Luận văn
Vai trò của Nhà nước đối với
quá trình công nghiệp hoá
hiện đại hoá ở nước ta
MỤC LỤC
Trang
A. PHẦN MỞ ĐẦU .................................................................................................. 4
B. NỘI DUNG ........................................................................................................... 6
CHƯƠNG 1: TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN VỀ VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG
QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ ...........................................................................................6
1.1. Vai trò của Nhà nước trong quá trình công nghiệp hoá .............................. 6
1.1.1. Quan niệm công nghiệp hoá- Thực chất công nghiệp hoá.............................. 6
1.1.2. Vì sao hiện nay công nghiệp hoá lại gắn với hiện đại hoá.............................. 7
1.1.3. Vai trò của Nhà nước trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá............ 8
1.2. Tất yếu khách quan vai trò của Nhà nước trong quá trình công nghiệp
hoá............................................................................................................................. 9
3.1. Định hướng quá trình công nghiệp hoá ....................................................... 32
3.1.1. Xác định một cách toàn diện thích hợp hơn quá trình công nghiệp hoá ...... 32
1
3.1.2. Chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế cho phù hợp với bước đi của công nghiệp
hoá hiện đại hoá....................................................................................................... 32
3.1.3. Một số giải pháp cụ thể nhằm củng cố và nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực............................................................................................................................ 33
3.1.4. Một số giải pháp phát triển giáo dục đại học đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực
cho sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước ........................................... 36
3.2. Chính sách phát triển khoa học công nghệ.................................................. 39
3.2.1. Công nghệ nước ngoài .................................................................................. 39
3.2.2. Công nghệ và cán bộ khoa học trong nước................................................... 40
3.2.3. Một số giải pháp tăng cường hiệu quả quản lý Nhà nước về KH - CN........ 42
3.3. Phát triển nguồn vốn...................................................................................... 42
3.3.1. Giải pháp huy động vốn ................................................................................ 42
3.3.2. Giải pháp sử dụng và quản lý vốn................................................................. 44
3.3.3. Đổi mới tổ chức bộ máy tài chính quốc gia và công tác kiểm toán kế toán ..... 45
3.4. Giải pháp trong vấn đề quản lý .................................................................... 48
3.4.1. Xác định đúng phương hướng của cơ chế quản lý........................................ 48
3.4.2. Xây dựng hệ thống luật kinh tế..................................................................... 49
C. KẾT LUẬN ........................................................................................................ 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO....................................................................................... 53
công nghiệp hoá gắn với hiện đại hoá ở nước ta hiện nay như thế nào?
Sự phát triển của nền kinh tế trong hơn mười năm kể từ khi đổi mới đến nay
đã thu được nhiều kết quả đáng kể.Trong đó phải kể đến vai trò rất quan trọng của
Đảng và Nhà nước. Nhà nước là người hoạch định ra các chính sách chiến lược
phát triển kinh tế, phát huy tối đa những mặt tích cực, hạn chế tối thiểu những mặt
tiêu cực của kinh tế thị trường. Mà quan trọng nhất là sự định hướng của nhà nước
để kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa mà nhân dân đã lựa chọn.
Đây là điểm khác biệt giữa cơ chế kinh tế thị trường ở nước ta và các nước khác.
Mặc dù Nhà nước ta đã phát huy vai trò của mình một cách có hiệu quả trong
sự nghiệp này, nhưng không phải là không có hạn chế. Đó là sự cồng kềnh của bộ
máy, chưa xóa bỏ được thói quen của cơ chế cũ, chưa thích nghi với cơ chế mới
nên hiệu quả chưa cao. Để nhận thức rõ hơn về vai trò của nhà nước trong phát
triển kinh tế nói chung và trong công nghiệp hoá hiện đại hoá nói riêng, trong bài
viết này, em xin chọn đề tài: “Vai trò của Nhà nước đối với quá trình công
nghiệp hoá hiện đại hoá ở nước ta”.
