phát huy vai trò của đội ngũ trí thức thành phố cần thơ trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (20112015). - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
…….…….
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA
ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC THÀNH PHỐ CẦN THƠ
TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA,
HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC (2011-2015).

Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
TS.GVC. Đinh Ngọc Quyên Nguyễn Thị Ngọc Nhơn
MSSV: 6106638
Lớp: SP. GDCD, K36 - 01 Cần Thơ, tháng 11 năm 2013

i

LỜI CÁM ƠN

Những năm học tại trường Đại học Cần Thơ, tôi đã được truyền đạt những
kiến thức quý báu, đây sẽ là nền tảng vững chắc phục vụ tốt cho công việc sau này và
là hành trang để tôi bước vào đường đời. Đối với sinh viên, được làm luận văn là một
hy vọng lớn từ khi bước chân vào giảng đường đại học. Luận văn là kết quả của
những năm tháng không ngừng học tập, học hỏi kinh nghiệm, trao dồi kiến thức từ
thầy, cô, bạn bè.

CHƯƠNG 1: QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN, TƯ TƯỞNG
HỒ CHÍ MINH VỀ TRÍ THỨC VÀ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI
HÓA……………………… ………………….……………………………………4
1.1. Khái niệm và vai trò của trí thức đối với sự phát triển kinh tế – xã hội… 4
1.1.1. Khái niệm trí thức………… … ……………………………… ………4
1.1.2. Vai trò của trí thức đối với sự phát triển kinh tế – xã hội…………………13
1.2. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về vấn đề công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ở nước ta và ở thành phố Cần Thơ………………………… ………………… 18
1.2.1. Khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa……………………… … …18
1.2.2. Vấn đề công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta và ở thành phố Cần
Thơ…………………………… …………………………………………….……20
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC Ở THÀNH PHỐ CẦN
THƠ THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA……… …… … 31
2.1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế xã hội tác động đến đội
ngũ trí thức………………… …………………………………………………….31
iii

2.2. Thực trạng đội ngũ trí thức ở thành phố Cần Thơ thời kỳ công nghiệp hóa,
hiện đại hóa…………………….……… ………………………………….…… 35
2.2.1. Những thành tựu của đội ngũ trí thức đã đạt được và nguyên nhân của những
thành tựu………………… ………………… …………………… …… 35
2.2.2. Những hạn chế, yếu kém của đội ngũ trí thức và nguyên nhân của những hạn
chế yếu kém…………………………………… ……………………….……54
CHƯƠNG 3: NHỮNG PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT
HUY VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC THÀNH PHỐ CẦN THƠ TRONG
SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT
NƯỚC……………………………… …………………………………….… ….59
3.1. Những phương hướng xây dựng đội ngũ trí thức Thành Phố Cần Thơ trong
những năm tới…………………………………………………….……… 59
3.2. Những giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của đội ngũ trí thức Thành

thể hiện tính năng động, sáng tạo trong công việc, thích ứng nhanh với nền kinh tế thị
trường và hội nhập quốc tế góp phần thiết thực vào sự nghiệp phát triển chung của cả
nước.
Trong sự nghiệp xây dựng Thành Phố Cần Thơ trở thành điểm sáng về kinh
tế – văn hóa – xã hội không chỉ ở khu vực mà còn ở cả nước, cần phải có sự cố gắng
của nhân dân lao động nói chung và đội ngũ trí thức nói riêng. Tuy nhiên, trước yêu
cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đội ngũ trí thức Thành Phố
Cần Thơ còn bộc lộ nhiều hạn chế và yếu kém: một số trí thức biểu hiện giảm sút đạo
đức nghề nghiệp, thiếu ý thức trách nhiệm, chạy theo bằng cấp, thiếu ý chí phấn đấu
vươn lên, bên cạnh đó tình trạng chảy máu chất xám ngày càng nhiều, chính sách đãi
ngộ còn hạn chế, các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác trí
thức chưa đồng bộ, chậm đi vào cuộc sống, phân bố không đều giữa các tỉnh, thành,
ngành, địa phương.
2

