Header Page 1 of 166.
LUẬN VĂN:
Phát huy vai trò của đội ngũ giáo viên trung
học phổ thông trong đổi mới giáo dục
ở tỉnh Bến Tre hiện nay
Footer Page 1 of 166.
Header Page 2 of 166.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Văn kiện Hội nghị lần 2 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã khẳng
định “Muốn tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa thắng lợi phải phát triển mạnh giáo
dục, đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh, bền
vững” [6, tr.2]. Để thực hiện mục tiêu trên đòi hỏi nền GD&ĐT nước ta không chỉ mở
rộng qui mô, đa dạng hóa các loại hình đào tạo mà còn phải chú trọng việc nâng cao
chất lượng toàn diện một cách phù hợp.
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục THPT được xem là nền tảng và có ý
nghĩa quan trọng đối với nguồn nhân lực của đất nước; bởi lẽ giáo dục THPT là nhằm
giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn
thiện học vấn phổ thông và những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp
để tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, học nghề hoặc đi vào cuộc
sống lao động.
Để giáo dục THPT thực sự có chất lượng cao phải đảm bảo đồng bộ về các điều
kiện như nội dung chương trình, giáo khoa, cơ sở vật chất; đồng thời phải kể đến vai trò
nòng cốt của đội ngũ giáo viên. Chỉ thị số 40-CT/TW của Ban Bí thư đã nêu rõ: Tăng
cường xây dựng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục một cách toàn diện. Đây là
nhiệm vụ vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt, vừa mang tính chiến lược lâu dài, nhằm thực
Do vậy, tôi chọn đề tài: “Pht huy vai trị của đội ngũ giáo viên trung học phổ
thông trong đổi mới giáo dục ở tỉnh Bến Tre hiện nay” làm luận văn tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đề tài
Trong thời gian gần đây đã có một số công trình có liên quan tới đề tài. Cụ thể là:
- “Gia đình, nhà trường, xã hội với việc phát triển tuyển chọn, đào tạo, bồi
dưỡng, sử dụng và đãi ngộ người tài” mã số KX-07-18 (1996) của PGS.TS Nguyễn
Trọng Bảo chủ biên với nhiều vấn đề được phân tích, trong đó có các vấn đề đóng
góp vào đổi mới giáo dục, phát triển đất nước.
- “Chiến lược phát triển giáo dục trong thế kỷ 21, kinh nghiệm của các quốc
gia”, của Viện Nghiên cứu phát triển giáo dục, Nxb Chính Trị quốc gia 2002, là tập hợp
những kết quả nghiên cứu của những nhà khoa học có liên quan đến lĩnh vực chiến lược
phát triển giáo dục.
Footer Page 3 of 166.
Header Page 4 of 166.
Những công trình nghiên cứu khoa học có liên quan về vai trò của đội ngũ giáo
viên trong giai đoạn hiện nay như:
- PGS.TS Phan Thanh Khôi (2006), Quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng
từ 1986 đến nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội. Trong đó có nội dung đề cập đến giáo
dục và đào tạo của Đảng.
- Phạm Thanh Sơn (2001), Xây dựng đội ngũ trí thức khoa học Mác-Lênin trong
các trường Đại học nước ta hiện nay, Luận án tiến sĩ triết học. Luận án chủ yếu bàn về
đội ngũ giáo viên Mác-Lênin và vai trò của đội ngũ này trong các trường đại học.
- Đỗ Tuyết Bảo (2001), Giáo dục đạo đức cho học sinh trung học tại thành phố
Hồ Chí Minh trong điều kiện đổi mới hiện nay, Luận án tiến sĩ triết học. Nghiên cứu vai
trò, ý nghĩa giáo dục đối vơí sự hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh trung
học cơ sở trong điều kiện mới.
- Dương Thị Thúy Nga (2006), Nâng cao vai trò của đội ngũ nhà giáo trong quá
- Kết quả nghiên cứu luận văn có thể góp phần làm sáng tỏ và cụ thể thêm vấn đề
lý luận về vai trò của đội ngũ giáo viên ở các trường trung học phổ thông tỉnh Bến Tre
trong đổi mới GD&ĐT hiện nay.
