DIỄN ĐÀN SINH VIÊN THƯƠNG MẠI – SVTM.VN
Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc
BIÊN BẢN HỌP NHÓM LẦN 1
I.Tên công việc: Họp nhóm bàn về đề tài thảo luận.
II. Thời gian, địa điểm:
- Thời gian: 15h45 – 4h, ngày tháng … năm 20
- Địa điểm: Tại ghế đá thư viện trường đại học thương mại.
III. Thành phần tham gia:
1. … ( Nhóm trưởng )
2. …
3.
4. …
IV. Đánh giá của nhóm trưởng:
Các thành viên tham đầy đủ, đúng giờ và tinh thần trách nhiệm cao.
Hà Nội, ngày tháng năm 20
Nhóm trưởng
1
DIỄN ĐÀN SINH VIÊN THƯƠNG MẠI – SVTM.VN
Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc
BIÊN BẢN HỌP NHÓM LẦN 2
I.Tên công việc: Họp nhóm phân công nhiệm vụ.
II. Thời gian, địa điểm:
- Thời gian: h – h, ngày tháng năm 20
- Địa điểm: Tại ghế đá thư viện trường đại học thương mại.
III. Thành phần tham gia:
1.
2.
3.
4.
giá
1.
2.
3.
4.
Chú thích:
A. Tích cực.
B. Trung Bình
C. Không Tham Gia.
Nhóm trưởng
4
DIỄN ĐÀN SINH VIÊN THƯƠNG MẠI – SVTM.VN
Mở đầu
Để đảm bảo thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước, cần phải chú trọng vào việc bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người. Với tư
cách là mục tiêu và động lực phát triển, con người có vai trò to lớn không những trong
đời sống kinh tế mà còn trong các lĩnh vực hoạt động khác. Bởi vậy phải quan tâm,
nâng cao chất lượng con người, không chỉ với tư cách là người lao động sản xuất, mà
với tư cách là công dân trong xã hội, một cá nhân trong tập thể, một thành viên trong
cộng đồng nhân loại Không thể thực hiện được công nghiệp hoá, hiện đại hoá nếu
không có đông đảo đội ngũ công nhân lành nghề, các nhà khoa học kỹ thuật tài năng,
giỏi chuyên môn nghiệp vụ, nhà lãnh đạo, quản lý tận tụy, biết nhìn xa trông rộng…
Vậy nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay như thế nào? Phải làm gì để nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực? Đây thực sự là những vấn đề vô cùng quan trọng và cấp
bách. Vì vậy, qua thời gian tìm hiểu, dưới sự hướng dẫn của cô giáo, nhóm 11 đã
nghiên cứu đề tài:
“ Phát huy vai trò nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện
đại hoá ở nước ta hiện nay’’.
Mặc dù các thành viên trong nhóm cố gắng thực hiện đề tài nhưng không tránh
khỏi những thiếu sót. Chúng em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của cô
động tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội
Nguồn nhân lực dự trữ:
Là những người trong độ tuổi lao động,có khả năng lao động và có nguyện
vọng tham gia vào các hoạt động tạo ra của cải vật chất cho xã hội nhưng vì 1 số lí do
nào đó mà không thể tham gia lao động và phải thực hiện những công việc không
nhằm mục đích tạo ra của cải cho xã hội.
6
DIỄN ĐÀN SINH VIÊN THƯƠNG MẠI – SVTM.VN
1.2 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa- quan niệm và mục tiêu của Đảng
1.2.1. Quan niệm của Đảng cộng sản Việt Nam
CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất,
kinh doanh, dịch vụ và quản lí kinh tế xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính
sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động, cùng với công nghệ, phương tiện,
phương pháp hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học
công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao.
1.2.2. Mục tiêu của Công nghiệp hóa hiện đại hóa
Mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa là xây dựng đất nước ta thành một
nước công nghiệp có cơ sớ vật chất kĩ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lí, quan hệ
sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển lực lượng sản xuất, đời sống vật chất
và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, văn minh.
