VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA HIỆN ĐẠI HÓA Ở NƯỚC TA - Pdf 30

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Mục lục
Trang
A. Phần mở đầu..................................................................................................4
B. Nội dung...........................................................................................................6
Chơng 1: Tính tất yếu khách quan về vai trò của Nhà nớc trong
quá trình công nghiệp hoá...............................................................................................6
1.1. Vai trò của Nhà nớc trong quá trình công nghiệp hoá.....................................6
1.1.1. Quan niệm công nghiệp hoá- Thực chất công nghiệp hoá..................................6
1.1.2. Vì sao hiện nay công nghiệp hoá lại gắn với hiện đại hoá..................................7
1.1.3. Vai trò của Nhà nớc trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá..................8
1.2. Tất yếu khách quan vai trò của Nhà nớc trong quá trình công nghiệp hoá. .9
1.2.1. Vai trò của Nhà nớc trong việc định hớng cho quá trình công nghiệp hoá ............9
1.2.2. Vai trò của Nhà nớc trong việc phát triển khoa học công nghệ........................11
1.2.3. Nhà nớc với vai trò phát triển nguồn vốn..........................................................13
1.2.4. Vai trò của Nhà nớc trong quản lý quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá...........14
Chơng 2: Thực trạng vai trò của Nhà nớc trong quá trình công
nghiệp hoá hiện đại hoá ở nớc ta..............................................................................16
2.1. Định hớng cho quá trình công nghiệp hoá.......................................................16
2.1.1. Việc đề ra mục tiêu chiến lợc kế hoạch bớc đi của công nghiệp hoá...............16
2.1.2. Thực trạng việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với bớc đi của quá trình
công ngiệp hoá............................................................................................................16
2.1.3. Tạo nguồn lực cho tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc
.....................................................................................................................................17
2.1.3.1. Thực trạng nguồn nhân lực nớc ta hiện nay................................................18
2.1.4. Phát triển giáo dục đại học đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực cho sự nghiệp
công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc.........................................................................20
2.2. Chính sách phát triển công nghệ....................................................................21
2.2.1. Phát triển công nghệ sản xuất...........................................................................21
2.2.2. Phát triển đội ngũ cán bộ khoa học...................................................................23
2.2.3. Nâng cao hiệu quả quảnlý Nhà nớc về khoa học và công nghệ trong thời kì

3.4.1. Xác định đúng phơng hớng của cơ chế quản lý................................................48
3.4.2. Xây dựng hệ thống luật kinh tế.........................................................................49
C. Kết luận.........................................................................................................52
Tài liệu tham khảo......................................................................................53

2
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Lời mở đầu
Bất kì một quốc gia nào muốn phát triển, đạt đợc trình độ một nớc phát triển đều
phải trải qua nấc thang có tính tất yếu lịch sử. Đó là công nghiệp hoá. Trên thế giới
đã có nhiều nớc tiến hành thành công công nghiệp hoá và hiện nay cũng còn nhiều n-
ớc đang tiến hành công nghiệp hoá. Trong các giai đoạn phát triển khác nhau của
lịch sử loài ngời, công nghiệp hoá ở những nớc khác nhau có sự khác nhau về mô
hình, về thời gian thực hiện và do đó có sự khác nhau về ảnh hởng của nó đến phát
triển kinh tế xã hội. Nớc ta bắt đầu công nghiệp hoá từ năm 1960 theo đờng lối do
đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của đảng đề ra. Đến nay sự nghiệp đó vẫn tiếp
tục. Nhng hoàn cảnh, điều kiện quốc tế và trong nớc, trình độ phát triển kinh tế nớc
ta hiện nay khác nhiều so với năm 1960. Điều đó đặt ra nhiều vấn đề lí luận và thực
tiễn phải giải quyết nh: Công nghiệp hoá có còn là tất yếu khách quan nữa không?
Đánh giá nh thế nào về thực trạng công nghiệp hoá ở nớc ta những năm qua? Mục
tiêu, mô hình, nội dung công nghiệp hoá gắn với hiện đại hoá ở nớc ta hiện nay nh
thế nào?