Do trình độ có hạn, không thể bao quát được hết mọi khía cạnh của vấn đề to
lớn và khó khăn này, nên phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ xoay quanh một số vấn
đề về vai trò của Nhà nước trong việc phát triển những điều kiện chính của quá
trình công nghiệp hoá hiện đại hoá. Trong bài viết này, em xin được trình bày các
nội dung cơ bản về đề tài trên như: Tại sao công nghiệp hoá lại phải có vai trò của
nhà nước? Nhà nước đóng vai trò quan trọng như thế nào? Thực trạng vai trò của
nhà nước ra sao? Và cuối cùng là một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của nhà
nước trong thời gian tới.Và kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về vai trò
của Nhà nước đối với công nghiệp hoá hiện đại hoá
Liên Xô thời kì đó. Nhưng sẽ là rất sai lầm nếu coi đó là quan niệm phổ biến để áp
dụng cho tất cả các nước đang phát triển trong điều kiện hiện nay.
Năm 1963 tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hợp Quốc đã đưa ra định
nghĩa sau: “Công nghiệp hoá là quá trình phát triển kinh tế, trong quá trình này một
bộ phận ngày càng tăng các nguồn của cải quốc dân được động viên để phát triển
cơ cấu kinh tế nhiều ngành ở trong nước với kĩ thuật hiện đại. Đặt điểm của cơ cấu
này là có một bộ phận chế biến sản xuất ra tư liệu sản xuất và hàng tiêu dùng, có
khả năng bảo đảm đạt tới sự tiến bộ về kinh tế xã hội”.
Hiện nay ở nước ta, công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa được coi là nhiệm vụ
trung tâm của thời kì quá độ. Đảng ta đã xác định thực chất của công nghiệp hoá
xã hội chủ nghĩa là: “Quá trình thực hiện cách mạng kĩ thuật, thực hiện sự phân
công mới về lao động xã hội và là quá trình tích luỹ xã hội chủ nghĩa không ngừng
thực hiện tái sản xuất mở rộng”.
Từ đó cho ta thấy: “Công nghiệp hoá là quá trình xây dựng cơ sở vật chất kĩ
thuật của chủ nghĩa xã hội, do giai cấp công nhân và nhân dân lao động thực hiện
dưới sự chỉ đạo và tổ chức của nhà nước chuyên chính vô sản, sự lãnh đạo của
4
đảng cộng sản. Công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa có nhiệm vụ đưa nền kinh tế
nước ta từ nền sản xuất nhỏ tiến lên sản xuất lớn trở thành một nước công nông
nghiệp hiện đại, văn hoá và khoa học tiên tiến, quốc phòng vững mạnh cuộc sống
ấm no hạnh phúc”. Đường lối công nghiệp hoá được xác định là: “ưu tiên phát
triển công nông nghiệp một cách hợp lí trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công
nghiệp nhẹ”. Đại hội lần thứ VIII của Đảng cộng sản Việt Nam lại một lần nữa xác
định mục tiêu của công nghiệp hoá hiện đại hoá là: “Xây dựng nước ta thành một
nước có cơ sở vật chất kĩ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lí, quan hệ sản xuất tiến
bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và
tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu nước mạnh, xã hội công
bằng văn minh. Từ nay đến năm 2020 ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở
theo kịp các nước phát triển trong khu vực và thế giới. Công nghiệp hoá có thể coi
là cuộc cách mạng khoa học công nghệ lần thứ nhất, hiện đại hoá có thể coi là cuộc
5
cách mạng khoa học lần thứ hai. Muốn rút ngắn khoảng cách tụt hậu giữa nước ta
với các nước phát triển thì chúng ta phải thực hiện đồng thời cả hai cuộc cách
mạng khoa học kĩ thuật hay thực hiện công nghiệp hoá gắn liền với hiện đại hoá.
Có như vậy thì sự nghiệp công nghiệp hoá nền kinh tế quốc dân mới có thể thành
công, đưa đất nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại tiến lên chủ nghĩa
xã hội.