2. Vai trò nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa
2.1 Nguồn nhân lực là yếu tố quyết định sự thành công của quá trình CNH-HĐH
Công nghiệp hoá - Hiện đại hóa đòi hỏi ngoài môi trường chính trị ổn định phải
có cần thiết: nguồn lực con người, vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật,
vị trí địa lý và nguồn lực nước ngoài. Các nguồn lực này có quan hệ chặt chẽ với nhau
cùng tham gia vào quá trình Công nghiệp hoá – Hiện đại hóa nhưng mức độ tác động
và vai trò của chúng đối với toàn bộ quá trình đó không giống nhau. Trong đó nguồn
lực con người là yếu tố quyết định. Con người với trí tuệ ngày càng phát triển, đổi mới
đang từng bước làm chủ tự nhiên, ngày càng khám phá ra những tài nguyên thiên
học - kỹ thuật và công nghệ đã tạo ra những công cụ chủ yếu trong sản xuất và chính
khoa học - kỹ thuật và công nghệ lại là cơ sở cho sự phát triển của bản thân nó.
Phải nói rằng khoa học - kỹ thuật và công nghệ trước tiên là sản phẩm
của quá trình hoạt động nhận thức của con người, là sản phẩm của sự phát triển trí tuệ
con người, gắn liền với con người. Con người sáng tạo ra và quyết định xu hướng
tốc độ phát triển của khoa học - kỹ thuật và công nghệ. Chính con người quyết định
việc sử dụng những loại tri thức khoa học – kỹ thuật và công nghệ nào vào sản xuất và
8
DIỄN ĐÀN SINH VIÊN THƯƠNG MẠI – SVTM.VN
sử dụng chúng như thế nào để sản xuất có hiệu quả nhất. Con người sử dụng khoa học
– kỹ thuật và công nghệ - sản phẩm lao động trí tuệ của mình để cải tạo đối tượng lao
động, biến đổi giá trị của các tài nguyên thiên nhiên, cải tiến và sử dụng công cụ lao
động, tư liệu lao động. Đồng thời con người sử dụng các tri thức khoa học kỹ thuật
và công nghệ để phát triển, hoàn thiện bản thân mình với tư cách là một lực lượng sản
xuất.
2.3. Vai trò con người trong việc phát triển kinh tế
Sự thành công trong Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đòi hỏi phải có các nguồn lực
cần thiết: con người, vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật, vị trí địa lý
và nguồn lực nước ngoài. Nhưng các nguồn lực khác chỉ trở thành nguồn lực quan
trọng, cần thiết của sự phát triển khi nó được con người sử dụng đúng mục đích và có
hiệu quả cao. Với xu hướng Quốc tế hóa đời sống kinh tế - xã hội, sự hợp tác và đầu
tư của nước ngoài cũng là một nguồn lực quan trọng nhưng tác động của nó như thế
nào còn tùy thuộc vào yếu tố con người khi tiếp nhân nguồn lực đó.
Quá trình Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá xã hội do con người tổ
chức, thực hiện do đó phải có sự hiện diện của con người trong công tác quản lý.
Nghĩa là phải dựa vào năng lực của con người. Quá trình CNH- HĐH sẽ không đạt
được kết quả cao nếu năng lực con người không được đáp ứng đúng mức.
Nói tóm lại thiếu sự hiện diện của con người thì mọi tiềm năng sẽ không được
khai thác, mọi nguồn lực sẽ trở nên vô nghĩa. Trong khi các nguồn lực khác đều có
giới hạn, có những nguồn lực có thể bị khai thác cạn kiệt thì nguồn lực con người có
3.2.1 Các mặt hạn chế
Số lượng đông nhưng tỷ lệ qua đào tạo thấp. Thực tế cho thấy hiện chỉ có
khoảng 35% lao động Việt Nam được qua đào tạo và chỉ có khoảng 15-20% lao
động qua đào tạo đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp. Đây là một trong những
trở ngại lớn nhất của Việt Nam khi tiến hành CNH-HĐH đất nước.
10
DIỄN ĐÀN SINH VIÊN THƯƠNG MẠI – SVTM.VN
Đội ngũ cán bộ khoa học trẻ chất lượng còn ít dẫn đến việc tiếp cận và chuyển
giao tri thức còn gặp nhiều khó khăn. Theo thông kê, hiện nay trong tổng số 61000
giảng viên của các trường đại học, cao đẳng trong cả nước có khoảng 320 giảng
viên có chức danh Giáo sư. Và hơn 90% số giáo sư nằm trong độ tuổi từ 55-60; số
cán bộ giảng viên dưới 35 tuổi chỉ chiếm 8%. Điều này nói lên một thực trạng, đội
ngũ cán bộ có trình độ cao đang già đi, trong khi đội ngũ cán bộ kế cận lại có biểu
hiện không muốn kế thừa. Hiện tượng chảy máu chất xám hiện đang là thực trạng
chung mà cần phải có những biện pháp để giữ chân người tài.
