phát huy tối đa nguồn lực con người tại ngân hàng Công Thương - Pdf 38

LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quá trình toàn cầu hoá đang diễn ra cả về chiều rộng và chiều sâu, và
thương mại quốc tế tăng trưởng theo cấp số nhân đã đòi hỏi các phương thức
thanh toán quốc tế cũng như nguồn luật điều chỉnh các phương thức này ngày
một hoàn hảo.
Tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán được sử dụng rộng rãi nhất
trong thanh toán quốc tế. Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng
từ (UCP) do ICC phát hành được coi là thành công nhất trong lịch sử thương
mại quốc tế từ trước đến nay. Cùng với UCP, ICC cũng ban hành Tập Quán
Ngân Hàng Tiêu Chuẩn Quốc Tế (ISBP) để điều chỉnh việc tạo lập và kiểm
tra bộ chứng từ thanh toán theo UCP. UCP600 là phiên bản mới nhất được
ICC ban hành ngày 1/7/2007 để thay thế cho UCP500.Và cùng với UCP600,
ICC cũng ban hành Bộ Tập Quán Ngân Hàng Tiêu Chuẩn Quốc Tế mới
ISBP681 để thay thế cho ISBP645.
UCP600 có một số thay đổi cơ bản so với UCP500. Do vậy việc tìm hiểu
về UCP600 cũng như Bộ Tập Quán Ngân Hàng Tiêu Chuẩn Quốc Tế
(ISBP681) là vô cùng cần thiết cho hoạt động của các ngân hàng thương mại.
Lụân văn: “Ứng dụng thực tế của UCP 600 và ISBP 681 trong việc tạo lập
và kiểm tra bộ chứng từ thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ tại
một số ngân hàng thương mại” với những phân tích, đánh giá những điểm
mới của UCP600, tình hình ứng dụng UCP600 và ISBP681 tại một số ngân
hàng thương mại sẽ phần nào đáp ứng yêu cầu nói trên.

1
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu những lý luận cơ bản về phương thức tín dụng
chứng từ và nguồn luật điều chỉnh phương thức này, khoá luận tập trung vào
phân tích những thay đổi cơ bản của UCP600 so với UCP500 và thực tiến áp
dụng UCP600 và ISBP681 tại một số ngân hàng thương mại, từ đó đề xuất
một số giải pháp vi mô và vĩ mô nhằm nâng cao hiệu quả của phương thức tín

cho việc nghiên cứu đề tài. Đồng thời em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới các
thầy giáo, cô giáo trong khoa Kinh Tế & Kinh Doanh Quốc Tế- Trường Đại
Học Ngoại Thương Hà Nội, cùng toàn thể các cán bộ phòng thanh toán quốc
tế của Ngân Hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam, NHTM Cổ Phần Kỹ
Thương Việt Nam, Ngân Hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn chi
nhánh Láng Hạ, Ngân Hàng HSBC đã giúp em hoàn thành khoá luận.

3
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHƯƠNG THỨC TÍN
DỤNG CHỨNG TỪ, UCP600 VÀ ISBP681
I. Phương thức tín dụng chứng từ:
1. Khái niệm phương thức tín dụng chứng từ:
Trước hết cần hiểu phương thức tín dụng chứng từ là một phương thức
thanh toán. Nói đơn giản hơn đó chính là cách mà người nhập khẩu trả tiền và
người xuất khẩu thu tiền về. Trong thương mai quốc tế, hai bên mua bán có
thể lựa chọn một trong số các phương thức thanh toán: Chuyển tiền, ghi sổ,
nhờ thu. Tuy nhiên trong các phương thức đó vai trò của ngân hàng chưa cao,
chưa phát huy được thế mạnh của ngân hàng.
Từ thực tiễn sự phát triển của thương mại quốc tế hiện nay, yêu cầu một
phương thức thanh toán mới vừa đảm bảo được quyền lợi của người mua và
người bán đồng thời lại phát huy được thế mạnh của ngân hàng- một trung
gian tài chính có uy tín và có tiềm lực kinh tế lớn? Phương thức ấy phải đảm
bảo rằng người bán chắc chắn sẽ thu được tiền khi đã giao hàng theo đúng
quy định trong hợp đồng, đồng thời cũng phải đảm bảo rằng khi người mua
trả tiền thì chắc chắn người mua sẽ nhận được hàng đúng theo yêu cầu của
hợp đồng mua bán.
Một phương thức thanh toán hữu hiệu nhất, an toàn nhất cho cả người
mua, người bán đồng thời lại có thể phát huy được thế mạnh của ngân hàng
đã ra đời. Đó chính là phương thức tín dụng chứng từ (documentary credit)
Theo điều 2 UCP600 (Quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng

- Ngân hàng thông báo: Là ngân hàng ở nước người hưởng lợi

5
Quy trình thanh toán thư tín dụng như sau:
Các bước cụ thể bao gồm:
(1)Hợp đồng ngoại thương đựơc ký kết giữa người xuất khẩu và người
nhập khẩu
(2) Người nhập khẩu làm đơn xin mở thư tín dụng gửi đến ngân hàng
phát hành yêu cầu mở một thư tín dụng cho người xuất khẩu hưởng.
Thông thường khi làm đơn xin mở thư tín dụng, người nhập khẩu phải
cung cấp cho ngân hàng các giấy tờ cần thiết tuỳ theo yêu cầu của ngân hàng
phát hành, thông thường gồm những giấy tờ sau: hợp đồng ngoại thương, giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy phép xuất nhập khẩu hàng hoá (nếu là
hàng hoá thuộc đối tượng chịu hạn ngạch xuất nhập khẩu)
Trong thực tế, quy trình phát hành thư tín dụng như sau:

Ngân hàng
phát hành
Ngân hàng
thông báo
Người
nhập khẩu
Người
xuất khẩu
(1)
(3)
(8) (9)
(6)
(7)
(4)

Y
Y
N
7
Tiếp nhận yêu cầu: CVKH tiếp nhận yêu cầu của khách hàng và hướng
dẫn khách hàng lập đơn xin yêu cầu phát hành thư tín dụng (theo mẫu sẵn có
của các ngân hàng) và chuẩn bị bộ hồ sơ (các giấy tờ cần thiết theo yêu cầu
của ngân hàng)
Kiểm tra, thẩm định và phê duyệt hồ sơ mở L/C:
CVKH kiểm tra và xác định rõ tính đầy đủ, rõ ràng của yêu cầu phát
hành hoặc điều chỉnh thư tín dụng, so sánh với hợp đồng ngoại thương để kịp
thời lưu ý khách hàng khi có mâu thuẫn.
CVKH chịu trách nhiệm thẩm định khách hàng có đủ điều kiện để phát
hành, điều chỉnh thư tín dụng hay không theo các hướng dẫn hiện hành của
các ngân hàng.
Phê duyệt hồ sơ:
Sau khi CVKH kiểm tra hồ sơ và thẩm định khách hàng, trưởng đơn vị,
chuyên gia phê duyệt tín dụng các cấp có trách nhiệm phê duyệt hồ sơ. Nếu
đồng ý thì phê duyệt chấp nhận và chuyển xuống cho CVKH, ban hỗ trợ kinh
doanh. Nếu không đồng ý thì trả lại cho CVKH để yêu cầu khách hàng sửa
đổi cho phù hợp.
Thông báo, ký kết hợp đồng, mở tài khoản và mua ngoại tệ:
Sau khi thông báo cho khách hàng về việc đơn yêu cầu mở thư tín dụng
được chấp nhận, hợp đồng dịch vụ giữa người yêu cầu mở L/C và ngân hàng
phát hành được ký kết và một tài khoản được mở cho khách hàng. Nếu khách
hàng chưa có ngoại tệ thì ngân hàng sẽ bán ngoại tệ cho khách hàng.