1.1.3. Vai trò của nhà nước trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá
Trước khi nói đến vai trò của nhà nước trong sự nghiệp công nghiệp hoá phải
nói đến vai trò của nhà nước trong nền kinh tế. Nghiên cứu quá trình phát triển của
các nước ASEAN trong mấy thập kỉ qua cho ta thấy: Nhà nước có vai trò đặt biệt
quan trọng đối với sự tăng trưởng kinh tế. Tuy kết quả đạt được không giống nhau
nhưng từ thực tiễn có thể rút ra những vai trò cơ bản sau của nhà nước trong quản
lí vĩ mô:
Nhà nước định hướng chiến lược đúng đắn mang tính chất tiên quyết đối với
sự phát triển kinh tế mỗi nước. Nhà nước có chính sách thu hút vốn đầu tư từ các
nguồn trong và ngoài nước, đặc biệt là vốn đầu tư nước ngoài, khuyến khích tư bản
nước ngoài đầu tư bằng cách có các chính sách ưu đãi đảm bảo và tạo điều kiện
cho hoạt động của các công ty nước ngoài, lập ra các khu vực mậu dịch tự do. Nhà
nước thực hiện chính sách ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát ổn định tiền
tệ.
Nhà nước điều tiết thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội, xoá đói giảm nghèo.
Ví dụ: chính phủ Malaixia bằng việc thực hiện “mục tiêu là xoá đói giảm nghèo
tiến tới xoá bỏ nghèo và cấu trúc lại nền kinh tế xã hội đã giảm tỉ lệ người sống
dưới mức nghèo khổ từ 49,3% (năm 1970) xuống 17% (1990) và 13,5% (1993).
đẩy nhau phát triển nhưng bao trùm nhất, quyết định nhất là làm cho dân giàu nước
mạnh xã hội công bằng văn minh.
Nhà nước có vai trò quyết định trong việc định hướng cũng như thực hiện các
bước đi của quá trình công nghiệp hoá nền kinh tế. Bởi vì chỉ có nhà nước mới có
thể quyết định:
Mục tiêu chiến lược và kế hoạch tiến hành công nghiệp hoá hiện đại hoá nền
kinh tế trong từng giai đoạn. Huy động và phân bổ tập trung các nguồn lực cần
thiết theo yêu cầu công nghiệp hoá, cân đối và điều chỉnh thường xuyên quá trình
công nghiệp hoá hiện đại hoá.
Đề ra các chính sách cần thiết để khai thác mọi tiềm năng, nguồn lực trong và
ngoài nước để thực hiện nhanh, chắc quá trình công nghiệp hoá.
Nhà nước tổ chức lại, xây dựng lại bộ máy quản lý đủ mạnh về cả chất lượng
và số lượng để quản lý có hiệu quả, kiên quyết thực hiện tiêu chuẩn hoá cán bộ
công chức nhà nước, lựa chọn các cán bộ có khả năng, trình độ kinh nghiệm để
đưa đất nước ta nhanh chóng tiến lên hiện đại hoá hệ thống quản lý nhà nước theo
yêu cầu công nghiệp hoá.
Nhà nước thức hiện việc quản lý quá trình công nghiệp hoá bằng pháp luật và
các văn bản dưới luật. Hoàn thiện và xây dựng mới các công cụ cần thiết như chế
độ thống kê toán và kiểm toán, chế độ tài chính và bao cáo tài chính công khai
chính xác để quản lý thống nhất.
Nhà nước phối hợp, điều hoà các hoạt động trong quá trình công nghiệp hoá
hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân theo mục tiêu và định hướng đúng đắn đã được
xác định, vì quá trình công nghiệp hoá chỉ có thể thành công khi có sự phối hợp cả
về chiều ngang và chiều dọc.
