vật chất kỹ thuật của CNXH một mặt, kế thừa những thành quả đã đạt
đợc của xã hội trớc đó, mặt khác, nó đợc phát triển và hoàn thiện trên cơ sở những
thành tựu của các cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại và theo nhu cầu

ợc giai đoạn cơ khí hoá, CNH để tiến lên HĐH. Dù cho tiến trình phát triển khoa
học kỹ thuật, tiến trình phát triẻn LLSX xã hội có trình độ cao diễn ra theo cách
nào _ rút ngắn hay tăng tốc thì CNH-HĐH cũng tất yếu phải diễn ra.
Sự phát triển nh vũ bão của khoa học đã đem đén cho cuộc sống con ngời
nhiều thay đổi theo chiều hớng ngày càng tiện nghi hơn.Tuy nhiên cách mạng
khoa học kỹ thuật không phải không có mặt trái của nó, trong đó một điều có thể
thấy rõ là khoảng cách giữa các nớc giàu và nớc nghèo ngày càng chênh lệch.
Điều này đặt ra thách thức gay gắt cho các nớc nghèo:hoặc là vơn lên trong thế
giới có nền công nghệ hiện đại, hoặc là mãi dẫm chân tại chỗ, nghĩa là chấp nhận
tụt hậu mãi mãi trong cảnh đói nghèo và phụ thuộc. Nhân dân ta đã từng lựa chọn
con đờng độc lập đẻ giải phóng mình khỏi kiếp nô lệ, thì vì lẽ gì lại không lựa
chọn con đờng CNH-HĐH dể chấn hng đất nớc, giải phóng mình khỏi cảnh đói
nhèo lạc hậu.
Nguy cơ tụt hậu xa hơn của Việt Nam so vói các nớc đang phát triển nằm
ngay trong sự lạc hậu về cơ cấu kinh tế và thể chế quản lý. Nhìn một cách tổng
quát, cơ cấu kinh tế nớc ta ở giai đoạn "tiền công nghiệp ", không có khả năng
tăng trỏng bền vwngx. Với cơ cấu này không thể nói đến "dân giàu nớc mạnh xã
hội công bằng văn minh ".
Ngày nay các nớc phát triển không những có cơ cấu cônng _ nông nghiệp
hiện đại mà thậm chí còn có khu vực sản xấut dịch vụ rất phát triển, không những
phát triển kinh tế trong nớc mà còn tích cực tham gia vao xu hớng quốc tế hoá,
tham gia vào quá trìn phân công và hợp tác quốc tế.Nh vậy, chúng ta cần phải sớm
có chiến lợc cơ cấu kinh tế thị trờng phù hợp với điều kiện dân tộc và quốc tế đầu
thế kỷ này. Đây phải là bản thiết kế tổng thể nền kinh tế Việt Nam, là sự hớng dẫn
các nguồn đầu t một cách chủ động, nhăm tăng trởng vào mục tiêu tăng trởng và
phát triển. Đay là giải pháp đàu tiên để tránh nguy cơ tụt hậu, vơn tới trình độ hiện
đại. Chúng ta phải nhanh chóng thực hiện tiến trình cải tạo sâu sắc cơ cấu kinh
tế, , chuyển từ nông nghiệp lạc hậu sang nền kinh tế đợc tổ chức theo kiểu công
nghiệp, dựa trên kỹ thuật máy móc và công nghệ hiện đại. quá trình cải tổ cơ cấu
đó chỉ có thể thực hiệnchủ yếu bằng CNH-HĐH trên cơ sở tác đọng của công