- Luận văn góp thêm tài liệu tham khảo cho ngành giáo dục đào tạo mà trước hết
là giáo dục đào tạo tỉnh Bến Tre.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết
cấu thành 3 chương, 6 tiết.
Footer Page 6 of 166.
Header Page 7 of 166.
Chương 1
ĐỔI MỚI GIÁO DỤC Ở NƯỚC TA
VÀ VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1. ĐỔI MỚI GIÁO DỤC Ở NƯỚC TA
1.1.1. Tính tất yếu của đổi mới giáo dục
Một là, điều làm xã hội lo lắng là chất lượng giáo dục và đào tạo của nước ta đang
có những yếu kém ở mọi cấp học. Thiếu sót bất cập nhất của giáo dục là chất lượng và
hiệu quả thấp. Nó bộc lộ rõ mâu thuẫn giữa nhu cầu học vấn ngày càng tăng của nhân
dân với khả năng đáp ứng còn hạn chế của hệ thống giáo dục; giữa nhu cầu phát triển
giáo dục với khả năng đáp ứng của nền kinh tế; giữa số lượng, chất lượng, trình độ được
đào tạo của học sinh với khả năng thu hút, sử dụng của thị trường lao động xã hội; giữa
nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục lạc hậu với sự phát triển nhanh
chóng của nền sản xuất xã hội, sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, sự bùng nổ thông tin,
giữa hệ thống giáo dục chính quy và hệ thống giáo dục không chính quy, hay nói cách
khác là giữa giáo dục, mang tính chuẩn bị tiềm năng lâu dài với giáo dục mang tính chất
phổ cập. So với mục tiêu mà Đại hội X của Đảng đã đề ra là đẩy mạnh công nghiệp hoá,
nhiên, việc triển khai mô hình này trong thực tiễn mấy chục năm qua đã bộc lộ những
bất cập với yêu cầu của thực tiễn, gây nên bất hợp lý trong giải quyết nguồn nhân lực,
cả về định tính và định lượng. Cho đến nay chưa giải quyết được vấn đề phân luồng
THCS và THPT, vẫn chưa phân biệt hai luồng đào tạo và thực hành, thực tiễn "thầy thợ", "thừa - thiếu" không có cách giải quyết; chưa có sự thống nhất trong quản lý các
trường nghề, chưa thật sự hoàn thiện phân cấp mạng lưới các cơ sở đào tạo nhân lực từ
Trung ương đến địa phương. Chính sự không rõ ràng trong khái niệm này đã dẫn đến
chồng chéo trong quản lý. Việc phân cấp mặc dù đã được khẳng định nhưng còn chậm
vào đời sống thực tiễn.
Năm là, sự bất cập về lý luận khoa học giáo dục, lý luận quản lý giáo dục. Đúng ra
lý luận của hai lĩnh vực này phải đi trước thực tiễn một bước, làm sáng tỏ cho thực tiễn.
Nhưng trong thực tế, lý luận của hai lĩnh vực này ở nước ta thời gian qua còn chậm
chạp. Không khí tranh luận kém sôi nổi, thiếu thẳng thắn trong học thuật đã kéo theo sự
phân tâm của xã hội trước một số chủ trương lớn như: vấn đề học phí, việc đổi mới
chương trình sách giáo khoa, phân ban ở cấp học phổ thông; việc cải tiến hình thức tổ
chức đào tạo và mạng lưới trường lớp; việc hoàn thiện cơ cấu hệ thống giáo dục quốc
dân; vấn đề xã hội hoá giáo dục... phát triển giáo dục trong bối cảnh xây dựng nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vừa làm tăng vốn con người, vốn tổ chức,
Footer Page 8 of 166.
Header Page 9 of 166.
vốn xã hội ở nước ta, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, thúc đẩy đất
nước đi vào con đường hội nhập. Những lý thuyết thực tiễn của các vấn đề trên là rất
quan trọng trong tiến trình đổi mới giáo dục, song ở nước ta chưa bàn một cách thấu
đáo, trên các diễn đàn khoa học. Thực tế này đòi hỏi giáo dục phải có những bước đột
phá trong quá trình đổi mới để đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội cũng như yêu cầu
đổi mới giáo dục gắn với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Tóm lại, đất nước đổi mới đồng bộ, toàn diện, sâu sắc ngành giáo dục cũng phải
đổi mới. Không đổi mới, giáo dục không thể phát triển, không đáp ứng yêu cầu đổi mới
đảo và vùng dân tộc góp phần đáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập của con em nhân dân.