Nhà nước tổ chức việc kiểm tra giám sát quá trình công nghiệp hoá để phát
hiện kịp thời những sai sót lệch lạc mất cân đối. Quyết định đúng đắn việc điều
chỉnh quá trình thực hiện công nghiệp hoá là việc làm cần thiết và thường xuyên để
cân đối lại hoàn chỉnh nâng cao chất lượng hoạt động của các ngành các địa
phương và cơ sở.
Nhà nước đảm bảo đồng bộ các điều kiện chủ yếu để thực hiện thành công
rất quan trọng cần phải giải quyết khi bắt tay vào thực hiện công nghiệp hoá hiện
đại hoá.
Để giải quyết vấn đề này phải có những chính sách đúng đắn của nhà nước,
những chính sách đó sẽ kích thích các đơn vị kinh tế nhanh chóng đổi mới công
nghệ sản xuất.
Chính sách đổi mới mở cửa làm các doanh nghiệp phải đổi mới và nâng cao
trình độ công nghệ. Cơ chế thị trường buộc mọi cơ sở phải tìm cách để tồn tại, để
phát triển.
Muốn vậy chỉ có một con đường là đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ.
Nhà nước khuyến khích phát triển công nghệ bằng các chính sách: Ưu đãi trong
việc vay vốn ngân hàng để đầu tư xây dựng, mở rộng cơ sở hiện có, mua máy móc
thiết bị mới cần thiết cho sản xuất tạo điều kiện thuận lợi trong xuất nhập khẩu,
nhất là xuất khẩu những sản phẩm do cơ sở mình sản xuất, nhập khẩu máy móc
thiết bị tiên tiến của nước ngoài, đưa cán bộ ra nước ngoài để tiếp cận thị trường,
nghiên cứu học tập công nghệ mới. Chính sách mở cửa với những điều kiện ưu đãi
trong việc đầu tư nước ngoài đã tạo điều kiện cho các đầu tư nước ngoài tìm đến
liên doanh, đem theo những máy móc thiết bị phụ tùng hiện đại, những chuyên gia
kĩ thuật, chuyên gia quản lý tiên tiến của thế giới. Việc đó đã tạo điều kiện cho các
doanh nghiệp trong nước nhanh chóng tiếp cận và tiếp nhận công nghệ tiên tiến
hơn nhiều so với công nghệ hiện có trong nước. Nhà nước cũng là nơi ban hành
8
những chính sách, cơ chế ưu đãi làm động lực kích thích cán bộ hoạt động trong
lĩnh vực khoa học công nghệ trong nước, kích thích phát huy tính sáng tạo nghiên
cứu triển khai khoa học công nghệ mới phục vụ công nghiệp hoá hiện đại hoá đất
nước.
1.2.3. Nhà nước với vai trò phát triển nguồn vốn
Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy nhân tố hàng đầu, nếu không muốn
nói là quan trọng nhất đối với công nghiệp hoá hiện đại hoá cũng như đối với sản
kinh doanh đạt hiệu quả kinh tế cao, để nền kinh tế phát triển bền vững tất yếu phải
bảo toàn và phát triển vốn, phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
1.2.4. Vai trò của nhà nước trong quản lý quá trình công nghiệp hoá hiện đại
hoá
9
Quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá chỉ có thể thành công khi được thực
hiện theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Công nghiệp hoá hiện đại
hoá là một quá trình lâu dài và phức tạp. Nó tuân theo quy luật và tính quy luật của
các quan hệ cung cầu trên thị trường. Điều đó có nghĩa là cơ chế thị trường và các
bộ phận cấu thành: Cung cầu, giá cả, cạnh tranh sẽ quyết định quá trình công
nghiệp hoá, quyết định các phương án phát triển lựa chọn đầu tư... Nhưng cơ chế
thị trường có những khuyết tật và hạn chế riêng của nó, cho nên nếu quá trình công
nghiệp hoá lệ thuộc vào cơ chế thị trường thì sẽ không đạt được những mục tiêu
công bằng xã hội, an ninh quốc gia và sự bền vững của môi trường. Thực tế khách
quan này đòi hỏi phải có sự quản lý của nhà nước. Sự quản lý của nhà nước là một
bộ phận không thể thiếu của cơ chế quản lý quá trình công nghiệp hoá hiện đại
hoá.