Đảng luôn luôn khẳng định công nghiệp hoá là nhiệm vụ trung tâm trong suót thời
kỳ quá độ lên CNXH ở nớc ta. Đồng thời qua mỗi lần Đại hội, Đảng ta lại nhận
thức và cụ thể hoá thêm nhiệm vụ này cho thích hợp với điều kiện và hoàn cảnh
của đất nớc ta trong từng thời kỳ.Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX đã xác
định: "Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tế độc lập tự
chủ, đa nớc ta trở thành một nớc công nghiệp ", tronh đó"phát triển kinh tế, công
nghiệp hoá, hiện đại hoá là nhiệm vụ trung tâm".
6
II. Thực chất của CNH-HĐH đất nớc
Trong thòi đại ngày nay, thực chất của quá trình CNH-HĐH đất nớc chính là
quá trình vận dụng khoa học công nghệ dựa trên những đổi mới công nghệ nhằm
chuyển hệ thống kinh tế xã hội của đất nớc từ trạng thái năng suất thấp, hiệu quả
thấp, sử dụng lao động thủ công là chủ yếu sang một hệ thông có năng suất và
hiệu quả cao dựa trên những biện pháp công nghiệp, những công nghệ tiên tiên,
chuyển một xã hội có nền sản xuất nhỏ và lạc hậu sang một xã hội hiện đại có nền
sản xuất lớn.CNH-HĐH cũng là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng
phát triển nhanh ngành có hàm lợng khoa học công nghệ cao, giá trị gia tăng cao.
Muốn đạt đợc mục tiêu này phải phát triển công nghiệp, nhng quan trọng hơn là
phả đổi mới công nghệ trong toàn bộ nền kinh tế, phải sử dụng có hiệu quả những
thành tựu khoa học công nghệ của thế giới.
1. CNH-HĐH là quá trình chuyển từ tình trạng công nghệ lạc hậu với năng suất
lao động thấp lên công nghệ hiện đại với năng suất lao động cao
Trình độ công nghệ sản xuất ở nớc ta lạc hậu nhiều thế hệ so với thế giới và
khu vực, phổ biến là công nghệ thấp thô sơ, năng suất lao động thấp. Nớc ta không
thể hoà nhập vào kinh tế thế giới đơng đại mà không phát triển các công nghệ cao.
Đó là nhữmg công nghệ tien tiến hiện đại dựa vào những thành tựu mới nhất của
khoa học công nghệhiện đại nh công nghệ thông tin, công nghệ tin học, vật liệu
mới, công nghệ gia công chính xác trong chế tạo máy tự động hoá, năng lợng mới
để tạo ra năng suất lao đọng cao.
Việc chuyển từ tình trạng công nghệ lạc hậu sang công nghệ tiên tiến hiện

công nghệ sản xuất, đòng thời đó là quá trình dịch chuyển của nền kinh tế chuyển
dịch cơ cấu kinh tế
Trớc hết, nói đén cơ cấu kinh tế à nói đến tập hợp các bộ phận(các ngành, các
vùng các thành phần kinh tế) cấu thành nên tổng thể các ngành sản xuất kinh
doanh và mối tơng quan tỷ lệ giữa các bộ phận cấu thành so với tổng thể so với
toàn bộ nền kinh tế quốc dân Trong nền kinh tế quốc dân một cơ cấu đợc gọi là
hợp lý khi nó đáp ứng đợc nhu cầu thị trờng, khai thác đựơc tôi đa lợi thế so sánh,
là cơ cấu tiên tiến, mang tính hiệu quả kinh tế cao, phù hợp với định hớng phát
triển và xu thế chung của thời đại Yêu cầu đặt ra cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh
tế là phải đảm bảo cho nền kinh tế phát triển, tăng trởng đồng bộ và cân đối tạo
điều kiện thúc đẩy các ngành mũi nhọn, giải phóng sức sản xuất xã hội, thu hút đ-
ợc nguồn vốn đầu t bên ngoài để tạo ra nhiều công ăn việc làm cho ngời lao động.
Để đảm bảo thực hiện nhữmg yêu cầu trên, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải đ-
ợc thực hiện cả về cơ cấu ngành, cơ cấu kinh tế, cơ cấu vùng kinh tế và cơ cấu
kinh tế hớng ngoại
Trong điều kiện kinh tế_ xã hội và mục tiêu của mỗi nớc là khác nhau, do đó
cơ cấu công nghiệp của các nớc không giống nhau.Nhng chuyểndịch cơ cấu công
nghiệp có những xu thế chung mangtính chất phổ biến. Trong cơ cấu kinh tế quốc
dân, xu thế chung đã và đang diễn ra ở các nớc đang phát triển là tỷ trọng nông
nghiệp giảm dần, tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ tăng dần, tốc độ tăng của dịch
8
vụ nhanh hơn công nghiệp.Việt Nam tất yếu cũng nằm trong xu thế chung
đó.Trong thời kỳ đàu Nhà nớc ta sẽ đi theo hớng công nghiệp-nông nghiệp-dịch
vụ. Thời kỳ tiếp theo sẽ tăng tỉ trọng các ngành theo hớng dịch vụ-công nghiệp-
nông nghiệp.
Thực tế nhiều nớc trên thế giói cũng xác nhận rằng không thể làm cho nền
kinh tế tăng trởng nhanh từ nông nghiệp dù ở đó nền nông nghiệp phong phú và đa
dạng.Giảm tỷ trọng nông lâm hải sản trong nông nghiệp xuóng nhanh sẽ dôi ra
nhiều lao động để phát triẻn kinh tế nông thôn, đặc biệt là công nghiệp chế biến,
thơng mại xây dựng, dich vụ...Dể làm đợc điều đó phải dựa trên việc đa tiến bộ

