Phát huy vai trò nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh thái nguyên - Pdf 10

Phát huy vai trò nguồn lực con người trong sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở
tỉnh Thái Nguyên

Hà Thị Thu Hằng

Trung tâm Đào tạo, Bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị
Chuyên ngành: Triết học; Mã số: 60.22.80.
Người hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Trọng Tuấn
Năm bảo vệ: 2012

Abstract. Luận giải và làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về nguồn lực con người và
phát huy vai trò của nó trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Phân tích, đánh giá
thực trạng phát huy vai trò nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá ở tỉnh Thái Nguyên. Đề xuất phương hướng và giải pháp chủ yếu có tính định hướng
cho việc phát huy vai trò nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá ở tỉnh Thái Nguyên.

Keywords. Triết học; Nguồn lực con người; Thái Nguyên; Lực lượng lao động; Công
nghiệp hóa; Hiện đại hóa

Content.
MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài
Bước sang thế kỷ XXI bất kỳ quốc gia nào trên thế giới cũng đều quan tâm đến các
nguồn lực nhằm tạo ra sự phát triển bền vững, một trong những nguồn lực quan trọng đó
là con người. Thế nhưng nhân tố con người tự nó không thể tạo ra được sức mạnh to lớn
nếu không được phát huy có hiệu quả. Phát huy nhân tố con người ở nước ta hiện nay thực
chất là phát huy một trong những thế mạnh của nội lực đất nước trong quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.

để Thái Nguyên trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại trước năm 2020, góp phần
thúc đẩy phát triển vùng trung du miền núi Bắc Bộ”.
Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Thái Nguyên đã thu được những thành tựu
quan trọng ban đầu, tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) năm 2010 đạt 11%, cao hơn mức
bình quân cả nước; GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt 17,5 triệu đồng/người; năm
2011 đạt 22,3 triệu đồng/người. Với chính sách mở tạo điều kiện cho các thành phần kinh
tế phát triển và đặt biệt với chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài đang là những tiền
đề giúp Thái Nguyên có cơ hội phát triển và hòa mình với nhịp độ phát triển chung của cả
nước. Tuy nhiên thực trạng phát triển của tỉnh còn chưa tương xứng với tiềm năng và thế
mạnh vốn có. Một trong những nguyên nhân chủ yếu là việc nguồn lực con người của Thái
Nguyên chưa được phát huy và sử dụng có hiệu quả như: tình trạng thất nghiệp, thiếu việc
làm, việc làm không thường xuyên, việc làm không hiệu quả còn khá phổ biến, hơn nữa
nhiều tiềm năng quan trọng của nhân tố con người như trí tuệ, nền văn hóa truyền thống
vẫn chưa được phát huy tốt trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Từ những thực trạng trên, tác giả lựa chọn vấn đề: “Phát huy vai trò nguồn lực con
người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Thái Nguyên” làm đề tài
luận văn của mình, góp phần nhỏ vào việc tìm hiểu nguồn lực con người ở Thái Nguyên
và đề xuất những giải pháp nhằm phát huy vai trò nguồn lực con người trong sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá của tỉnh.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm gần đây, vấn đề nguồn lực con người và quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước được rất nhiều các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Nhiều công
trình đã được xuất bản và phổ biến rộng trong xã hội, có thể khái quát thành các khuynh
hướng chính như sau:
Thứ nhất: Vấn đề con người và vai trò của nguồn lực con người trong sự nghiệp công
hóa, hiện đại hóa. Tiêu biểu cho khuynh hướng này có các công trình:
"Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước", Phạm
Minh Hạc chủ biên, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995; “Nguồn lực con người trong
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, của Đoàn Văn Khái, Nxb. Lý luận
chính trị, Hà Nội 1995; “Về vai trò của nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp

nghiệp hóa, hiện đại hóa. Gồm một số công trình đáng chú ý sau:
“Để cho khoa học và công nghệ trở thành động lực của sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa”, Nguyễn Trọng Chuẩn, Tạp chí triết học số 1/1997; “Phát triể giáo dục đào
tạo phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Đỗ Mười,
Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, số 2/1996; “Để giáo dục - đào tạo thực sự trở thành quốc
sách hàng đầu”, Phạm Ngọc Minh, Tạp chí Triết học, số 2/1997; “Nghiên cứu giáo dục
con người và nguồn nhân lực Việt Nam trên con đường phát triển và hội nhập”, Vũ Minh
Chi, Tạp chí Nghiên cứu con người, số 5/2002; “Nguồn lực trí tuệ trong sự nghiệp đổi
mới Việt Nam”, Bùi Thị Ngọc Lan, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002; “Vai trò, vị trí
của người thầy giáo trong việc nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực vì sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Báo cáo khoa học thuộc đề tài nghiên cứu khoa
học cấp cơ sở, Hà Nội, 1999; “Phát triển giáo dục đào tạo với tư cách điều kiện tiên quyết
để phát huy nguồn lực con người, thực trạng và giải pháp”, Vũ Thiện Vương, Tạp chí
Khoa học xã hội số 3/2001; “Những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về tiềm năng
con người và phát huy tiềm năng trí tuệ của con người”, Nguyễn An Ninh, Tạp chí
Nghiên cứu lý luận số 9/1996; “Xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam phục vụ
sự nghiệp chấn hưng đất nước”, Nguyễn Văn Khánh chủ biên, Nxb. Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2010.
Các tác giả đã tập trung làm rõ vai trò của giáo dục đào tạo đối với việc phát huy
nguồn lực con người phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta. Phân
tích rõ vị trí, vai trò, chức năng của nguồn lực trí tuệ, bộ phận trung tâm, làm nên chất
lượng và sức mạnh ngày càng tăng của nguồn lực con người, là tài sản vô giá của mỗi
quốc gia, dân tộc và của toàn nhân loại.
Thứ ba: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa với vấn đề xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm
đà bản sắc dân tộc, phát triển đời sống tinh thần. Với các công trình đáng quan tâm như
sau:
“Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng con người mới”, Võ Nguyên Giáp,
Tạp chí Cộng sản số 6/1990; “Gắn phát triển con người Việt Nam hiện đại với giữ gìn và
phát huy bản sắc văn hóa dân tộc”, Đặng Hữu Toàn, Tạp chí Triết học số 2/2000; “Xây
dựng đạo đức, lối sống và chuẩn giá trị xã hội để phát triển toàn diện con người”, Huỳnh

công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đánh giá thực trạng và đề xuất những giải pháp chủ yếu
nhằm phát huy vai trò nguồn lực con người thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa ở Thái Nguyên.
* Nhiệm vụ:
Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là:
- Luận giải và làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về nguồn lực con người và phát huy
vai trò của nó trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- Phân tích, đánh giá thực trạng phát huy vai trò nguồn lực con người trong sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Thái Nguyên.
- Đề xuất phương hướng và giải pháp chủ yếu có tính định hướng cho việc phát huy vai
trò nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Thái
Nguyên.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
* Đối tượng nghiên cứu:
Vấn đề phát huy vai trò nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay.
* Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu nội dung phát huy vai trò nguồn lực con người trong sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Thái Nguyên trong mối quan hệ với đặc điểm tự
nhiên, kinh tế, văn hoá, xã hội của tỉnh và với nguồn lực con người của cả nước.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận:
Luận văn được triển khai trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin (chủ nghĩa
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử), tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề con
người; các quan điểm cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam về nguồn lực con người.
Ngoài ra những công trình nghiên cứu gần đây về nguồn lực này được tác giả quan tâm,
coi trọng nghiên cứu và kế thừa.
* Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn được thực hiện trên cơ sở sử dụng phương pháp luận luận biện chứng duy vật
và các phương pháp cụ thể khác như: phân tích, tổng hợp, thống kê, điều tra, khảo sát, kết