Sự phát triển của nền kinh tế trong hơn mời năm kể từ khi đổi mới đến nay đã
thu đợc nhiều kết quả đáng kể.Trong đó phải kể đến vai trò rất quan trọng của Đảng
và Nhà nớc. Nhà nớc là ngời hoạch định ra các chính sách chiến lợc phát triển kinh
tế, phát huy tối đa những mặt tích cực, hạn chế tối thiểu những mặt tiêu cực của kinh
tế thị trờng. Mà quan trọng nhất là sự định hớng của nhà nớc để kinh tế phát triển
theo định hớng xã hội chủ nghĩa mà nhân dân đã lựa chọn. Đây là điểm khác biệt
giữa cơ chế kinh tế thị trờng ở nớc ta và các nớc khác.
Mặc dù Nhà nớc ta đã phát huy vai trò của mình một cách có hiệu quả trong sự

phổ biến : Công nghiệp hoá là quá trình xây dựng đại cơ khí có khả năng cải tạo cả
nông nghiệp. Đó là sự phát triển công nghiệp nặng với ngành trung tâm là chế tạo
máy. Quan niệm này đợc coi là hợp lí trong điều kiện của Liên Xô thời kì đó. Nhng
sẽ là rất sai lầm nếu coi đó là quan niệm phổ biến để áp dụng cho tất cả các nớc đang
phát triển trong điều kiện hiện nay.
Năm 1963 tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hợp Quốc đã đa ra định
nghĩa sau: Công nghiệp hoá là quá trình phát triển kinh tế, trong quá trình này một
bộ phận ngày càng tăng các nguồn của cải quốc dân đợc động viên để phát triển cơ
cấu kinh tế nhiều ngành ở trong nớc với kĩ thuật hiện đại. Đặt điểm của cơ cấu này là
có một bộ phận chế biến sản xuất ra t liệu sản xuất và hàng tiêu dùng, có khả năng
bảo đảm đạt tới sự tiến bộ về kinh tế xã hội.
Hiện nay ở nớc ta, công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa đợc coi là nhiệm vụ trung
tâm của thời kì quá độ. Đảng ta đã xác định thực chất của công nghiệp hoá xã hội
4
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
chủ nghĩa là: Quá trình thực hiện cách mạng kĩ thuật, thực hiện sự phân công mới
về lao động xã hội và là quá trình tích luỹ xã hội chủ nghĩa không ngừng thực hiện
tái sản xuất mở rộng.
Từ đó cho ta thấy: Công nghiệp hoá là quá trình xây dựng cơ sở vật chất kĩ
thuật của chủ nghĩa xã hội, do giai cấp công nhân và nhân dân lao động thực hiện dới
sự chỉ đạo và tổ chức của nhà nớc chuyên chính vô sản, sự lãnh đạo của đảng cộng
sản. Công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa có nhiệm vụ đa nền kinh tế nớc ta từ nền sản
xuất nhỏ tiến lên sản xuất lớn trở thành một nớc công nông nghiệp hiện đại, văn hoá
và khoa học tiên tiến, quốc phòng vững mạnh cuộc sống ấm no hạnh phúc. Đờng lối
công nghiệp hoá đợc xác định là: u tiên phát triển công nông nghiệp một cách hợp lí
trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ. Đại hội lần thứ VIII của
Đảng cộng sản Việt Nam lại một lần nữa xác định mục tiêu của công nghiệp hoá
hiện đại hoá là: Xây dựng nớc ta thành một nớc có cơ sở vật chất kĩ thuật hiện đại,
cơ cấu kinh tế hợp lí, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực
lợng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
kinh tế thì sẽ không đáp ứng đợc nhu cầu phát triển của xã hội, không thể theo kịp
các nớc phát triển trong khu vực và thế giới. Công nghiệp hoá có thể coi là cuộc cách
mạng khoa học công nghệ lần thứ nhất, hiện đại hoá có thể coi là cuộc cách mạng
khoa học lần thứ hai. Muốn rút ngắn khoảng cách tụt hậu giữa nớc ta với các nớc
phát triển thì chúng ta phải thực hiện đồng thời cả hai cuộc cách mạng khoa học kĩ
thuật hay thực hiện công nghiệp hoá gắn liền với hiện đại hoá. Có nh vậy thì sự
nghiệp công nghiệp hoá nền kinh tế quốc dân mới có thể thành công, đa đất nớc ta
trở thành một nớc công nghiệp hiện đại tiến lên chủ nghĩa xã hội.