Hiện nay, cả nước có 39.695 trường học, bao gồm 11.509 trường Mầm non mẫu giáo;
14.839 trường tiểu học, 10.401 trường trung học cơ sở, 2.355 trường trung học phổ
thông, 269 trường trung học chuyên nghiệp, 322 trường Cao đẳng và đại học.
So với năm học 2005-2006, ở tiểu học và trung học cơ sở đ cĩ thm 277 trường; ở
trung học phổ thông có thêm 87 trường; đại học và cao đẳng có thêm 67 trường (trong
đó có thêm 54 trường đại học, cao đẳng công lập; 13 trường đại học, cao đẳng ngoài
công lập). Cùng với việc củng cố, phát triển trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú,
các địa phương đ quan tm bố trí, sắp xếp hệ thống trường lớp tiểu học và trung học cơ
sở ở vùng đồng bào dân tộc, tạo điều kiện cho trẻ em đến trường. Mạng lưới các trường
đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp được sắp xếp hợp lý v tiếp tục được củng
cố, phát triển các trường đại học trọng điểm của các khối: sư phạm, công nghệ, nông
nghiệp, kinh tế được tăng cường. Các vùng khó khăn như Tây Bắc, Nam trung bộ, đặc
biệt Chính phủ đ chỉ đạo cho Bộ giáo dục và Đào tạo lưu tâm việc đẩy mạnh phát triển
các trường đại học, cao đẳng tạo điều kiện thuận lợi cho việc đào tạo nguồn nhân lực tại
chỗ cho khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Hệ thống các cơ sở đào tạo nghề và trung
tâm giáo dục thường xuyên phát triển rộng khắp. Hệ thống các trường sư phạm từ trung
ương đến địa phương tiếp tục được củng cố, nâng cao chất lượng; góp phần tăng cường
điều kiện tạo thuận lợi trong việc đào tạo, bồi dưỡng giáo viên theo hướng chuẩn hóa
đội ngũ, đáp ứng tốt nhiều hơn nữa các yêu cầu về phổ cập trung học cơ sở, triển khai
chương trình gio dục phổ thơng mới trong thời gian tới.
Đến nay phổ cập giáo dục tiểu học đạt 100% của 64 tỉnh, thành cả nước, 98,19%
dân số trong độ tuổi 15-35 biết chữ. Bảo đảm tỉ lệ 98% trẻ em 14 tuổi học hết tiểu học.
Phát huy thành quả xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, thực hiện Nghị quyết
số 41/2000/QH 10 ngày 9/12/2000 của Quốc Hội, Chỉ thị số 61/CTTU Của Bộ Chính trị
và Nghị định số 88/2001/NĐ-CĐ ngày 21/11/2001 của Chính Phủ, các địa phương
Footer Page 10 of 166.
Footer Page 11 of 166.
Header Page 12 of 166.
đẳng, có 2.467 giáo sư và phó giáo sư, 5.882 tiến sĩ và tiến sĩ khoa học, 18.272 thạc sĩ
và 472 chuyên khoa cấp I và II.
Tiếp tục thực hiện chỉ thị 34-CT/TW của Bộ Chính trị về xây dựng củng cố tổ
chức Đảng trong trường học, quan tâm chú trọng phát triển đảng viên là giáo viên trực
tiếp đứng lớp. Hiện nay, cịn một số địa phương gặp khó khăn, tuy nhiên, cũng đ cĩ
nhiều biện php, hình thức cch lm nhằm gio dục tư tưởng chính trị, đặc biệt là triển khai,
quán triệt sâu nội dung Cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh. Qua đó đ cĩ rất đông giáo viên nhận thức, tự nguyện phấn đấu vào Đảng. Đội ngũ
cán bộ quản lý gio dục v gio vin đ v đang thực sự trở thành lực lượng nịng cốt, đi đầu
trong nhiều công việc ở các địa phương.