Nhà nước quản lý quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá phải là nhà nước
của dân do dân. Nhà nước thực hiện quyền quản lý của mình thông qua các công
cụ chủ yếu như: Định hướng kế hoạch phát triển, hệ thống luật pháp, các chính
sách kinh tế xã hội, các quỹ quốc gia... Thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá
trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế hàng hoá vận động theo cơ chế thị trường
có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhà nước có vai trò
quản lý vĩ mô sau:
Một là, tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho quá trình công nghiệp hoá
hiện đại hoá đảm bảo sự ổn định về chính trị xã hội, thiết lập khuôn khổ luật pháp
thống nhất, có hệ thống chính sách nhất quán để tạo môi trường ổn định và tạo điều
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG
NGHIỆP HOÁ HIỆN ĐẠI HOÁ Ở NƯỚC TA
2.1. Định hướng cho quá trình công nghiệp hoá
2.1.1. Việc đề ra muc tiêu chiến lược kế hoạch bước đi của công nghiệp hoá
Thực hiện công nghiệp hoá nhằm tạo ra những chuyển biến cơ bản về kinh
tế, trên cơ sở đó góp phần cải thiện đời sống vật chất tinh thần của nhân dân đảm
bảo công bằng xã hội. Nhưng việc xác định phương hướng bước đi của công
nghiệp hoá hiện nay còn nhiều thiếu xót bất cập. Tuy nhà nước đã ưu tiên đầu tư
cho phát triển kinh tế nhưng chưa giải quyết thoả đáng mối quan hệ giữa tích luỹ
và tiêu dùng. Các chính sách kinh tế của nhà nước chưa gắn bó hữu cơ với các
chính sách xã hội. Chính sách xoá đói giảm nghèo đã được triển khai nhưng
phương pháp thực hiện chưa hữu hiệu, tốc độ còn chậm. Phương hướng và bước đi
thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá chưa gắn bó chặt chẽ với phương hướng và
bước đi thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chưa định hướng phát triển các
ngành kinh tế mũi nhọn để phát huy có hiệu quả nguồn lực và lợi thế của đất nước.
Định hướng phát triển vẫn còn khá dàn trải, chưa đều cho các ngành, chưa
khai thác và động viên có hiệu quả mọi nguồn lực có sẵn trong nước. Tuy nhà
nước ta đã cố gắng tích cực tranh thủ các nguồn lực từ bên ngoài phù hợp với khả
năng tiếp thu, quản lý và sử dụng công nghệ, nhân lực nhưng không có chính sách
kiểm tra giám sát chặt chẽ nên vẫn còn nhiều lãng phí, kém hiệu quả. Nhà nước
chưa thúc đẩy nhanh chóng quá trình đổi mới thiết bị, công cụ lao động trong các
ngành kinh tế quốc dân, đặc biệt là các ngành trọng điểm.
Việc lựa chọn mục tiêu các giai đoạn thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá
nền kinh tế của nhà nước còn nhiều thiếu xót, chủ quan, nóng vội, duy ý chí, vượt
qua khả năng thực hiện.
2.1.2. Thực trạng việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với bước đi của quá
nước
Chúng ta đang bước vào thời kỳ phát triển mới rất quan trọng đẩy mạnh công
nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở
thành một nước công nghiệp. Để thực hiện được điều đó, Hội nghị lần thứ II Ban
chấp hành trung ương Đảng khoá VIII đã khẳng định: “Cùng với giáo dục đào tạo,
khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế xã hội,
là điều kiện cần thiết để giữ vững độc lập dân tộc và xây dựng thành công chủ
nghĩa xã hội. Vì thế cần phải “phát huy nguồn lực con người, yếu tố phát triển
mạnh và bền vững”.