1.1.3. Vai trò của nhà nớc trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá
Trớc khi nói đến vai trò của nhà nớc trong sự nghiệp công nghiệp hoá phải nói
đến vai trò của nhà nớc trong nền kinh tế. Nghiên cứu quá trình phát triển của các n-
ớc ASEAN trong mấy thập kỉ qua cho ta thấy: Nhà nớc có vai trò đặt biệt quan trọng
đối với sự tăng trởng kinh tế. Tuy kết quả đạt đợc không giống nhau nhng từ thực
tiễn có thể rút ra những vai trò cơ bản sau của nhà nớc trong quản lí vĩ mô:
Nhà nớc định hớng chiến lợc đúng đắn mang tính chất tiên quyết đối với sự phát
triển kinh tế mỗi nớc. Nhà nớc có chính sách thu hút vốn đầu t từ các nguồn trong và
ngoài nớc, đặc biệt là vốn đầu t nớc ngoài, khuyến khích t bản nớc ngoài đầu t bằng
cách có các chính sách u đãi đảm bảo và tạo điều kiện cho hoạt động của các công ty
nớc ngoài, lập ra các khu vực mậu dịch tự do. Nhà nớc thực hiện chính sách ổn định
kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát ổn định tiền tệ.
Nhà nớc điều tiết thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội, xoá đói giảm nghèo. Ví
dụ: chính phủ Malaixia bằng việc thực hiện mục tiêu là xoá đói giảm nghèo tiến tới
xoá bỏ nghèo và cấu trúc lại nền kinh tế xã hội đã giảm tỉ lệ ngời sống dới mức
nghèo khổ từ 49,3% (năm 1970) xuống 17% (1990) và 13,5% (1993).
Nhà nớc điều chỉnh kịp thời việc sử dụng các thành phần kinh tế, nhấn mạnh
việc sử dụng các thành phần kinh tế nhng các doanh nghiệp nhà nớc vẫn giữ vai trò
chủ yếu trong các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế. Nhà nớc xây dựng chiến lợc
phát triển nguồn nhân lực, đầu t thích đáng cho giáo dục đào tạo, sử dụng hiệu quả
nguồn lao động đã đợc đào tạo. Tại INĐÔNÊXIA, chí phí của nhà nớc cho giáo dục

Đề ra các chính sách cần thiết để khai thác mọi tiềm năng, nguồn lực trong và
ngoài nớc để thực hiện nhanh, chắc quá trình công nghiệp hoá.
Nhà nớc tổ chức lại, xây dựng lại bộ máy quản lý đủ mạnh về cả chất lợng và
số lợng để quản lý có hiệu quả, kiên quyết thực hiện tiêu chuẩn hoá cán bộ công
chức nhà nớc, lựa chọn các cán bộ có khả năng, trình độ kinh nghiệm để đa đất nớc
ta nhanh chóng tiến lên hiện đại hoá hệ thống quản lý nhà nớc theo yêu cầu công
nghiệp hoá.
Nhà nớc thức hiện việc quản lý quá trình công nghiệp hoá bằng pháp luật và
các văn bản dới luật. Hoàn thiện và xây dựng mới các công cụ cần thiết nh chế độ
thống kê toán và kiểm toán, chế độ tài chính và bao cáo tài chính công khai chính
xác để quản lý thống nhất.