1.1.1. Nguồn lực con người
“Nguồn lực con người” hay “nguồn nhân lực” là khái niệm được hình thành trong quá
trình nghiên cứu, xem xét con người với tư cách là một nguồn lực, là động lực của sự phát
triển. Các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước gần đây đề cập đến khái niệm
nguồn lực con người với các góc độ khác nhau.
Khái niệm “nguồn lực con người” đã được nhiều nước phương Tây và một số nước châu
Á sử dụng từ những năm 60 của thế kỷ XX dựa trên quan niệm mới về vai trò vị trí con
người trong sự phát triển. Ở Việt Nam, khái niệm này được sử dụng tương đối rộng rãi kể từ
đầu thập niên 90 của thế kỷ XX. Nói đến nguồn lực con người là đề cập tới yếu tố quan
trọng nhất, năng động nhất của việc tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội. Nguồn lực
con người cùng với hoạt động có tính sáng tạo, tác động và làm biến đổi giới tự nhiên, trên
cơ sở đó hình thành nên các quy luật lao động và mối quan hệ xã hội.
Như vậy, qua một số cách tiếp cận về nguồn lực con người và về nguồn nhân lực nói
trên, dưới dạng tổng quát ta có thể hiểu nguồn lực con người là tổng thể những yếu tố
thuộc về thể chất và tinh thần, đạo đức, phẩm chất, trình độ tri thức, vị thế xã hội tạo
thành năng lực của con người và của cộng đồng người. Năng lực đó khi được sử dụng,
phát huy sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội.
Nguồn lực con người là sự thống nhất của ba yếu tố cơ bản: Số lượng nguồn lực con
người; chất lượng nguồn lực con người; cơ cấu nguồn lực con người. Trong đó chất lượng
nguồn lực con người là yếu tố cơ bản, đóng vai trò quyết định nhất, đặc biệt là trong bối
cảnh khoa học - công nghệ phát triển mạnh mẽ như hiện nay.
1.1.2. Vai trò của nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hoá hiện nay
Vai trò của nguồn lực con người đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa được
biểu hiện ở những điểm cơ bản sau:
Một là, trong quan hệ so sánh với các nguồn lực khác, nguồn lực con người là chủ thể
trực tiếp, quyết định toàn bộ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Hai là, con người đồng thời cũng là khách thể được khai thác triệt để trong sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là đối tượng duy nhất mà chính sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa phải hướng vào phục vụ.

phụ thuộc vào chất lượng giáo dục đào tạo, bồi dưỡng nguồn lực con người.
Phát huy vai trò nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
phụ thuộc vào cơ chế chính sách sử dụng nguồn lực con người
Phát huy vai trò nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
phụ thuộc vào bối cảnh kinh tế thị trường và xu thế hội nhập quốc tế.
Thứ nhất, phát huy vai trò nguồn lực con người trong bối cảnh kinh tế thị trường.
Thứ hai, phát huy vai trò nguồn lực con người trong xu thế toàn cầu hóa. Chương 2
PHÁT HUY VAI TRÕ NGUỒN LỰC CON NGƯỜI
TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
Ở THÁI NGUYÊN - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

2.1. Thực trạng phát huy vai trò nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Thái Nguyên
2.1.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên - xã hội của tỉnh Thái Nguyên
* Đặc điểm địa lý và điều kiện tự nhiên:
* Đặc điểm và điều kiện xã hội:
Tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Thái Nguyên trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa
Mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay:
Mục tiêu tổng quát của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Thái Nguyên:
2.1.2. Thực trạng phát huy vai trò nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Thái Nguyên
* Về số lượng, chất lượng và cơ cấu của nguồn lực con người trong sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Thái Nguyên