Cơ cấu, bố trí sử dụng nguồn nhân lực còn bất hợp lý: theo thống kê thì ở nước
ta hiện nay cứ 1 vạn dân thì có 181 sinh viên đại học, trong khi của thế giới là 100.
Đây chính là thực trạng “ Lắm thầy nhiều thợ”. Ngoài ra việc sử dụng, bố trí cán
bộ còn bất hợp lý giữa các vùng miền. Hầu hết các nguồn lao động có chất lượng
cao đều tập trung ở các thành phố lớn, trong khi đó ở các vùng miền núi nông thôn
lại thiếu trầm trọng. Cùng với đó là mất cân đối giữa các ngành đào tạo. Cụ thể,
sinh viên nhóm ngành kinh tế và quản lý chiếm tỷ trọng cao nhất với 29,86%;
trong khi số sinh viên ngành kỹ thuật công nghệ chỉ chiếm 15,29%. Điều này đã
gây ra hiện tượng thừa thiếu lao động trong một số ngành và gây ra nạn thất nghiệp
hiện nay.
Thể chất, sức khỏe lao động Việt Nam: chất lượng dân số thấp đang là yếu tố
cản trở sự phát triển của xã hội. Mặc dù thời gian qua, chỉ số phát triển con người
(HDI) của Việt Nam liên tục được cải thiện nhưng còn thấp so với thế giới và so
với nhu cầu phát triển của Việt Nam. Theo thông kê, có tới 1,5% dân số Việt Nam
bị thiểu năng về thể lực, trí tuệ, trong đó số trẻ mới sinh ra bị dị tật bẩm sinh do di
Lực lượng và cơ sở trang thiết bị để chăm sóc, cải thiện sức khỏe người dân
vẫn còn nhiều thiếu thốn; đặc biệt là ở vùng núi, vùng sâu vùng xa. Công tác
kiểm tra, giám sát công tác bảo hộ lao động, an toàn lao động và vệ sinh lao động,
chăm sóc sức khỏe con người vẫn còn nhiều hạn chế.
Chưa đầu tư thích đáng cho giáo dục, dạy nghề và hướng nghiệp. Trong hệ
thống các trường đai học, cao đăng, trung cấp chuyên nghiệp… hiện nay có rất ít
trường có cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học đáp ứng đầu đủ công tác dạy học
mà đa số còn thiếu thốn. Cùng với đó vấn đề định hướng nghề nghiệp cũng không
được chú trọng nhiều, đặc biệt là đối với học sinh lớp 12 cuối cấp.
Đội ngũ giảng dạy, đào tạo kiến thức vẫn còn thiếu và yếu về số lượng cũng
như về năng lực. Cán bộ giáo viên ít được tiếp cận với khoa học kỹ thuật, công
nghệ hiện đại đồng thời họ còn bị hạn chế nhiều về năng lực sư phạm, trình độ
ngoại ngữ, tin học nên việc giảng dạy cũng như khai thác sử dụng các phương tiện
thiết bị dạy học vẫn còn gặp nhiều khó khăn.
Một bộ phận nhỏ lao động còn chưa nhận thức đầy đủ về việc nâng cao trình
độ văn hóa, tay nghề; một số cấp ngành địa phương chưa có phương án chuẩn bị
nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế xã hội của địa phương. Một bộ phận lớn
12
DIỄN ĐÀN SINH VIÊN THƯƠNG MẠI – SVTM.VN
học sinh tốt nghiệp THCS, THPT chưa hiểu đúng và lựa chọn ngành nghề cho
riêng mình.
4.
Kiến nghị và giải pháp
Để khắc phục những hạn chế của nguồn nhân lực nước ta, tạo ra sự thay đổi căn
bản về chất lượng trong nguồn lực con người cần có hàng loạt những giải pháp thích
ứng tạo ra những chuyển biến căn bản, toàn diện nhằm phát triển nguồn nhân lực. Vì
đây chính là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước trong sự nghiệp CNH-HĐH
đất nước thời kỳ đổi mới. Dưới đây là những giải pháp nhằm phát huy nguồn nhân lực
trong sự nghiệp CNH-HĐH ở nước ta mà nhóm đưa ra:
4.1 Kết hợp chiến lược phát triển kinh tế và nhân lực
phát huy khả năng sáng tạo để nền nông nghiệp nước nhà tiến lên mạnh mẽ hơn.