trọng kinh tế ngoài quốc doanh trong GDP lớn hơn kinh tế quốc doanh. Nh vậy là
đã có sự chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế trong Nhà nớc ta bởi trớc đây các
doanh nghiệp ngoài quốc doanh luôn nhỏ hơn các doanh nghiệp quốc doanh. Và
bởi vậy, cơ cấu vốn đàu t cũng phải có sự chuyển dịch theo.
Có thể nói thực chất của quá trình CNH-HĐH là nâng cao một cách mạnh mẽ
và nhanh chóng trình độ công nghiệp của nền sản xuất xã hội nhằm sử dụng và
phát huy có hiệu quả tiềm lực phát triển của xã hội, phục vụ cho mục tiêu phát
triển của kinh tế xã hội, chuyển nền sản xuất nhỏ lên nền sản xuất lớn, đa đất nớc
thoát khỏi cảnh đói nghèo lạc hậu. Tuy nhiên để thực hiện thành công CNH-HĐH
cần có con đờng đúng đắn phù hợp với điều kiện của nớc ta.
III. Con đờng CNH-HĐH ỏ nớc ta
Chiến lợc phát triển kinh tế xã hội 10 năm (2001_2010) là: Chiến lợc đảy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hớng xã hội chủ nghĩa, xây dựng
nền tảng đẻ đến năm 2020 nớc ta cơ bản trở thành một nớc công nghiệp.
Nói một cách khái quát đay là con đờng CNH-HĐH rút ngắn thời gian so với
các nớc đi trớc, dựa vào phát huy tối đa những tiềm năng và lợi thế của đát nớc,
gắn CNH-HĐH trong từng bớc, gắn CNH-HDH với xây dựng nền kinh tế đọc lập
tự chủ và chủ đọng hội nhập kinh tế quốc tế. Con đờngCNH nh vậy sẽ rất khác với
cách hiểu và cách làm CNH theo kiểu cổ điển, có nghĩa là phải vận dụng đến mức
tối đa những đièu kiện mới của thế giới ngày nay, mà nổi bật là những bớc tiến
của cách mạng khoa học và công nghệ cùng với quá trình toàn cầu hóa và hội
nhập quốc tế. Đó cũng là quá trình vừa có những bớc đi tuần tự, lại vừa có những
bớc tiến nhảy vọt, "đi tất", "dón đầu" trong phát triển LLSX, phát triển kinh tế và
công nghệ.
Để thực hiện thành công CNH-HĐH Đảng và Nhà nớc ta cần xác định những
định hớng đúng đắn, từ đó thực hiện nhất quán, đồng bộ trong cả nớc.
1. Đổi mới công nghệ, tận dụng lợi thế của ngời đi sau, kết hợp công nghệ
truyền thống với công nghệ hiện đại, coi trọng công nghệ tạo nhiều việc
làm ít vốn, luôn coi khoa học công nghệ và giáo dục đào tạo là nhân tố
quyết định