một số thành tựu tương đối quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội,
an ninh quốc phòng. Một trong những thành tựu phải kể đến đó là việc tỉnh đã thực hiện
phát huy vai trò vô cùng to lớn của nguồn lực con người, tuy nhiên từ thực tiễn cho thấy
còn tồn tại nhiều mâu thuẫn cần phải được giải quyết.
Một là, mâu thuẫn giữa yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn lực con người với việc giải
quyết việc làm cho người lao động của tỉnh hiện có.
Hai là, mâu thuẫn giữa yêu cầu của sự nghiệp công nghiêp hóa, hiện đại hóa với thực tiễn
phát triển kinh tế, xã hội và nguồn lực con người của tỉnh.
Ba là, mâu thuẫn giữa tiềm năng và lợi thế phát triển kinh tế, xã hội với thực trạng đầu
tư phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh chưa tương xứng.
2.2. Phương hướng cơ bản và một số giải pháp chủ yếu phát huy vai trò nguồn lực
con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Thái Nguyên
2.2.1. Phương hướng cơ bản của việc pháp huy vai trò nguồn lực con người trong
sự nghiệp công nghiệp, hiện đại hoá ở tỉnh Thái Nguyên
Lịch sử nhân loại đã chứng minh, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của bất kỳ
một quốc gia nào cũng cần phải có một lực lượng lao động nhất định. Nguồn lao động này
phải có tri thức, trình độ tay nghề, trình độ quản lý lãnh đạo, phẩm chất đạo đức, sức
khoẻ… Để có chính sách và giải pháp phát triển nguồn nhân lực của tỉnh Thái Nguyên phù
hợp, có hiệu quả cần xác định những phương hướng cơ bản làm cơ sở thống nhất trong
nhận thức và hành động cho các cấp, các ngành ở Thái Nguyên. Phát huy vai trò nguồn lực
con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá cần quán triệt các phương hướng
cơ bản sau:
Một là, phát huy vai trò nguồn lực con người theo hướng toàn diện, bền vững đáp ứng
yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong bối cảnh kinh tế thị trường, cách mạng khoa
học - công nghệ và hội nhập quốc tế
Hai là, phát huy vai trò nguồn lực con người phải trên cơ sở điều kiện kinh tế - xã hội,
gắn với thế mạnh vốn có của tỉnh Thái Nguyên.

Con người dù muốn hay không, đều phải sống trong một môi trường kinh tế - xã hội
nhất định. Môi trường kinh tế - xã hội thuận lợi là tổng thể các yếu tố kinh tế, chính trị,
văn hóa, pháp luật, đạo đức, tâm lý, dư luận xã hội, phong tục, tập quán, gia đình… cho
phép con người tự do phát triển và có thể cống hiến tối đa năng lực của mình cũng như
được hưởng thụ nhiều nhất những gì họ xứng đáng được hưởng. Môi trường kinh tế - xã
hội có ảnh hưởng đến tầm vóc, khả năng phản xạ, tâm sinh lý, khả năng phát triển trí
tuệ,… của con người. Chính vì vậy, phải xây dựng môi trường kinh tế - xã hội có một kết
cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và một hệ thống cơ chế, chính sách và pháp luật thuận lợi để
phát triển sản xuất kinh doanh và quá trình sử dụng nguồn lực con người trong sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá có hiệu quả hơn. Cụ thể, tỉnh cần chú ý đến các vấn đề sau:
- Xây dựng quy hoạch hế thống kết cấu hạ tầng đồng bộ và hiện đại, phù hợp với điều
kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh. Chú ý đến các vùng đô thị, các trung tâm công
nghiệp, khu tập trung đông dân cư có điều kiện thu hút vốn và nhiều lao động đến làm
việc.
- Tranh thủ các nguồn vốn đầu tư, ưu tiên đầu tư cho các công trình có quy mô nhỏ,
thời gian thi công ngắn, phát huy hiệu quả nhanh; sử dụng nhiều hình thức huy động vốn,
đầu tư xây dựng các công trình trọng điểm như đường giao thông, bến xe, bệnh viện,
trường học
- Hoàn thiện các cơ chế, chính sách và pháp luật tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất
kinh doanh, thu hút thêm lao động. Quá trình sử dụng và thực thi phải linh hoạt, sát hợp
với thực tiễn xã hội của địa phương.
- Xây dựng một môi trường xã hội an bình, ổn định, lành mạnh để mọi người dân yên
tâm sống và làm việc. Đồng thời, cần tạo điều kiện để mọi người dân được tự do phát triển
toàn diện cá nhân trong khuôn khổ cho phép của pháp luật.
- Tiếp tục thực hiện cuộc vận động xây dựng gia đình văn hóa, làng văn hóa, xây dựng
nông thôn mới, xây dựng xã hội học tập nhằm tạo ra dư luận xã hội đề cao việc học. Duy
trì và phát triển các lễ hội truyền thống, các hoạt động biểu diễn nghệ thuật giàu tính nhân
văn và giáo dục như: lễ hội Lồng Tồng (ATK- Định Hoá ), lễ hội Núi Văn -Núi Võ (Ký
Phú - Đại Từ), lễ hội Chùa Hang (thị trấn Chùa hang - Đồng Hỷ), lễ hội Đền Đuổm (Động
Đạt - Phú Lương)… tạo điều kiện cho người dân vui chơi sau những ngày làm việc căng