Nhà nớc phối hợp, điều hoà các hoạt động trong quá trình công nghiệp hoá
hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân theo mục tiêu và định hớng đúng đắn đã đợc xác
định, vì quá trình công nghiệp hoá chỉ có thể thành công khi có sự phối hợp cả về
chiều ngang và chiều dọc.
Nhà nớc tổ chức việc kiểm tra giám sát quá trình công nghiệp hoá để phát hiện
kịp thời những sai sót lệch lạc mất cân đối. Quyết định đúng đắn việc điều chỉnh quá
trình thực hiện công nghiệp hoá là việc làm cần thiết và thờng xuyên để cân đối lại
hoàn chỉnh nâng cao chất lợng hoạt động của các ngành các địa phơng và cơ sở.
Nhà nớc đảm bảo đồng bộ các điều kiện chủ yếu để thực hiện thành công công
nghiệp hoá. Những quan điểm phơng hớng bớc đi của công nghiệp hoá có đợc thực
hiện đầy đủ đúng đắn hay không hoàn toàn phụ thuộc vào các điều kiện chủ yếu có
đợc đảm bảo hay không. Nếu không có đủ các điều kiện chủ yếu thì quá trình công
nghiệp hoá sẽ không thể thành công. Từ đó ta thấy vai trò hết sức quan trọng của nhà
nớc trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá nền kinh tế.
1.2.2. Vai trò của nhà nớc trong việc phát triển khoa học công nghệ
Từ trớc đến nay đảng và nhà nớc ta luôn xác định khoa học và công nghệ có vai
trò quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá nền kinh tế. Nghị quyết
hội nghị trung ơng lần thứ VII (khoá VII) đã coi công nghệ là nền tảng của công
nghiệp hoá. Theo những đánh giá của bộ khoa học công nghệ và môi trờng thì trình

mới. Chính sách mở cửa với những điều kiện u đãi trong việc đầu t nớc ngoài đã tạo
điều kiện cho các đầu t nớc ngoài tìm đến liên doanh, đem theo những máy móc thiết
bị phụ tùng hiện đại, những chuyên gia kĩ thuật, chuyên gia quản lý tiên tiến của thế
giới. Việc đó đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nớc nhanh chóng tiếp cận
và tiếp nhận công nghệ tiên tiến hơn nhiều so với công nghệ hiện có trong nớc. Nhà
nớc cũng là nơi ban hành những chính sách, cơ chế u đãi làm động lực kích thích cán
bộ hoạt động trong lĩnh vực khoa học công nghệ trong nớc, kích thích phát huy tính
sáng tạo nghiên cứu triển khai khoa học công nghệ mới phục vụ công nghiệp hoá
hiện đại hoá đất nớc.
1.2.3. Nhà nớc với vai trò phát triển nguồn vốn
Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy nhân tố hàng đầu, nếu không muốn
nói là quan trọng nhất đối với công nghiệp hoá hiện đại hoá cũng nh đối với sản xuất
kinh doanh của nền kinh tế là phải có vốn lớn. Vấn đề huy động vốn cho quá trình
công nghiệp hoá có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế nớc ta. Trớc hết là huy
động vốn từ nội bộ nền kinh tế trong nớc. Đây là nguồn vốn có tính quyết định, là
nhân tố nội lực. Nguồn vốn nội bộ đợc tạo ra từ sự liên doanh liên kết giữa các
ngành, các lĩnh vực, vùng, miền của nền kinh tế đất nớc, từ sự phát triển mạnh mẽ
8
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
của các công ty cổ phần, thông qua việc huy động tiền nhàn rỗi của dân c, của các cơ
sở kinh tế, các tổ chức đoàn thể, các khoản thuế nộp ngân sách của nhà nớc.