- Trong những năm qua, kết hợp nhiều nguồn vốn, đồng thời huy động sự đóng
góp của nhân dân và các địa phương đ cố gắng tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật cho
nhà trường, tạo điều kiện để nâng cao chất lượng dạy và học. Đến đầu năm học 20062007 sau 4 năm thực hiện chương trình kin cố hố trường lớp, cả nước có thêm 70.000
phịng học mới với chi phí 9.000 tỉ đồng. Sau 33 năm thống nhất đất nước, tính chung cả
nước từ bậc mầm non tới trung học có hơn 550.000 phịng học, trong đó phịng học kin
cố hơn 280.000 chiếm 51%, cịn phịng học tạm, bn kin cố phịng học nhờ là 270.000
chiếm 49%. Tính năm 2008 tổng chi ngân sách nhà nước cho toàn ngành GD & ĐT là
72.520 tỷ đồng tăng hơn 6.000 tỷ đồng so với năm 2007 để xây dựng nâng cấp trường
lớp.
Nhưng vẫn cịn phịng học 3 ca ở đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam bộ, Tây
Nguyên, số phịng học tạm, học nhờ, phịng học bn kin cố tranh tre vch l vẫn cịn 170.000
phịng, tập trung ở vng núi, vùng sâu, vùng xa trên địa bàn toàn quốc. Nhu cầu để xây
dựng sửa chữa là hơn 25.000 tỉ đồng. Việc xây dựng trường tiểu học đạt chuẩn Quốc gia
đ cĩ tc dụng thiết thực trong việc tăng cường các điều kiện dạy và học, nâng cao chất
lượng bậc học. Tính đến ngày 30 tháng 4 năm 2008, cả nước có 4.630 trường tiểu học
hàng đầu, đóng vai trị then chốt trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa x hội, Bộ kế hoạch
v đầu tư và Bộ tài chính đ tăng ngân sách cho giáo dục đảm bào yêu cầu định mức do
Nghị quyết trung ương II đề ra. Trong điều kiện nguồn kinh phí cịn hạn hẹp, cc địa
phương đ cĩ nhiều cố gắng cải tiến việc phn bổ, điều hành ngân sách; đầu tư thêm cho
giáo dục từ nguồn ngân sách địa phưong (khoảng 20 - 30% ngân sách địa phương);
đồng thời huy động đóng góp của nhân dân để tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật, nâng
cao chất lượng dạy và học. Đặc biệt là các trường dạy nghề Trung học chuyên nghiệp,
Cao đẳng, Đại học đ thơng qua con đường lao động sản xuất, dịch vụ, tư vấn, ứng dụng
Footer Page 13 of 166.
Header Page 14 of 166.
và chuyển giao công nghệ mà tự xây dựng được nguồn vốn tự có, nguồn vốn này đ gĩp
phần kinh phí đầu tư xây dựng nhà trường và cải thiện đời sống cho cán bộ giáo viên.
Đến cuối năm 2007, trong các trường đại học đ cĩ trên 160 đơn vị nghiên cứu khoa
học và lao động sản xuất, trong đó có 11 viện nghiên cứu, 08 Văn phòng tư vấn, 136 Trung
tâm nghiên cứu, triển khai. Các Trung tâm, các viện nghiên cứu của các trường đại học đ
thực hiện hng nghìn hợp đồng với doanh thu hàng nghìn tỉ đồng, đóng góp xây dựng cơ sở
vất chất cho nhà trường.
Trong thời gian qua, để tăng cường năng lực cho các cơ quan nghiên cứu khoa
học, đ cĩ trn 70 trung tm v viện nghin cứu trực thuộc cc trường đại học được đầu tư
14.000 tỷ đồng từ ngân sách Nhà nước và các nguồn vốn khác như viện trợ, hợp tác đầu
tư của các tổ chức quốc tế, trong đó có trên 15 phịng thí nghiệm mạnh, có chất lượng
cao về các linh vực công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu.
Một nguồn đầu tư quan trọng cho giáo dục là các dự án vay vốn và viện trợ quốc
tế. Hiện nay ngành giáo dục có 09 dự án vay vốn nước ngoài thực hiện gối đầu trong
thời gian từ năm 2008 đến năm 2012 với tổng vay khoảng 825,4. triệu USD để đào tạo
giáo viên, xây dựng trường học, tăng cường thiết bị, sách giáo khoa … Từ nguồn viện
trợ không hoàn lại, nhiều địa phương thuộc địa bàn khó khăn đ được hỗ trợ để giáo dục
cao.