nghệ trên cơ sở khắc phục hạn chế, tận dụng u thế. Chúng ta cần u tiên các ngành
công nghệ đòi hỏi ít vốn, sử dụng nhiều lao động, đồng thời kết hợp HĐH công
nghệ truyền thống với phát triển công nghệ cao. Hệ thống công nghệ đa dạng đó
vừa đảm bảo cho việc HĐH nền kinh tế vừa tận dụng cơ sở vật chất kinh tế hiện có
và giải quyết đợc việc làm cho những ngơì đến độ tuổi lao động, sử dụng đợc mọi
trình độ lao động.
Sự nghiệp CNH là sự nghiệp của toàn thể nhân dân lao động, lực lợng cán bộ
khoa học kỹ thuật, khoa học quản lý sản xuất kinh doanh và công nhân lành nghề
đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Tốc độ tăng trởng và phát triển kinh tế của một
11
quốc gia chỉ đạt đợc với tốc độ cao khi chúng ta giải quyết tốt và thực hiện đồng
bộ cả hai nhân tố của quá trình sản xuất, đó là TLSX hiện đại và con ngời hiện đại
- chủ thể của quá trình đó.
Tiềm lực con nguời là yếu tố quan trọng nhất của CNH-HĐH. Trong văn kiện
Đại hội Đảng lần thứ IX một lần nữa khẳng định lại yếu tố con nguời - "Yếu tố cơ
bản để phát triển xã hội, tăng trởng kinh tế nhanh và bền vững".
Sự nghiệp CNH ở nớc ta đòi hỏi phát triển một cách mạnh mẽ, liên tục đội
ngũ tri thức, đội ngũ các nhà khoa học trong tất cả các ngành, các lĩnh vực. Xuất
phát từ trình độ nguồn nhân lực của nớc ta, Nhà nớc cần "tiếp tục nâng cao chất l-
ợng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phơng pháp dạy và học, hệ thống truờng
lớp và hệ thống quản lý giáo dục; thực hiện" Chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá"
(Đại hội Đảng lần thứ IX). Chúng ta cần tăng ngân sách Nhà nớc cho giáo dục và
đào tạo theo nhịp độ tăng trởng kinh tế, mở rộng hợp lý quy mô giáo dục đại học,
làm chuyển biến rõ nét về chất lợng và hiệu quả đào tạo.
Song song với việc đào tạo con ngời ứng dung công nghệ hiên đại chúng ta
phải có nhiêm vụ tạo ra công nghệ mới. Vì vậy, công tác nghiên cứu và ứng dụng
khoa học công nghệ cũng không thể tách rời khỏi quá trình CNH-HĐH. Mục đích
cuối cùng cũng chỉ là phục vụ cho công cuộc CNH-HĐH toàn diện, đủ sức tự
mình vơn lên phát triển dần kinh tế tri thức.
Coi khoa học công nghệ và giáo dục đào tạo là yếu tố quyết định quá trình

3. Tranh thủ thu hút vốn đầu t trực tiếp của nớc ngoài (FDI) theo hớng
phát triển kinh tế
Sau khi luật đầu t nớc ngoài tại Việt Nam đợc ban hành (12/1987)nhiều dự án
đầu t nớc ngoài đợc đa vào thực hiện ở nớc ta góp phần quan trọng vào việc bổ
sung cho nguồn vốn trong nớc, tăng năng lực sản xuất của nền kinh tế, giải quyết
việc làm, chuyển giao công nghệ kinh nghiệm quản lý cũng nh tăng kim nghạch
xuất khẩu và thu ngân sách hằng năm
Trong 5 năm (1996-2000) tổng số vốn FDI đa vào thực hiện (không kể phần
góp vốn trong nớc) đạt khoảng 10 tỷ USD (theo giá 1995), gấp 1, 5 lần so với 5
năm trớc.
Cơ cấu thu hút vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài ngày càng phù hợp với yêu cầu
chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nớc ta; tỷ lệ vốn USD thu hút vào lĩnh vực sản xuất
vật chất, kết cấu hạ tầng kinh tế tăng từ 62% năm 1995 lên 85%vào năm 2000.Các
doanh nghiệp có vốn đầu t nơc ngoài đã tạo ra 34% giá trị sản xuất toàn ngành
công nghiệp, khoảng 23% kim ngạch xuất khẩu(cha kể dầu khí)và đóng góp trên
12% GDP của cả nớc.Khu vực kinh tế có vốn đầu t nớc ngoài đã thu hút trên 35
vạn lao động trực tiếp và hàng chục vạn laộng gián tiếp làm việc trong các ngành
xây dựng, thơng mại, dịch vụ có liên quan; góp phần quan trọng vào chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, nâng cao trình độ công nghệ, trình độ quản lý và mở rộng thị trờng,
góp phần thực hiện CNH-HĐH đất nớc.
13
Kinh nghiệm của nhiều nớc trong việc thu hút vốn đầu t nớc ngoài cho thấy
để thu hút vốn đầu t nớc nhoài cần tạo môi trờng đầu t thuận lợi. Xét từ thực trạng
nớc ta có thể thực hiện một số giải pháp sau:
- Bảo đảm lợi nhận cao. Đây là động lực cơ bản, là mục đích chủ yếu của các
nhà đầu t. Vấn đề này liên quan trực tiếp tới luật đầu t có đủ sức hấp dẫn đến mức
độ nào, đến triển vọng của nền kinh tế, đến dung lợng thị trờng, đến giá cả lao
động cao hay thấp...
Xét về mặt này thì Việt Nam có nhiều khả năng thu hút FDI vì nớc ta nằm
trong khu vực kinh tế năng động nhất của thế giới, có nguồn lao động dồi dào đảm