cới cách mạng Sức mạnh của nguồn lực con người được cấu thành và tạo nên bởi nguồn
lực của cá nhân, tập thể và xã hội mối quan hệ hữu cơ thống nhất mà lợi ích là cốt lõi vật
chất. Do đó, yêu cầu các chính sách của tỉnh phải xuất phát từ nhu cầu của đại đa số quần
chúng nhân dân. Các chính sách đó phải khuyến khích lợi ích, đảm bảo tốt lợi ích của
người lao động, các đơn vị, địa phương cũng như toàn xã hội bằng việc thừa nhận sự đãi
ngộ về vật chất và tinh thần.
- Gắn phát triển với khai thác, sử dụng nguồn lực con người
Vấn đề giải quyết việc làm đang là một trong những vấn đề bức xúc nhiều quốc gia trên
thế giới. Nguồn lực con người có phát huy được hay không trước hết phụ thuộc vào việc
người lao động có việc làm hay không. Mọi lao động đều có việc làm được coi là một nhiệm
vụ cấp bách đối với tỉnh Thái Nguyên trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện
nay. Muốn vậy, chính sách lao động và việc làm phải hướng vào việc khai thác triệt để, hợp
lý, có hiệu quả nguồn lao động của tỉnh với phương châm là bảo đảm và tạo điều kiện cho
mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm. Do đó, tỉnh phải tiến hành xã hội
hóa công tác giải quyết việc làm; tạo điều kiện thuận lợi để các cá nhân và tổ chức mở rộng
sản xuất, khôi phục, duy trì và phát triển các ngành nghề truyền thống; mở thêm nhiều
ngành nghề mới, khuyến khích người lao động tự tạo và tìm việc làm; phối hợp chặt chẽ
giữa doanh nghiệp và cơ sở đào tạo, phát triển các trung tâm giới thiệu việc làm tạo cầu nối
cho người lao động và đơn vị tuyển dụng; phát triển các loại hình cho vay vốn ưu đãi để
phát triển và mở rộng sản xuất; đẩy mạnh xuất khẩu lao động.
- Bố trí, phân công lao động hợp lý để người lao động phát huy được những năng lực
sở trường của mình.
Phân công lao động một cách hợp lý tạo môi trường làm việc thuận lợi, người lao động
được làm việc đúng chuyên môn sở trường, sở thích, do vậy họ sẽ phát huy tốt nhất năng
lực của mình.
Trong giai đoạn hiện nay, để phát huy tốt nhất năng lực của người lao động đáp ứng
yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Thái Nguyên cần thực hiện việc tuyển dụng và sử
dụng nguồn lực con người theo cơ chế thị trường có sự quản lý, hướng dẫn của Nhà nước.
Thực hiện chế độ thi tuyển nghiêm túc, khách quan, khoa học với những nội dung và mức
độ yêu cầu khác nhau tùy theo từng loại lao động. Thi tuyển cạnh tranh cần được xem là