Nguồn vốn nội bộ của nền kinh tế có tính chất quyết định trong quá trình công
nghiệp hoá hiện đại hoá nhng vẫn còn hạn hẹp. Các quốc gia khác trên thế giới cũng
nh nớc ta đều phải dùng mọi biện pháp để thu hút vốn đầu t nớc ngoài thông qua các
hình thức: Liên doanh, hợp tác kinh doanh, vay với lãi suất thấp, viện trợ. Trong điều
kiện kinh tế tích luỹ vốn còn chậm thì thu hút đợc nhiều vốn đầu t nớc ngoài là rất
quan trọng. Từ nguồn vốn bên ngoài biến thành nguồn lực trong nớc tạo điều kiện
đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá. Để huy động vốn đầu t nớc ngoài
cần có cơ chế chính sách thoả đáng để thu hút ngày càng nhiều và tranh thủ cùng với
công nghệ tiên tiến. Muốn tiếp nhận vốn đầu t nớc ngoài thì cần phải có một nguồn

chuyển sang nền kinh tế hàng hoá vận động theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của
nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa, nhà nớc có vai trò quản lý vĩ mô sau:
9
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Một là, tạo môi trờng và điều kiện thuận lợi cho quá trình công nghiệp hoá hiện
đại hoá đảm bảo sự ổn định về chính trị xã hội, thiết lập khuôn khổ luật pháp thống
nhất, có hệ thống chính sách nhất quán để tạo môi trờng ổn định và tạo điều kiện
thuận lợi cho công nghiệp hoá.
Hai là, định hớng cho quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá, trực tiếp đầu t
vào một số lĩnh vực để dẫn dắt nền kinh tế phát triển theo hớng xã hội chủ nghĩa, ổn
định môi trờng kinh tế vĩ mô nh: Chống lạm phát, chống khủng hoảng, ngăn ngừa
những đột biến xấu trong nền kinh tế.
Ba là, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội đảm bảo yêu cầu của công
nghiệp hoá hiện đại hoá, thực hiện đúng các chức năng quản lý nhà nớc về kinh tế và
chức năng chủ sở hữu tài sản công cuả nhà nớc.
Bốn là, khắc phục hạn chế các mắt tiêu cực của cơ chế thị trờng, phân phối thu
nhập quốc dân một cách công bằng, thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá gắn với
tiến bộ xã hội và công bằng xã hội.
Ngoài ra vai trò của nhà nớc trong việc tổ chức quản lý quá trình công nghiệp
hoá hiện đại hoá còn thể hiện trong việc lựa chọn sử dụng những công cụ quản lý có
hiệu quả cao nh hệ thống pháp luật, các chính sách kinh tế xã hội đặc biệt là các
chính sách kinh tế nhằm tạo ra động lực mạnh mẽ thúc đẩy quá trình công nghiệp
hoá, lựa chọn các phơng pháp quản lý nh: Giáo dục, thuyết phục, động viên, phơng
pháp tổ chức hành chính, phơng pháp kinh tế, bố trí hợp lý các cán bộ đầu ngành chủ
chốt trong các cơ quan quản lý, tóm lại nhà nớc có vai trò rất quan trọng trong việc
quản lý quá trình công nghiệp hoá.
Chơng 2: Thực trạng vai trò của nhà nớc trong quá trình công
nghiệp hoá hiện đại hoá ở nớc ta
2.1. Định hớng cho quá trình công nghiệp hoá
2.1.1. Việc đề ra muc tiêu chiến lợc kế hoạch bớc đi của công nghiệp hoá

cấu kinh tế bớc đầu có sự chuyển biến đáng khích lệ: Tỷ trọng công nghiệp và xây d-
ng trong GDP từ 22,7% năm 1990 tăng lên 30,1% năm 1995; tỷ trọng ngành dịch vụ
từ 38,6% năm 1990 tăng lên 42,4% năm 1995.Nớc ta đã chuyển hẳn sang một thời kì
mới, thời kì đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá, phát triển và chuyển dịch cơ
cấu kinh tế theo hớng công nghiệp hoá hiện đại hoá để đến năm 2000 về cơ bản nớc
ta trở thành một nớc công nghiệp.