8
Kiểm tra, soạn điện và hạch toán:
CVTT có trách nhiệm kiểm tra yêu cầu mở L/C. Nếu có sai sót thì thông

Trên thực tế, quy trình thanh toán thư tín dụng có thể sẽ phải sử dụng
nhiều hơn một ngân hàng thông báo, bởi vì trong trường hợp ngân hàng thông
báo L/C được người yêu cầu đề nghị trong thư tín dụng mà ngân hàng đó lại
không có quan hệ đại lý với ngân hàng phát hành L/C thì ngân hàng phát hành
phải thông qua một ngân hàng đại lý của mình (nhưng có mối quan hệ với
ngân hàng mà người yêu cầu chỉ định làm ngân hàng thông báo) thông báo
thư tín dụng. Như vậy trong quy trình sẽ có 2 ngân hàng thông báo: ngân
hàng thông báo thứ nhất và ngân hàng thông báo thứ 2.
(4) Khi nhận được thư tín dụng, ngân hàng thông báo báo cho người xuất
khẩu về thư tín dụng và khi nhận được bản gốc của thư tín dụng thì chuyển
ngay cho người xuất khẩu.
Thực tế có trường hợp thư tín dụng sẽ được thông báo sơ bộ, các chi tiết
đầy đủ gửi sau. Trong trường hợp ấy, ngân hàng thông báo khi nhận được
thông báo sơ bộ thư tín dụng từ ngân hàng phát hành sẽ thông báo sơ bộ cho
người xuất khẩu. Trong thông báo sơ bộ ghi rõ: “các chi tiết đầy đủ gửi sau”.
Khi nhận được bản gốc từ phía ngân hàng phát hành thì chuyển ngay cho
người xuất khẩu.
(5) Người xuất khẩu nếu chấp nhận thư tín dụng thì tiến hành giao hàng,
nếu không chấp nhận thì đề nghị ngân hàng phát hành L/C sửa đổi, bổ sung
cho phù hợp với hợp đồng.

10
(6) Sau khi giao hàng, người xuất khẩu lập bộ chứng từ phù hợp theo
yêu cầu của thư tín dụng xuất trình đến ngân hàng phát hành xin thanh toán
thông qua ngân hàng phục vụ mình (có thể là ngân hàng thông báo hoặc ngân
hàng khác)
(7) Ngân hàng phát hành kiểm tra bộ chứng từ nếu thấy phù hợp với thư
tín dụng thì tiến hành trả tiền cho người xuất khẩu. Nếu không phù hợp, ngân
hàng từ chối thanh toán và gửi trả lại bộ chứng từ cho người xuất khẩu (nếu
người nhập khẩu chấp nhận thanh toán thì ngân hàng vẫn thanh toán và trừ

dụng phải được mở. Để thư tín dụng được mở thì người nhập khẩu hàng hoá
(người trả tiền) phải làm đơn (Đơn yêu cầu phát hành thư tín dụng) gửi đến
ngân hàng phát hành xin mở L/C. Căn cứ vào đó, ngân hàng phát hành sẽ phát
hành một thư tín dụng cho ngưòi hưởng lợi hưởng, và người nhập khẩu sẽ
phải chịu một khoản lệ phí để mở L/C.
Thực chất, đây chính là một hợp đồng dịch vụ giữa ngân hàng và người
xin phát hành L/C. Theo đó, ngân hàng dùng uy tín và khả năng tài chính của
mình để đảm bảo thanh toán cho người xuất khẩu khi họ xuất trình phù hợp
và thu phí từ người nhập khẩu. Và khi đó, ngân hàng sẽ chịu trách nhiệm
kiểm tra bộ chứng từ do người xuất khẩu xuất trình trước khi quyết định thanh
toán hay từ chối thanh toán.
♣ Thư tín dụng:
Thư tín dụng được ra đời trên cơ sở hợp đồng dịch vụ được ký kết giữa
ngân hàng phát hành và người nhập khẩu. Thư tín dụng hình thành trên cơ sở
hợp đồng mua bán, nhưng sau khi ra đời lại hoàn toàn độc lập với hợp đồng

12
mua bán. Thậm chí trong trường hợp thư tín dụng có dẫn chiếu đến hợp đồng
mua bán thì các ngân hàng cũng không coi hợp đồng mua bán như là một bộ
phận cấu thành nên thư tín dụng. Do vậy, các ngân hàng thường khuyên
khách hàng của mình không nên dẫn chiếu hợp đồng mua bán vào thư tín
dụng. Người nhập khẩu căn cứ vào hợp đồng để làm đơn yêu cầu phát hành
thư tín dụng. Người xuất khẩu căn cứ vào các điều kiện của thư tín dụng tiến
hành giao hàng và lập chứng từ trên cơ sở yêu cầu của thư tín dụng. Do đó
người xuất khẩu khi nhận được thư tín dụng phải kiểm tra kỹ các điều khoản
của thư tín dụng, nếu có điều khoản nào chưa phù hợp phải yêu cầu người
nhập khẩu tiến hành sửa đổi thư tín dụng cho phù hợp trước khi thực hiện
giao hàng. Người xuất khẩu phải lập đầy đủ các chứng từ phù hợp với yêu cầu
của thư tín dụng và xuất trình cho ngân hàng trong thời hạn quy định. Sau khi
kiểm tra chứng từ, nếu thây hoàn toàn phù hợp với các quy định của thư tín