Với nguồn lực từ công nhân, cần tạo điều kiện để đội ngũ công nhân có cuộc
sống khá, no ấm, có điều kiện học tập, chuyên tu để nâng cao tay nghề. Đặc biệt là tổ
chức, đơn vị, Công đoàn cần quan tâm và hỗ trợ đời sống vật chất tinh thần của các
công nhân ngay trong đơn vị mình
Với nguồn lực từ trí thức, đây là những người có thể đưa ra được những
hoạch định, đưa ra được các chính sách, các đường hướng phát triển trong tương lai
của đất nước. Ngoài chế độ ưu đãi về lương còn có nhiều phương thức khác: cung
cấp nhà ở, hỗ trợ bảo hiểm, chăm sóc sức khoẻ chất lượng cao, tạo điều kiện và môi
trường làm việc thuận lợi, du lịch, tín dụng,… Đội ngũ trí thức được xem như tương
lai của đất nước nên việc có những đầu tư cho sự phát triển lâu dài và bền vững của
đội ngũ trí thức được xem như một sự đầu tư đúng đắn của Đảng ta.
Phát triển nguồn nhân lực phải gắn với nâng cao chất lượng chăm sóc sức
khỏe người dân, chính sách lương - thưởng, bảo đảm an sinh xã hội. Đại hội XI đã đề
cập tới việc cụ thể hóa những hoạt động của lĩnh vực này nhằm nâng cao chất lượng
và hiệu quả chăm sóc sức khỏe nhân dân, đáp ứng yêu cầu của quá trình đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với kinh tế tri thức trong bối cảnh hội nhập, cạnh
tranh gay gắt và yêu cầu cường độ lao động cao.
Cải thiện và tăng cường thông tin về các nguồn nhân lực theo hướng rộng rãi
và dân chủ, làm cho mọi người thấy được tầm quan trọng của vấn đề phát triển nguồn
nhân lực ở nước ta và trên thế giới
Bên cạnh đó, cần tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống khung pháp lý, sử
dụng nhân lực phù hợp với cơ chế và thể chế trong nền kinh tế thị trường.
4.3 Nâng cao chất lượng GD-ĐT
Song song với việc phát hiện, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài, phát triển nguồn
nhân lực cần đi đôi với xây dựng và hoàn thiện hệ thống giá trị của con người trong
thời đại hiện nay như trách nhiệm công dân, tinh thần học tập, trau dồi tri thức; có ý
thức và năng lực làm chủ bản thân, làm chủ xã hội; sống có nghĩa tình, có văn hóa, có
14
DIỄN ĐÀN SINH VIÊN THƯƠNG MẠI – SVTM.VN
DIỄN ĐÀN SINH VIÊN THƯƠNG MẠI – SVTM.VN
trong đó phải lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát
triển bền vững.
MỤC LỤC
1. Nhận thức chung 6
1.1 Nguồn nhân lực 1.1.1 Khái niệm chung về nguồn nhân lực 6
1.2 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa- quan niệm và mục tiêu của Đảng 7
1.2.1. Quan niệm của Đảng cộng sản Việt Nam 7
1.2.2. Mục tiêu của Công nghiệp hóa hiện đại hóa 7
2. Vai trò nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa 7
2.1 Nguồn nhân lực là yếu tố quyết định sự thành công của quá trình CNH-
HĐH 7
2.2 Nguồn lực con người trong việc phát triển khoa học kĩ thuật 8
2.3. Vai trò con người trong việc phát triển kinh tế 9
3. Thực trạng nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay 10
3.1 Những thế mạnh của nguồn nhân lực ở Việt Nam 10
16
DIỄN ĐÀN SINH VIÊN THƯƠNG MẠI – SVTM.VN
3.1.1 Lực lượng lao động dồi dào 10
3.1.2 Tỷ trọng lao động 10
3.1.3 Lượng lao động Việt Nam ở nước ngoài 10
3.1.4 Người Việt Nam vốn có bản tính hiếu học, thông minh, cần cù lao động và
đoàn kết. Đó là cơ sở cho việc nắm bắt, tiếp thu, vận dụng nhanh chóng những
sáng tạo, phát minh, sáng kiến khoa học để phục vụ cho sự nghiệp phát triển
kinh tế- xã hội của đất nước 10
3.2. Những mặt hạn chế của nguồn nhân lực nước ta và nguyên nhân 10
3.2.1 Các mặt hạn chế 10
3.2.2. Nguyên nhân 12
4. Kiến nghị và giải pháp 13
4.1 Kết hợp chiến lược phát triển kinh tế và nhân lực 13