phí và nhiều chế độ ưu đãi khác.
- Với đặc thù là tỉnh có nhiều trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, tỉnh
cần phối hợp với Bộ Giáo dục - Đào tạo để tuyển chọn và gửi những cán bộ trẻ có năng lực
đi đào tạo ở các trường đại học lớn trên thế giới.
- Đồng thời có chế độ đãi ngộ cao để thu hút các nhà khoa học, các giảng viên nước
ngoài đến làm việc tại tỉnh.
Đối với những nhân tài, điều quan trọng là nhu cầu tự khẳng định mình và danh dự cá
nhân. Trong nhiều trường hợp còn mạnh hơn cả nhu cầu về vật chất. Do đó, để thu hút và
trọng dụng nhân tài, tỉnh Thái Nguyên cần phải có chính sách tuyển dụng hợp lý, chính
xác, chặt chẽ và có chế độ đãi ngộ thỏa đáng về vật chất - tinh thần và môi trường, điều
kiện, phương tiện làm việc thuận lợi cho họ. Có như vậy mới tạo ra được động lực thúc
đẩy người dân trong tỉnh chú ý đến việc đào tạo chuyên môn nghiệp vụ và đào tạo nghề, từ
đó, nâng cao chất lượng nguồn lực con người đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại
hóa.
- Tạo ra được dư luận xã hội luôn đánh giá cao những người có trình độ học vấn,
chuyên môn nghiệp vụ cao.
Dư luận xã hội có vai trò điều hòa các mối quan hệ xã hội và hành vi của con người.
Nó tác động rất mạnh vào ý thức con người, chi phối ý thức của các cá nhân, nhiều khi nó
còn mạnh hơn cả biện pháp hành chính. Như vậy, dư luận xã hội có thể động viên, khuyến
khích những cá nhân có phẩm chất, năng lực mà cả xã hội nể trọng và những hành động
tốt đẹp của cá nhân hay tổ chức hoặc phê phán, công kích những biểu hiện thiếu đạo đức
của cá nhân hay nhóm người trong xã hội.
Nếu tạo ra được dư luận xã hội luôn đánh giá cao những người có tài, có trình độ học
vấn, chuyên môn nghiệp vụ cao sẽ là động lực kích thích sự phát triển nguồn lực con
người, nhất là về mặt chất lượng. Do vậy, tỉnh cần có biện pháp khen thưởng như tặng
giấy khen và quà đối với học sinh, sinh viên đạt giải cao trong các kỳ thi học sinh giỏi, các
kỳ thi đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề. Những giáo viên có cống
hiến xuất sắc trong công tác giảng dạy thì phải được biểu dương và khen thưởng. Tăng
cường phong trào khuyến học, đề cao, khích lệ và biểu dương truyền thống hiếu học của
các gia đình, các dòng họ, các địa phương. Sự khen thưởng kịp thời của các ban ngành,

tỉnh Thái Nguyên coi vấn đề phát huy vai trò nguồn lực con người ở tỉnh là nhiệm vụ trọng
tâm trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay.
Những năm qua, từ một tỉnh miền núi, với nền sản xuất tự cấp tự túc, trình độ canh tác
lạc hậu, đời sống vật chất của các tầng lớp nhân dân còn rất nghèo nàn, đến nay, kinh tế
của tỉnh đã phát triển nhanh, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực; đưa tỉnh ra
khỏi tình trạng kém phát triển và trở thành một tỉnh công nghiệp, có mức tăng trưởng GDP
bình quân 10 năm qua đạt hơn 10% mỗi năm. Nguồn lực con người của tỉnh đã có bước
phát triển cả về chất và lượng, dần dần khắc phục những bất cập về mặt cơ cấu nguồn
nhân lực. Tuy nhiên, chất lượng nguồn lực con người chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu
của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đội ngũ tri thức phân bổ không đều
giữa các ngành, các địa phương, các thành phần kinh tế nên dẫn đến hạn chế đưa khoa
học, kỹ thuật, công nghệ mới vào trong sản xuất. Nhiều lĩnh vực thiếu cán bộ có trình độ
chuyên môn, quản lý giỏi do nhiều cán bộ được đào tạo chính quy, có chuyên môn lại có
xu hướng chuyển ra khỏi cơ quan nhà nước và khỏi tỉnh. Một bộ phận sinh viên có thành
tích học tập tốt sau khi ra trường không muốn trở về địa phương công tác. Mặc dù có
nhiều biện pháp ưu đãi, thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao song Uỷ ban nhân dân tỉnh
chưa đề ra được chính sách cụ thể như các địa phương khác nên công tác này còn gặp
nhiều hạn chế. Chính vì vậy, Thái Nguyên cần đặc biệt chú trọng, quan tâm đến công tác
phát huy vai trò nguồn lực con người phục vụ cho phát triển kinh tế mà trước hết là đáp
ứng được nhu cầu cung cấp lao động có chất lượng cao cho các khu công nghiệp, dịch vụ
trên địa bàn tỉnh. Để đạt được mục tiêu này, tỉnh cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp
nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn lực con người. Trước hết là nâng cao chất
lượng đào tạo, bồi dưỡng nguồn lực con người. Đẩy mạnh công tác y tế, chăm sóc sức
khỏe, nâng cao chất lượng dân số, cải thiện môi trường sống cho con người. Xây dựng môi
trường kinh tế - xã hội thuận lợi cho việc phát huy nguồn lực con người. Và cuối cùng là
tạo động lực thúc đẩy việc phát huy nguồn lực con người. Giữa các giải pháp có mối quan
hệ hữu cơ với nhau đòi hỏi khi thực hiện phải có sự giải quyết một cách đồng bộ. Có như
vậy mới phát huy được sức mạnh tổng hợp của các giải pháp và đem lại hiệu quả trong
việc đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn lực con người của Thái Nguyên đáp ứng yêu
cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh nói riêng và của cả nước nói chung. Đảng bộ,