Tuy vậy nhng về cơ cấu ngành kinh tế, nhà nớc cha thúc đẩy nhanh các vùng
tập chung chuyên canh, chậm đa công nghệ sinh học và các phơng pháp canh tác tiên
tiến vào nông nghiệp, công nghiệp chế biến nông lâm thuỷ sản xuất khẩu cha phát
triển, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng cơ bản thiết yếu còn ít ỏi nhỏ bé. Ngành
cơ khí cha hớng vào sản xuất công cụ thiết bị phục vụ sản xuất nông lâm ng nghiệp,
thiết bị phục vụ công nghiệp chế biến nông lâm thuỷ sản...
Nhà nớc cha chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế cho phù hợp với bớc đi của công
nghiệp hoá hiện đaị hoá. Tỷ trọng GDP của ngành nông nghiệp vẫn còn ở mức cao,
tỷ suất hàng hoá nông lâm sản thấp, tỷ trọng hàng xuất khẩu nhỏ bé manh mún.
Tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong tổng GDP còn thấp. Công nghiệp chế
biến nông lâm hải sản và công nghiệp chế biến hàng tiêu dùng để xuất khẩu phát
triển chậm
2.1.3. Tạo nguồn lực cho tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất n-
ớc
Chúng ta đang bớc vào thời kỳ phát triển mới rất quan trọng đẩy mạnh công
nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc, phấn đấu đến năm 2020 đa nớc ta cơ bản trở thành
11
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
một nớc công nghiệp. Để thực hiện đợc điều đó, Hội nghị lần thứ II Ban chấp hành
trung ơng Đảng khoá VIII đã khẳng định: Cùng với giáo dục đào tạo, khoa học và
công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế xã hội, là điều kiện
cần thiết để giữ vững độc lập dân tộc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Vì
thế cần phải phát huy nguồn lực con ngời, yếu tố phát triển mạnh và bền vững.
Kinh nghiệm cho thấy, hiện đại hoá nền kinh tế ở các nớc phát triển, thực chất

cuối thế kỉ XX, nhất là cán bộ đầu đàn.
Thứ hai, việc đầu t cho khoa học và công nghệ cũng nh giáo dục và đào tạo cha
đủ để phát triển nguồn lực. Chúng ta muốn mau chóng trở thành một nớc công
nghiệp, muốn hội nhập với thế giới, phát triển giáo dục và đào tạo, tạo nguồn nhân
lực, nhân tài, phải luôn đợc coi là quốc sách hàng đầu. Đảng và chính phủ ta đã có
những cố gắng lớn tăng nguồn đầu t tài chính cho giáo dục và đào tạo. Tỉ trọng ngân
sách nhà nớc chi cho giáo dục và đào tạo tăng hàng năm và tăng nhanh chóng những
năm gần đây, từ 5,83% năm 1986 với mức chi 120 tỉ đồng, đến năm 1990 tăng lên
12
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
8,9% với mức chi 9186 tỉ và năm 1996 là 10,08% với mức chi là 70000 tỉ. Tuy vậy tỉ
lệ này còn thấp so với các nớc trên thế giới và khu vực.
Thứ ba, cơ cấu nguồn nhân lực của nớc ta hiện nay cha hợp lý: 1 đại học/ 1,6
trung học chuyên nghiệp/ 3 công nhân. Tỉ lệ lao động đã qua đào tạo ở nớc ta mới
chỉ đạt 10% so với tổng số lao động là quá thấp. Việc phân bố cán bộ theo ngành
nghề cũng còn rất bất cập. Theo con số của tổng cục thống kê năm 1997 cơ cấu cán
bộ khoa học và công nghệ có trình độ tiến sĩ và phó tiến sĩ theo các ngành khoa học
nh sau: Tự nhiên: 38%; xã hội và nhân văn: 20%; công nghệ: 27%; dợc: 8%; nông
nghiệp: 7%. Hơn thế nữa đội ngũ này nằm trong các cơ quan trung ơng tới 94,4%, ở
các cơ quan địa phơng chỉ 5,4%. Còn trong các doanh nghiệp, cán bộ đại học và cao
đẳng chỉ chiếm 32% so với Hàn Quốc là 48%, Nhật Bản là 64,4%, Thái Lan 58,2%.