Về qui mô, tỷ lệ học sinh ngoài công lập so với tổng số học sinh tăng lên đáng kể.
Đến nay có hơn 3.200.000 học sinh, sinh viên ở tất cả các cấp học, bậc học chiếm gần
14% trong tổng số học sinh, sinh viên cả nước. Ở mẫu giáo: năm học 2006-2007 là
57,27%; ở trung học phổ thông là 3,71%; trung học chuyên nghiệp có trên 18,22%; ở
đại học và cao đẳng tăng lên 12,56%.
Trong qu trình đa dạng hóa các loại hình gio dục, cc địa phương đ quan tâm củng
cố, tăng cường hệ thống trường công lập; sắp xếp lại các trường bán công, chuyển trường
bán công sang công lập; đồng thời xây dựng thêm các trường công lập nhất là ở địa bàn
vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn. Nhìn chung, cc trường Công lập tiếp tục phát huy vai trị
chỉ đạo, thể hiện sự mẫu mực về thực hiện cc qui trình, qui phạm gio dục-đào tạo, các qui
trình v chính sch của Đảng và Nhà nước; bảo đảm các yêu cầu về chất lượng giáo dục.
Tuy nhiên, trong qu trình thực hiện chủ trương x hội hĩa, ở một số địa phương có
xu hướng huy động và để dân lo là chính, ít đầu tư, chưa thấy được vai trị v trch nhiệm
của Nh nước trong việc phát triển giáo dục-đào tạo, nhất là ở vùng địa bàn kinh tế-x hội
đặc biệt khó khăn. Mặt khc, do buơng lỏng quản lý nhà nước về giáo dục, một số hiện
tượng tiêu cực “thương mại hóa”, chạy theo mục đích vụ lợi đ xuất hiện ở một số
trường dân lập.
Footer Page 15 of 166.
Header Page 16 of 166.
- Cơng bằng x hội trong gio dục cơ sở về cơ bản được quan tâm, đảm bảo thực
hiện, các trường đại học, cao đẳng đ cĩ nhiều biện php trợ gip, tạo điều kiện học tập cho
con em gia đình thuộc diện chính sch con em đồng bào dân tộc và học sinh nghèo vượt
khó.
Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, các nhà trường đ nghim chỉnh chấp
hnh cc qui định về miễn, giảm học phí, cấp học bổng, UBND các cấp đ quan tâm vận
động các tổ chức chính trị-x hội, cc tổ chức x hội nghề nghiệp, một số doanh nghiệp v
giải quyết hiện nay là xây dựng và thực hiện đồng bộ một hệ thống các giải pháp gồm
chính sách ưu tiên về đầu tư, xây dựng đội ngũ giáo viên tại chỗ và đi ngộ thỏa đáng, áp
dụng phương án thích hợp về chương trình sch gio khoa v kế hoạch dạy học.
1.1.2.6. Đổi mới nhận thức và thực hiện mở rộng hợp tác quốc tế trong giáo và
dục đào tạo
- Đổi mới thực hiện chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa, quan hệ quốc tế, kết
hợp với chính sách x hội hĩa gio dục, trong những năm qua ngành Giáo dục-đào tạo đ
chủ động mở rộng quan hệ quốc tế, tranh thủ được sự hỗ trợ của nhiều cơ sở giáo dục
đại học, nghiên cứu khoa học nước ngoài và các tổ chức quốc tế. Hiện nay, ngành giáo
dục nước ta đ cĩ quan hệ v hợp tc chính thức với nhiều nước, nhiều tổ chức quốc tế và tổ
chức phi chính phủ. Quan hệ quốc tế được mở rộng đ gĩp phần tăng cường cơ sở vật
chất cho nhà trường, hiện đại hóa nội dung chương trình v phương pháp đào tạo, góp
phần đào tạo cán bộ và nâng cao năng lực quản lý; ngnh gio dục đ tranh thủ được tối đa
các nguồn viện trợ quốc tế; vốn viện trợ chính thức (ODA), vốn vay ngân hàng thế giới
(WB) và ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) để xây dựng các trường tiểu học ở vng bo,
vng ni v một số cơ sở đào tạo trọng điểm ở các bậc học và triển khai các dự án lớn của
ngành như: dự án giáo dục tiểu học, dự án đào tạo giáo viên tiểu học, dự án phổ thông
cơ sở, dự án đào tạo giáo viên trung học cơ sở, dự án nâng cao năng lực đào tạo của các
trường đại học; đồng thời triển khai mạnh mẽ các đề án đào tạo cán bộ khoa học, kỹ
thuật tại các cơ sở nước ngoài, để đáp ứng đào tạo theo một cái nền cơ bản là nhà
trường phải xác định đúng và đào tạo theo nhu cầu của x hội cĩ tính linh hoạt cao. So với
những năm trước đây, năm học 2007-2008, cán bộ quản lý trong ngnh, cc hiệu trưởng có
nhiều cơ hội đi học tập kinh nghiệm phát triển giáo dục ở nước tiên tiến trong khu vực và
trên thế giới.