10. Đỗ Minh Cương, Bùi Thị Ngọc Loan (2001), Phát triển nguồn nhân lực giáo dục
đại học Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
11. Hồ Anh Dũng (1994), “Để cho khoa học nhanh chóng trở thành lực lượng sản xuất
trực tiếp ở nước ta”, Tạp chí Triết học, (2), tr.19-22.
12. Hồ Anh Dũng (1998), Khai thác một yếu tố cụ thể của lực lượng sản xuất là yếu tố
con người trong lực lượng sản xuất và việc phát huy yếu tố đó ở nước ta hiện nay,
Luận án tiến sĩ Triết học.
13. Nguyễn Hữu Dũng (2003), Sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực con người ở Việt Nam,
Nxb. Lao động - Xã hội, Hà Nội.
14. Trịnh Ngọc Dương (2006), Phát triển nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số trong sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Kon Tum, Luận văn Thạc sĩ Triết học, Học
viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.
15. Võ Văn Đức (chủ biên - 2009), Huy động và sử dụng các nguồn lực chủ yếu nhằm
đảm bảo tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
16. Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên (2000), Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lần
thứ XVI, Thái Nguyên
17. Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên (2005), Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lần
thứ XVII, Thái Nguyên
18. Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên (2010), Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Nam lần thứ
XVIII, Thái Nguyên .
19. Đảng Lao động Việt Nam (1960), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III,
Nxb. Sự thật, Hà Nội.
20. Đảng Lao động Việt Nam (1976), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV,
Nxb. Sự thật, Hà Nội.
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội, Nxb. Sự thật, Hà Nội.
22. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII,
Nxb. Sự thật, Hà Nội.
23. Đảng cộng sản Việt Nam (1994), Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm
kỳ khóa VII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

39. Đoàn Văn Khái (2005), Nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa ở Việt Nam, Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội.
40. Nguyễn Văn Khánh (Chủ biên- 2010), Xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt
Nam phục vụ sự nghiệp chấn hưng đất nước, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
41. Bùi Thị Ngọc Lan (2002), Nguồn lực trí tuệ trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam,
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
42. V.I.Lênin (1974), Toàn tập, tập 1, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva.
43. V.I.Lênin (1978), Toàn tập, tập 29, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva.
44. V.I.Lênin (1977), Toàn tập, tập 36, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva.
45. V.I.Lênin (1977), Toàn tập, tập 38, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva.
46. Trần Hồng Lưu (2010), Vai trò của tri thức khoa học trong sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
47. C.Mác và Ph.Ănghen (1978), Một số thư về chủ nghĩa duy vật lịch sử, Nxb. Sự thật,
Hà Nội.
48. C.Mác và Ph. Ăngghen (1997), Toàn tập, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
49. C.Mác và Ph.Ănghen (1996), Toàn tập, tập 3, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
50. C.Mác và Ph.Ănghen (1995), Toàn tập, tập 4, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
51. C.Mác và Ph. Ăngghen (1981), Tuyển tập, tập 6, Nxb. Sự thật, Hà Nội.
52. C.Mác và Ph.Ănghen (1995), Toàn tập, tập 20, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
53. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 21, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
54. C.Mác và Ph.Ănghen (1993), Toàn tập, tập 23, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
55. Lê Thị Mai (2005), Phát triển nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Bến Tre, Luận văn Thạc sĩ.
56. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 4, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
57. Phạm Công Nhất (2007), Phát huy nhân tố con người trong phát triển lực lượng sản
xuất ở Việt Nam hiện nay, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
58. Bùi Văn Nhơn (chủ biên - 2006), Quản lý và phát triển nguồn nhân lực xã hội, Nxb.
Tư pháp, Hà Nội.
59. Lê Thành Nghị (2006), Nâng cao hiệu quả quản lý nguồn nhân lực trong quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status