Thứ t, hiện tợng chảy máu chất xám đã và đang xảy ra ngay trong đội ngũ tri
thức. Do nhiều nguyên nhân khác nhau, một bộ phận cán bộ khoa học và công nghệ
không còn hào hứng với công việc của mình, xin đợc chuyển sang những ngành nghề
không phải đợc đào tạo, phần lớn là những ngời khoẻ,trẻ và có năng lực. Còn sinh
viên ra trờng chỉ muốn xin vào làm cho các liên doanh, không muốn vào các viện
nghiên cứu, trờng học hoặc các cơ quan của đảng và nhà nớc.
Nh vậy, khai thác tiềm năng của đội ngũ tri thức Việt Nam giàu tính sáng tạo -
một nguồn tài nguyên đặc biệt, đang còn nhiều vấn đề cần phải bàn tới và tìm hớng
giải quyết.

học chia làm hai trình độ là trình độ cao đẳng và trình độ đại học, cấp sau đại học có
hai trình độ là trình độ thạc sĩ và trình độ tiến sĩ. Cấp sau đại học trớc đây đào tạo ba
trình độ: Thạc sĩ, phó tiến sĩ và tiến sĩ, nhng cách tổ chức này sẽ kéo dài thời gian
học tập của học sinh tại trờng, thời gian phục vụ xã hội và cống hiến cho khoa học sẽ
rút ngắn, do vậy, cấp sau đại học bỏ bớt trình độ phó tiến sĩ, chỉ còn hai trình độ là
thạc sĩ và tiến sĩ. Sự điều chỉnh đó là phù hợp, tạo ra sự thống nhất về hệ thống văn
bằng giữa nớc ta với các nớc trong khu vực và thế giới, tạo điều kiện thuận lợi trong
quá trình giao lu giáo dục đào tạo. Những chuyển biến có tầm chiến lợc ở giáo dục
đại học có tác dụng đầu tàu đối với toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân, thúc đẩy sự
phát triển mạnh ở giáo dục phổ thông, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề. Những
chuyển biến bớc đầu sang một thế mới, một trạng thái mới của giáo dục đại học có
tác dụng to lớn về đào tạo cán bộ, nghiên cứu khoa học, lực lợng lao động sản xuất
phục vụ xã hội, góp phần to lớn vào quá trình ổn định và tăng trởng kinh tế xã hội ở
nớc ta.
2.2. Chính sách phát triển công nghệ
2.2.1. Phát triển công nghệ sản xuất
Đất nớc ta đang chuyển hẳn sang hoạt động theo cơ chế thị trờng với nền kinh
tế mở, phải cạnh tranh trên thị trờng trong nớc và thị trờng thế giới. Chúng ta đã thấy
đợc chính sách và cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp của Nhà nớc đã
kìm hãm việc đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ sản xuất ở nớc ta nh thế nào.
Chính vì vậy mà những chính sách kinh tế và cơ chế quản lý kinh tế mới ban hành
nhằm kích thích đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ đã nhanh chóng tìm đợc sự
hởng ứng và đón nhận, đem lại kết quả ban đầu đáng khích lệ. Những chính sách và
cơ chế mới ban hành của Nhà nớc trong thời gian qua nhằm tạo quyền chủ động cho
các đơn vị sản xuất trong việc ứng dụng các tiến bộ của khoa học và công nghệ sản
xuất đã có tác dụng giúp nhiều cơ sở sản xuất đứng vững đợc trong cạnh tranh mạnh
mẽ trên thị trờng, bớc đầu làm ăn có hiệu quả. Ví dụ nh nghị quyết số 217 - HĐBT
ngày 14/11/98 về các chính sách đổi mới kế hoạch hoá và hạch toán kinh doanh đối
với các xí nghiệp công nghiệp quốc doanh (ban hành theo nghị định số 50 - HDBT
ngày 22/3/1998) đã có những tác động tích cực, làm các doanh nghiệp Nhà nớc độc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status