- Cơng tc quản lý ngnh cũng đ đạt được một số kết quả đáng ghi nhận. Cơ quan
Bộ đ tích cực nng cao chất lượng và hiệu quả chỉ đạo, điều hành, từng bước khắc
phục tình trạng sa đà vào các hoạt động tác nghiệp cố gắng bám sát chức năng quản
lý Nh nước, xây dựng môi trường hợp lý, cơ chế, chính sách; trình Chính phủ ph
Footer Page 17 of 166.
pháp dạy và học cịn lạc hậu, nặng về truyền thụ một chiều, ít phát huy tính chủ động,
sáng tạo của học sinh, sinh viên. Giáo dục thể chất và giáo dục thẩm mỹ cịn nặng về
Footer Page 18 of 166.
Header Page 19 of 166.
hình thức, thiếu điều kiện thực hiện đ ảnh hưởng đến việc thực hiện mục tiêu giáo dục
toàn diện. Việc giảng dạy cc mơn khoa học x hội nhn văn ở trường trung học phổ thông
thiếu chủ động, ít sáng tạo; các môn khoa học Mác-Lênin cũng như công tác giáo dục
chính trị, tư tưởng đạo đức và nhân cách cho học sinh vẫn chưa đạt hiệu quả cao. Tình
trạng chạy theo điểm số, chỉ chú tâm vào nhũng môn thi đ v đang trở nên phổ biến trong
phương pháp học tập của nhiều học sinh. Một số yêu cầu chưa đúng của cha mẹ học
sinh đôi khi tạo ra áp lực rất lớn cho giáo viên đứng lớp. Lấy tỉ lệ lên lớp, tỉ lệ thi tốt
nghiệp, tỉ lệ duy trì sỉ số học sinh làm tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của
giáo viên, của nhà trường vẫn đến tình trạng gio vin chỉ ch trọng cc đơn vị kiến thức, kỷ
năng phục vụ cho thi cử. Tâm lý khoa cử cịn nặng nề. Cc kỳ thi, nhất l thi tuyển sinh vẫn
cịn căng thẳng, tốn kém, dễ làm phát sinh tiêu cực.
Hai là, cơ cấu giữa các cấp học, bậc học, cơ cấu ngành nghề và cơ cấu vùng miền
trong hệ thống giáo dục cịn chưa hợp lý. Công tác chỉ đạo cũng như tâm lý x hội cịn
nặng về đào tạo về đại học và chưa chú trọng đúng mức đến đào tạo nghề, đặc biệt là
chất lượng nghề trình độ cao và phát triển trung học chuyên nghiệp. Công tác dự báo
quy hoạch định hướng ngành nghề đào tạo chưa tốt. Nhiều cán bộ quản lý chuyn mơn
chưa nắm vững những thay đổi của chương trình v sch gio khoa, chưa chú ý đến những
thay đổi về mục tiêu, về nội dung và phương pháp dạy học để có những điều chỉnh phù
hợp, vì vậy tính định hướng hoạt động chuyên môn rất thấp. Việc phân luồng học sinh
sau khi tốt nghiệp trung học cơ sở và trung học phổ thông chậm triển khai, chưa có giải
pháp đủ mạnh và đồng bộ để thu hút thế hệ trẻ theo học các trường dạy nghề và trung
học chuyên nghiệp.