Kinh nghiệm cho thấy, hiện đại hoá nền kinh tế ở các nước phát triển, thực
chất là thay đổi cơ cấu công nghiệp dựa trên các ngành công nghệ cao, trong đó
những công nghệ cũ, tiêu hao nhiều tài nguyên và lao động, dựa trên nền tảng điện
cơ khí, được thay thế bằng ngành công nghiệp cao cấp, dựa trên nền tảng cơ điện
tử, giảm suất tiêu hao của các nguồn lực tính trên một đơn vị tổng sản phẩm nội
địa. Sự phát triển của khoa học và công nghệ đang đòi hỏi một nguồn nhân lực mới
phù hợp với nền văn minh trí tuệ. Trí tuệ có tính sáng tạo sẽ là nền tảng của sự
thịnh vượng, giàu có của mỗi xã hội, mỗi quốc gia và được thể hiện qua nguồn
nhân lực của bản thân quốc đó.
2.1.3.1. Thực trạng nguồn nhân lực nước ta hiện nay
Một trong những nguồn nhân lực quan trọng bậc nhất của đất nước hiện nay
là đội ngũ tri thức. Theo thống kê năm 1995 của bộ khoa học công nghệ và môi
trường cho thấy so với một số nước có thu nhập thấp ở mức ngang bằng thì lực
lượng lao động có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ được đào tạo ở nước ta là tương
12
đối lớn.Lực lượng này bao gồm khoảng 9.300 tiến sĩ và phó tiến sĩ; 930.000 người
có trình độ đại học, cao đẳng, trên 3,5 triệu cán bộ kĩ thuật và công nhân kĩ thuật.
Đội ngũ tri thức Việt Nam đã có những công hiến to lớn trong hai cuộc
khoa học như sau: Tự nhiên: 38%; xã hội và nhân văn: 20%; công nghệ: 27%;
dược: 8%; nông nghiệp: 7%. Hơn thế nữa đội ngũ này nằm trong các cơ quan trung
ương tới 94,4%, ở các cơ quan địa phương chỉ 5,4%. Còn trong các doanh nghiệp,
cán bộ đại học và cao đẳng chỉ chiếm 32% so với Hàn Quốc là 48%, Nhật Bản là
64,4%, Thái Lan 58,2%.
Thứ tư, hiện tượng chảy máu chất xám đã và đang xảy ra ngay trong đội ngũ
tri thức. Do nhiều nguyên nhân khác nhau, một bộ phận cán bộ khoa học và công
nghệ không còn hào hứng với công việc của mình, xin được chuyển sang những
ngành nghề không phải được đào tạo, phần lớn là những người khoẻ,trẻ và có
năng lực. Còn sinh viên ra trường chỉ muốn xin vào làm cho các liên doanh, không
13
muốn vào các viện nghiên cứu, trường học hoặc các cơ quan của đảng và nhà
nước.
Như vậy, khai thác tiềm năng của đội ngũ tri thức Việt Nam giàu tính sáng
tạo - một nguồn tài nguyên đặc biệt, đang còn nhiều vấn đề cần phải bàn tới và tìm
hướng giải quyết.
2.1.4. Phát triển giáo dục đại học đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực cho sự
nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước
Trong cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dânViệt Nam, cấp giáo dục nào cũng có
vị trí, tầm quan trọng của nó. Trong từng giai đoạn xác định, tuỳ thuộc vào tình
hình chính trị, kinh tế và xã hội cụ thể mà đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ và có sự sắp
xếp, ưu tiên cho mỗi cấp đào tạo.
Để có nguồn nhân lực dồi dào đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp
hoá hiện đại hoá đất nước hiện nay, chúng ta phải có một nền giáo dục đại học phát
triển. Văn kiện đại hội IX của đảng đã khẳng định trong những năm tới phải: “Phát
triển và nâng cao chất lượng đào tạo đại học, sau đại học ; tập trung đầu tư xây
dựng một số trường đại học trọng điểm quốc gia ngang tầm khu vực, tiến tới đạt