định trong thư tín dụng. Ngân hàng không chịu trách nhiệm về tên hàng, số
lượng, trọng lượng, chất lượng, trạng thái, bao bì, việc giao hàng, giá trị hay
sự hiện hữu của hàng hoá mà bất cứ chứng từ nào đại diện. Cũng tương tự
như vậy, nếu bộ chứng từ ngân hàng xuất trình để đòi tiền người nhập khẩu
hợp lệ thì ngưòi nhập khẩu sẽ trả tiền cho ngân hàng, còn nếu không thì người
nhập khẩu có quyền từ chối thanh toán. Trong trường hợp đó, rủi ro sẽ hoàn
toàn thuộc về ngân hàng. Vì vậy, ngân hàng cần phải kiểm tra kỹ bộ chứng từ
xuất trình trước khi chấp nhận thanh toán cho nhà xuất khẩu.

14
Như vậy, trong phương thức tín dụng chứng từ, các chứng từ có một tầm
quan trọng to lớn, nó tượng trưng cho giá trị hàng hoá mà người xuất khẩu đã
giao và là căn cứ cho người xuất khẩu đòi ngân hàng thanh toán tiền hàng,
đồng thời nó cũng là căn cứ duy nhất để nhà nhập khẩu dựa vào đó quyết định
thanh toán hay từ chối thanh toán đối với ngân hàng phát hành.
3. Các loại thư tín dụng chủ yếu:
Phương thức tín dụng chứng từ có ưu việt hơn hẳn những phương thức
thanh toán quốc tế khác. Tuy vậy, hiệu quả của phương thức này sẽ được thể
hiện đầy đủ hơn khi ta biết lựa chọn loại thư tín dụng phù hợp với yêu cầu của
từng tình huống cụ thể trong mối quan hệ thương mại quốc tế nảy sinh giữa
các bên.
Theo quy ước quốc tế, thư tín dụng bao gồm nhiều loại. Có thể phân biệt
chúng dưới các góc độ khác nhau dưới đây.
a. Căn cứ vào tính chất:
Thư tín dụng có thể huỷ ngang (revocable L/C): Là loại thư tín dụng mà
sau khi L/C được mở thì người nhập khẩu có thể yêu cầu ngân hang sửa đổi,
bổ sung hoặc huỷ bỏ bất cứ lúc nào mà không cần có sự đồng ý của người
hưởng lợi L/C. Thư tín dụng có thể huỷ ngang hầu như không được sử dụng
trong thực tế mà chỉ có ý nghĩa về mặt lý thuyết.
Thư tín dụng không thể huỷ ngang (irrevocable L/C): Là loại thư tín

- L/C giáp lưng (back to back L/C): là loại L/C mà sau khi người xuất
khẩu nhận được L/C người nhập khẩu mở cho mình hưởng lại dùng chính L/C

16
đó thế chấp để mở một L/C khác cho người khác hưởng. L/C đem đi thế chấp
là L/C gốc, L/C sau gọi là L/C giáp lưng.
- L/C đối ứng (reciprocal L/C): là loại L/C chỉ bắt đầu có hiêụ lực khi
một L/C đối ứng với nó đã được mở.
- L/C điều khoản đỏ (red clause L/C): là L/C có điều khoản (trước đây
thường in bằng mực đỏ) cho phép ngân hàng chỉ định ứng trước một phần tiền
cho người thụ hưởng để mua nguyên vật liệu phục vụ sản xuất và giao hàng
theo L/C đã mở.
- L/C dự phòng (stand by L/C): là loại L/C do ngân hàng của người xuất
khẩu phát hành, cam kết hoàn trả tiền đặt cọc, ứng trước và chi phí mở L/C
cho người nhập khẩu nếu người xuất khẩu không thực hiện nghĩa vụ của
mình.
4. Vai trò của phương thức tín dụng chứng từ trong thương mại quốc tế.
a. Phương thức tín dụng chứng từ đảm bảo quyền lợi cho cả nhà
nhập khẩu và nhà xuất khẩu.
Ta có thể thấy rằng, một trong những nhược điểm của các phương thức
thanh toán: nhờ thu, chuyển tiền, ghi sổ đó là chưa giải quyết được mâu thuẫn
về lợi ích giữa người nhập khẩu và người xuất khẩu. Người nhập khẩu không
bao giờ muốn trả tiền trước vì lo ngại trường hợp người xuất khẩu nhận tiền
rồi song từ chối giao hàng. Ngược lại, người xuất khẩu không bao giờ muốn
giao hàng trước khi nhận tiền vì lo sợ trường hợp người nhập khẩu sẽ nhận
hàng nhưng không thanh toán. Phương thức tín dụng chứng từ với đặc điểm là
trả tiền khi giao chứng từ đã giải quyết được mâu thuẫn về lợi ích giữa hai
bên mua bán. Hay nói cách khác, phương thức tín dụng chứng từ đã đảm bảo
lợi ích cho cả người mua và người bán thông qua việc sử dụng dịch vụ của
ngân hàng: Ngân hàng c0068ỉ chấp nhận trả tiền nếu chứng từ phù hợp.