Ba là, đội ngũ gio vin cịn nhiều bất cập về số lượng, chất lượng và cơ cấu. Tỉ lệ
ngũ cán bộ quản lý cịn nhiều bất cập về năng lực điều hành và tổ chức hoạt động, quản
lý hoạt động chuyn mơn bằng mệnh lệnh hnh chính. Cn bộ qun lý cĩ khi chỉ nhận thức
cảm tính về năng lực dạy của giáo viên và của học sinh, thiếu những số liệu thống k v
những kết luận chính xc, việc phn cơng dạy học cịn chưa thích hợp, chưa chú trọng đến
sự chấp nhận của tập thể học sinh đối với hoạt động dạy học của giáo viên. Nhiều cán
bộ quản lý chuyn mơn chưa nắm vững những thay đổi của chương trình và sách giáo
khoa, về nội dung và phương pháp dạy học, để có những điều chỉnh phù hợp, tính định
hướng trong kế hoạch hoạt động chuyên môn rất thấp. Tình trạng vi phạm kỷ cương, nề
nếp giáo dục chưa được ngăn chặn có hiệu quả và kịp thời. Việc ban hành các văn bản
qui phạm pháp luật về giáo dục cịn chậm v chưa đồng bộ, dẫn đến tình trạng nhiều chủ
trương đ được đưa ra nhưng thiếu chính sách và cơ sở pháp lý gây khó khăn khi tổ chức
thực hiện. Công tác thanh tra giáo dục cịn yếu v chưa được quan tâm đúng mức.
Footer Page 20 of 166.
Header Page 21 of 166.
Tuy giáo dục đào tạo hiện nay cịn có những điểm tồn tại yếu kém nhưng không vì
thế mà chúng ta phủ nhận những thành tựu to lớn của giáo dục, nhất là lại thiếu tôn
trọng đối với những người làm công tác giáo dục. Nếu chúng ta đánh giá những thành
tựu phát triển kinh tế - x hội trong hơn 20 năm dổi mới là to lớn, thì không thể hạ thấp
vai trị của giáo dục - với tư cách là chủ thể, đào tạo ra những con người tương ứng với
giai đoạn phát triển đó.
Trong bài phát biểu của Phó Thủ Tướng, Bộ Trưởng Bộ giáo dục và đào tạo
Nguyễn Thiện Nhân có đoạn “Với lịng yu nghề v quyết tm tự khẳng định của hơn 1
triệu thầy cô giáo trong cả nước, với sự quyết tâm và chia lửa của hàng triệu người Việt
Nam là đồng tác giả của sự nghiệp chấn hưng giáo dục, tôi tin là trong 10 năm tới nền
giáo dục Việt Nam sẽ có những bước phát triển mới”.
1.2. VAI TRỊ CỦA ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
TRONG ĐỔI MỚI GIÁO DỤC Ở NƯỚC TA
hơn khái niệm giáo viên là “Những người làm nghề dạy học” đồng thời qui định địa vị
pháp lý của giáo viên, tại điều 70 của Luật Giáo dục nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa
Việt Nam đã đưa ra định nghĩa pháp lý đầy đủ về giáo viên: “Nhà giáo là những người
làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác" [34, tr.56].
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, những người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục
trong hệ thống giáo dục nói chung được gọi là thầy giáo ở bậc đại học được gọi là giảng
viên, những giáo viên ở cơ sơ giáo dục mầm non, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục phổ
thông trong đó có giáo dục phổ thông được gọi là giáo viên. Như vậy, thầy giáo, giảng
viên hay giáo viên chính là giáo viên.
Về đội ngũ giáo viên, thuật ngữ “đội ngũ” được hiểu chung nhất là tập họp một số
đông người cùng đặc điểm, chức năng hoặc nghề nghiệp... được tổ chức thành một lực
lượng xã hội. Do đó, đội ngũ giáo viên là tập hợp những người làm nghề dạy học hay
những người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác,
được tổ chức thành lực lượng và họat động theo mục đích của ngành giáo dục đào tạo
đề ra.
1.2.2. Đặc điểm của giáo viên ở các trường Trung học phổ thông
Mục tiêu của giáo dục phổ thông là: “Giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo
đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính
năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây
dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên, hoặc đi
vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc [34, tr.21].
Footer Page 22 of 166.