Vì vậy, để phát huy vai trò của đội ngũ trí thức Thành Phố Cần Thơ trong sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước như hiện nay không những là yêu cầu
cấp bách và thiết thực mà còn bắt nguồn từ những yêu cầu phát triển đất nước nói
chung và Thành Phố Cần Thơ nói riêng.
Với việc nhận thức được tầm quan trọng của đội ngũ trí thức và niềm mong
muốn có thể góp một phần hiểu biết của mình vào trí thức Cần Thơ nên tôi chọn đề
tài: “Phát huy vai trò của đội ngũ trí thức Thành phố Cần Thơ trong sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (giai đoạn 2011-2015)” làm luận văn tốt nghiệp
đại học của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
Mục đích nghiên cứu: Đề tài tìm hiểu thực trạng vai trò của đội ngũ trí thức
Thành phố Cần Thơ trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (2011-
2015). Từ đó, đề xuất những phương hướng và giải pháp nhằm tiếp tục phát huy vai
trò của đội ngũ trí thức Thành Phố Cần Thơ ngày càng vững mạnh.
Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục tiêu trên, luận văn tập trung nghiên

văn được kết cấu gồm 3 chương và 6 tiết.
4

B. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC- LÊNIN, TƯ TƯỞNG
HỒ CHÍ MINH VỀ TRÍ THỨC VÀ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA.
1.1. Khái niệm và vai trò của trí thức đối với sự phát triển kinh tế – xã hội.
1.1.1. Khái niệm trí thức.
Khái niệm trí thức của một số nước.
Thuật ngữ “trí thức” được dùng ở các nước trên thế giới có nguồn gốc từ tiếng
Latinh. Trong tiếng Anh, Nga, Đức và trong cả tiếng Việt, thuật ngữ “trí thức” thường
được hiểu là trí tuệ, thông minh, hiểu biết và do đó những người trí thức thường được
hiểu là những người có trình độ cao về trí tuệ, là những người thông minh và hiểu biết
nhiều. Tuy vậy, từ trước đến nay, xung quanh thuật ngữ “trí thức” đã có nhiều cuộc
tranh luận và nhiều cách lý giải khác nhau. Sự khác nhau này, một mặt phụ thuộc vào
lập trường, quan điểm, phương pháp tiếp cận, góc độ nghiên cứu, mặt khác còn phụ
thuộc vào điều kiện lịch sử, trình độ phát triển của mỗi quốc gia dân tộc.
Đến nay, trên thế giới, người ta đã trình bày nhiều khái niệm hay định nghĩa
về trí thức. Với sự phong phú về khái niệm trí thức như vậy, việc xác định chính xác
và đầy đủ nội hàm khái niệm trí thức quả thật không dễ. Khái niệm trí thức còn nhiều
ý kiến khác nhau. Mỗi khái niệm đều có tính hợp lý của nó, do đó cho đến nay, nhiều
khái niệm về trí thức vẫn cùng tồn tại.
Thế kỷ XIX ở Pháp, người ta gọi trí thức là “những người không chỉ có học
vấn hay trình độ chuyên môn cao, mà hơn hết, phải là những người quan tâm và có

đây: “Trí thức là một tầng lớp xã hội đặc biệt chuyên lao động trí óc phức tạp, có trình
độ học vấn, chuyên môn sâu, đại diện cho trí tuệ đương thời mà xã hội đạt được. Trí
thức là những người sáng tạo, phổ biến và vận dụng trí thức vào đời sống xã hội, thúc
đẩy nhanh sự phát triển văn hóa và tiến bộ xã hội ”[25,tr.8].
Về mặt chính trị, trí thức không thể có một đường lối chính trị cách mạng.
Trong xã hội có giai cấp, giai cấp thống trị luôn luôn chú trọng đào tạo đội ngũ trí
6

thức để phục vụ cho quyền thống trị và lợi ích thiết thực của giai cấp mình. Trong
cách mạng vô sản, những người cộng sản một mặt phải xây dựng một tầng lớp trí thức
mới từ con em của giai cấp công nhân, nông dân, mặt khác cải tạo, giác ngộ và sử
dụng trí thức cũ để hình thành một đội ngũ trí thức mới đông đảo có thế giới quan
cách mạng, có phẩm chất đạo đức và kiến thức khoa học - kỹ thuật, chuyên môn cao
để lao động sáng tạo, xây dựng đất nước.
Phương thức lao động của trí thức rất đặc biệt ở chỗ là loại lao động trí óc
phức tạp có chuyên môn nghiệp vụ cao. Lao động trí óc phức tạp mang tính độc lập cá
nhân rất cao là đặc trưng cơ bản nhất của trí thức. Sản phẩm của lao động trí tuệ cá
nhân là các giá trị tinh thần. Trí thức càng phát triển thì cơ cấu trí thức càng biến đổi
đa dạng và phong phú. C.Mác và Ph.Ăng-ghen đã đưa ra sự nhìn nhận về người trí
thức và giới trí thức rằng: giới trí thức tham gia các hoạt động xã hội với tư cách là
“thuộc tính chung của những sinh vật có trí tuệ”. Trong các hình thức lao động của
con người, có hai loại lao động: lao động sản xuất sáng tạo ra của cải vật chất và lao
động sản xuất sáng tạo ra nhưng giá trị tinh thần. Theo C.Mác, người trí thức là người
sáng tạo tinh thần, sản xuất tinh thần, là bộ phận tinh hoa của xã hội, là những hiện
thân của ý thức xã hội một cách tiêu biểu nhất, là một tầng lớp xã hội đặc biệt chuyên
lao động trí óc phức tạp, có trình độ học vấn, đại diện cho trí tuệ đương thời mà xã hội
đạt được.
Tuy nhiên, C.Mác và Ph.Ăng-ghen đã phát hiện trong xã hội tư bản, người trí
thức bị giai cấp tư sản bóc lột: “giai cấp tư sản tước hết hào quang thần thánh của tất
cả những hoạt động xưa nay được trọng vọng tôn sùng. Bác sĩ, luật gia, tu sĩ, thi sĩ,