thức tín dụng chứng từ.
Khi làm đơn yêu cầu mở L/C, người nhập khẩu có thể xin tư vấn từ ngân
hàng phát hành để xây dựng một tín dụng chặt chẽ, có lợi nhất cho mình. Nhà
nhập khẩu có thể kiểm soát được hàng hoá thông qua việc quy định ngưòi
xuất khẩu sẽ phải xuất trình những giấy chứng nhận xuất xứ, giấy kiểm định
chất lượng do cơ quan nào ban hành. Khi nhà xuất khẩu xuất trình bộ chứng
từ đến đòi tiền, nếu thấy phù hợp thì mới trả tiền, không thì hoàn toàn có thể
từ chối.
Bằng việc sử dụng ngân hàng đứng ra thanh toán, phương thức tín dụng
chứng từ đảm bảo rằng người bán sẽ thu được tiền, còn người mua sẽ nhận
được hàng đúng theo quy định trong thư tín dụng. Cái lợi ở đây đối với người
nhập khẩu không chỉ là chứng từ phù hợp thì mới trả tiền mà còn ở chỗ khi
làm đơn yêu cầu mở L/C họ có thể nhận được phần tín dụng mà ngân hàng
dành cho họ thông qua việc ngân hàng cho phép ký quỹ số tiền nhỏ hơn trị giá
L/C. Do đó họ có thể sử dụng nguồn vốn thêm một thời gian nữa, đáp ứng
nhu cầu kinh doanh của mình.
Theo bà Lê Thị Phương Lan, trưởng phòng thanh toán quốc tế
NHNo&PTNT chi nhánh Hà Nội: “Sử dụng UCP 600 các doanh nghiệp có
nhiều cái lợi. Đối với các nhà nhập khẩu thì có thể đảm bảo thứ nhất về vốn,
sử dụng tài trợ thương mại. Thứ hai là đảm bảo về mặt chứng từ, có nghĩa là
chứng từ phát hành từ bên thứ 3 hoặc về các hãngt vận tải, bảo hiểm, công ty
kiểm định chất lượng thứ ba. Đương nhiên về sử dụng L/C thông qua UCP thì
nó cũng có thể hạn chế được những tranh chấp có thể xảy ra giữa người mua
và người bán. Tương tự với hàng xuất khẩu cũng vậy. Nhà xuất khẩu đảm bảo

19
được khả năng thanh toán rất cao và cũng có thể nhận được tài trợ xuất khẩu
từ phía ngân hàng phục vụ mình.”
Tóm lại, phương thức tín dụng chứng từ mang lại rất nhiều lợi ích cho cả
nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu, mà lợi ích lớn nhất là phương pháp này có

và các quy định.
Các lợi ích đối với người xuất khẩu:
Ngân hàng sẽ thực hiện việc thanh toán theo đúng quy định, bất kể người
mua có muốn trả tiền hay không.
Người mua không được từ chối thanh toán vì bất cứ lý do gì.
Chậm trễ trong việc chuyển chứng từ được hạn chế tối đa.
Khi chứng từ được chuyển đến NHPH, việc thanh toán được tiến hành
ngay vào một ngày xác định (nếu là L/C trả chậm).
Khách hàng có thể đề nghị chiết khấu L/C để có tiền chuẩn bị cho việc
thực hiện hợp đồng.
Các lợi ích đối với người nhập khẩu:
Chỉ khi hàng hoá thực sự được giao thì người nhập khẩu mới phải trả
tiền
Người nhập khẩu có thể yên tâm là người xuất khẩu sẽ phải làm tất cả
những gì quy định trong L/C để đảm bảo rằng người xuất khẩu sẽ được thanh
toán tiền (nếu không người xuất khẩu sẽ mất tiền)”