Header Page 23 of 166.
Trung học phổ thông là một bộ phận hữu cơ của giáo dục phổ thông, là cầu nối
giữa cấp tiểu học, trung học cơ sở với bậc đại học. Đây là cấp học làm cho hệ thống
giáo dục- đào tạo mang tính chỉnh thể, hệ thống và liên thông. Bởi vì:
Trung học phổ thông là cấp học cuối cùng của giáo dục phổ thông, là giai đoạn xác
Header Page 24 of 166.
Thứ hai, đội ngũ giáo viên Trung học phổ thông vừa là nhà sư phạm có phương
pháp vừa là nhà khoa học và cũng có trình độ chính trị nhất định. Hoạt động của giáo
viên là vừa giảng dạy vừa giáo dục. Giáo viên Trung học phổ thông vừa giảng dạy các
môn, vừa dựa trên tài liệu nghiên cứu để dẫn dắt học sinh tiếp cận thế giới quan duy vật,
với những vấn đề mà cả xã hội quan tâm, về lòng tự hào truyền thống quí báu của dân
tộc, quê hương, hướng các em cách ứng xử, giao tiếp trong cuộc sống. Muốn làm được
như vậy thì bản thân giáo viên không chỉ nắm chắc tri thức khoa học mà mình giảng dạy
và kiến thức liên quan, không chỉ hiểu rõ những qui luật của quá trình giáo dục và đối
tượng giáo dục mà họ còn phải có nghệ thuật sư phạm, có sự hiểu biết và niềm tin vào
chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vào đường lối đúng đắn của Đảng, có
phẩm chất, năng lực của một nhà sư phạm, có phương pháp, vững vàng về chính trị.
Thứ ba, giáo viên ở các trường Trung học phổ thông là những người cần và phải
có khả năng tổ chức các hoạt động xã hội, là những người có tâm hồn tươi trẻ, ân cần
chu đáo, có sức hấp dẫn, tỏa sáng, đầy khát vọng đẹp đẽ sôi nổi trong nghề. Các em là
những thanh niên đang ở giai đoạn trưởng thành về mặt thể lực, tâm lý mang nhiều đặc
trưng của người lớn song vẫn là đặc điểm của tuổi thiếu niên. Tất cả những phẩm chất
đó thể hiện ở khả năng tri giác rõ ràng, ở tính tích cực mạnh mẽ và có lửa nhiệt tình, sôi
nổi của tuổi trẻ. Giáo viên Trung học phổ thông cần phải tôn trọng những đức tính và
phẩm chất này, không nên làm gián đoạn ngọn lửa nhiệt tình của tuổi trẻ, ủng hộ những
suy nghĩ mạnh dạn dám nghĩ, dám làm của các em. Chỉ có những giáo viên giàu tâm
huyết và tài năng, bản lĩnh mới có thể làm được điều đó, mới đóng góp hiệu quả cho sự
phát triển và đào tạo cho một thế hệ với những con người có đủ phẩm chất, năng lực,
giàu tri thức tạo ra mọi giá trị cho sự nghiệp phát triển đất nước không chỉ cho hôm nay
mà cho cả mai sau.
1.2.3. Vai trò của đội ngũ giáo viên trung học phổ thông trong đổi mới giáo
dục ở nước ta
Tại Hội nghị sư phạm vào cuối tháng 7 năm 1956, Bác Hồ đã phân tích trách
nhiệm của thầy cô giáo một cách cụ thể: “Các thầy giáo cô giáo phải gần gũi dân chúng.
Các thầy cô giáo cũng như trí thức khác là lao động trí óc. Lao động trí óc phải biết sinh
của đất nước. Từ những nội dung nêu ở trên thì vai trò của đội ngũ giáo viên trung học
phổ thông trong đổi mới giáo dục được thực hiện trên các mặt sau đây.
Một, trang bị cho học sinh những tri thức cơ bản về thế giới quan, tư tưởng chính
trị, pháp luật, đạo đức, góp phần và hình thành phát triển nhân cách, lối sống cách ứng
xử có văn hóa để trở thành con người có đạo đức, có tấm lòng nhân ái. Ở các trường
trung học phổ thông đội ngũ giáo viên thông qua các môn học, trực tiếp là các môn
Footer Page 25 of 166.