nghiệp chế biến, những ngành sử dụng nhiều lao động phát huy lợi thế so sánh, lợi
thế cạnh tranh.
Ngày nay, trong cơ cấu kinh tế công nghiệp hàng tiêu dùng sẽ đảm bảo đáp
ứng trực tiệp nhu cầu ngày càng cao của tầng lớp nhân dân; phát triển hàng tiêu
dùng sẽ thúc đẩy các ngành khác cùng phát triển nh nông, lâm, ng nghiệp...thông
qua chế biến gia công của công nghiệp hàng tiêu dùng làm cho sản phẩm trung
gian của các ngành cũng trở thành hàng hoá làm tăng thu nhập dân c, tăng sức
mua của nhân dân, do đó thị trờng tiêu thụ sản phẩm sẽ mở rộng.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy trong điều kiện hiện đại, muốn tăng trởng
nhanh và lâu bền cần tạo ra một động lực mạnh là tăng trởng xuất khẩu. Các nớc
Đông á sở dĩ vợt hẳn nhiều nớc khác có cùng điểm xuất phát là do họ theo đuổi
mô hình tăng trởng đa vào xuất khẩu trong nhiều năm liên tục. Nhng cần lu ý rằng
chiến lợc tăng trởng xuất khẩu đợc thực thi ở đây là tăng trởng xuất khảu hàng chế
tạo chứ không phải là tăng trởng xuất khẩu bất kỳ nào. NigeRa cũng theo mô hình
trăng trởng xuất khẩu nhng đã chịu thất bại vì chủ yếu dựa vào xuất khẩu dầu thô.
Xét trong điều kiện nớc ta còn hạn chế về trình độ cômg nghệ nên phải xuất
khẩu nhiều sản phẩm thô, đặc biệt là dầu thô. Xuất khẩu sản phẩm thô một mặt
giải quyết nhanh sự thiếu thốn về vốn, thu hồi vốn nhanh, không phải qua chế
biến, nhng mặt khác nó làm cho tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt, làm mất một
khoản lợi nhuận lớn. Do đó, chúng ta cần phải phát triển các ngành công nghiệp
chế biến với dây chuyền hiện đại, phát triển các ngành sản xuẫt sản phẩm xuất
khẩu (hàng xuất khẩu tự tạo )
Do đó CNH-HĐH nói chung, CNH hớng về xuất khẩu nói riêng cần có sự
chuyển dịch cơ cấu ngành chế tạo và tỷ lệ hàng chế tạo xuát khẩu có xu hớng tăng
nhanh.
CNH-HĐH đòi hỏi phát triển các ngành công nghiệp, đồng thời việc tăng tỷ
trọng các ngành công nghiệp đặt ra yêu cầu đẩy mạnh các ngành dịch vụ bởi dịch
vụ là đầu nối giữa đầu vào và đầu ra của quá trình sản xuất, đáp ứng tốt cho sản
xuất kinh doanh, tạo điều kiện thúc đẩy khoa học công nghệ phát triển nhanh
chóng, thúc đẩy nền kinh tế phát triển năng động và có hiệu quả. Dịch vụ phátd

vùng lân cận khác phát triển đi lên và tạo thành sự hợp lực chung cho sự
tăng trởng kinh tế của cả nớc.
Là một nớc đông dân, với 78% thuộc nông nghiệp nông thôn và xuất phát
điểm là nền nông nghiệp lúa nớc, vấn đề CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn ở nớc
ta có ý nghĩa quyết định đối với thành công của công cuộc CNH-HĐH đất nớc.Đại
hội Đảng IX đã xác định 3 nhiệm vụ cơ bản cần thực hiện là:
Một là, phải đa năng suất và chất lợng sản phấm nông nghiệp (theo nghĩa
rộng)lên mộy mức cao để đảm baỏ thu nhập của ngời nông dân đợc nâng lên xấp
16

Trích đoạn Thực trạng về chi NSNN trong những năm gần đây Một số giảỉ pháp nâng cao vai trò của chi NSNN trong sự
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status