21
b. Phương thức tín dụng chứng từ là một hình thức tín dụng mà
ngân hàng dành cho các nhà xuất nhập khẩu.
♣ Đối với nhà nhập khẩu:
Khi làm đơn yêu cầu ngân hàng phát hành thư tín dụng cho người xuất
khẩu hưởng, người nhập khẩu thường phải ký quỹ một khoản tiền nhỏ hơn
hoặc bằng trị giá L/C tại ngân hàng phát hành. Thông thường thì dựa vào mối
quan hệ giữa nhà nhập khẩu với ngân hàng phát hành và uy tín của nhà nhập
khẩu, ngân hàng thường cho phép nhà nhập khẩu ký quỹ một số tiền nhỏ hơn
trị giá L/C. Và đương nhiên trong trường hợp đó, nhà nhập khẩu có thể sử
dụng vốn trong một thời gian nữa. Hay nói cách khác đó chính là khoản tín
dụng mà ngân hàng cấp cho nhà nhập khẩu.
♣ Đối với nhà xuất khẩu.

luận và thực tiễn.
a. Về mặt lý luận:
Không có một bản sửa đổi nào là toàn diện, có khả năng bao quát toàn
bộ thực tiễn và giảm thiểu toàn bộ những sai biệt. Lịch sử hơn 70 năm của
UCP đã chứng kiến nhiều lần sửa đổi tiến bộ, tuy nhiên UCP chưa thể nhổ tận
gốc nhiều vấn đề trong phương thức tín dụng chứng từ. Thương mại quốc tế
càng phát triển thì càng đòi hỏi các phương thức thanh toán cũng như các
nguồn luật điều chỉnh nó ngày càng hoàn thiện hơn. Chính vì vậy, việc UCP
600 và ISBP 681 ra đời là kết quả tất yếu để giảm thiểu hơn nữa những sai
biệt và thúc đẩy thương mại quốc tế ngày càng phát triển.

23
b. Về mặt thực tiễn:
Mặc dù UCP500 và đi kèm với nó là Bộ Tập Quán Ngân Hàng Tiêu
Chuẩn Quốc Tế (ISBP 645) ra đời hết sức tiến bộ, đạt kỷ lục về thời gian tồn
tại, bởi vì thông thường cứ khoảng 10 năm UCP lại được sửa đổi một lần
trong khi UCP 500 kéo dài vị trí của mình tới 14 năm, thế nhưng tỷ lệ bộ
chứng từ có sai biệt trong lần xuất trình đầu tiên vẫn lên tới 60%-80% (Số
liệu nghiên cứu của VIBank). Câu hỏi đặt ra là có bao nhiêu sai biệt trong số
60%-80% này là do cách hiểu không thống nhất về UCP?
Xét dưới góc độ các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, UCP 500 được xem
như một bộ luật tương đối khó hiểu về mặt ngôn ngữ và phức tạp về mặt quy
trình. Do không hiểu một cách tường tận về UCP 500, các doanh nghiệp
thường hoạt động theo thói quen thương mại của mình là chính. Bộ chứng từ
vì vậy cũng thường có sai biệt, mặc dù có thể về thực tế, hàng hoá được giao
không khác như yêu cầu của hợp đồng thương mại. Các doanh nghiệp xuất
nhập khẩu sẽ phải chịu rất nhiều chi phí để sửa chữa các sai biệt này, chỉ đơn
cử như việc tín dụng yêu cầu vận tải đơn phải ghi rõ số L/C, điều này không
giúp cho nhà nhập khẩu nhận được hàng hóa dễ dàng hơn, nhưng người xuất
khẩu vẫn có thể mất tới mấy chục đô la (kết quả nghiên cứu của VIBank) để

G. Nhượng tiền thu được.
+ Cấu trúc của UCP600
Phạm vi áp dụng của UCP600
Các định nghĩa.
Giải thích

25

Trích đoạn Đặc điểm lần sửa đổi thứ 6 của UCP Ảnh hưởng của UCP600 và ISBP681 đến hoạt động thương mại quốc tế: Thực tiễn áp dụng UCP600 và ISBP681 trong việc tạo lập và kiểm tra bộ chứng từ Bất cập đến từ phía bộ tập quán:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status