những ai coi trí thức là “siêu giai cấp” hoặc đứng trên giai cấp. Người nói: “Nếu
không nhập cuộc với một giai cấp thì giới trí thức chỉ là một con số không mà
thôi”[30,tr.552].
Ngày nay, đứng trước những thành tựu to lớn của khoa học - kỹ thuật, những
tư tưởng của chủ nghĩa kỹ trị đang tồn tại và phát triển dưới nhiều màu sắc khác nhau.
Nhưng thành tựu chung và đỉnh cao về mặt chính trị - xã hội của họ là đi đến thổi
phồng vai trò của trí thức, mà dẫn đến coi nhẹ hoặc phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai
cấp công nhân hiện đại. Vì vậy, những quan điểm của Lênin về trí thức trong cơ cấu
8

xã hội - giai cấp vẫn là cơ sở để chúng ta nhận rõ bản chất phi khoa học, mơ hồ hoặc
phản chính trị của những tư tưởng này.
Khi bàn về trí thức, Lênin đã gợi cho chúng ta suy nghĩ về tầm trí tuệ của
người cán bộ lãnh đạo. Lênin nhắc nhở những người cộng sản khi đã có chính quyền
và thực hiện xây dựng xã hội mới thì thật sai lầm nếu cho rằng muốn thoát khỏi dốt
nát thì chỉ cần có giáo dục chủ nghĩa Mác mà không chú ý giáo dục các tri thức khác
nữa. Lênin khuyên những người cộng sản phải biết làm giàu trí óc của mình bằng sự
hiểu biết tất cả những tri thức mà nhân loại đã tạo ra. Hơn nữa khi trở thành cán bộ
lãnh đạo thì càng cần phải có một tầm trí tuệ. Người nói: “Người lãnh đạo cơ quan
nhà nước cần phải có ở mức độ cao khả năng lôi cuốn mọi người và có đủ trình độ
kiến thức khoa học kỹ thuật vững vàng kiểm tra công tác của họ. Đó là điều cơ bản.
Không như thế thì công tác không thể tiến hành đúng đắn được. Mặt khác, một điều
rất quan trọng là người lãnh đạo ấy phải biết quản lý về mặt hành chính và có được
người giúp việc hoặc những người giúp việc xứng đáng trong công việc đó. Sự kết
hợp hai phẩm chất ấy trong một con người vị tất sẽ có được và vị tất là cần thiết”.
Ý của Lênin thật rõ ràng. Không phải tất cả những người có bằng cấp cao,
những trí thức đều có thể trở thành người lãnh đạo. Những người lãnh đạo, nhất là ở
những cương vị cao, phải có tầm tri thức cao và rộng. Người cán bộ lãnh đạo thực thụ
về mặt trí tuệ phải có được những kiến thức về nhân sinh quan và thế giới quan mác -
xít, về khoa học quản lý - dùng người, về khoa học kỹ thuật chuyên môn thuộc phạm

trọng. Nếu không có đạo đức cách mạng thì có tài cũng vô dụng”[19,tr.329].
Do vậy, người thiếu đức độ, lương tri thì dù có học cao tột bậc cũng chỉ là
người có bằng cấp, có học hàm, học vị, là người làm việc trí óc. Họ chưa thật sự là trí
thức đúng nghĩa. Nói cách khác, để trở thành người trí thức thì người ta cần phải có
tài và có đức, đem tri thức phục vụ tốt cho nhân dân và đất nước.
Trong tác phẩm “Sửa đổi lề lối làm việc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt câu
hỏi “Trí thức là gì?”. Trả lời câu hỏi này người chỉ rõ: “Trí thức là hiểu biết. Trong thế
10

giới chỉ có hai thứ hiểu biết: một là hiểu biết sự tranh đấu sinh sản. Khoa học tự nhiên
do đó mà ra. Hai là hiểu biết tranh đấu dân tộc và tranh đấu xã hội. Khoa học xã hội
do đó mà ra. Ngoài hai cái đó, không có trí thức nào cả”[15,tr.275].
Trong mọi thời đại, tri thức luôn là nền tảng tiến bộ xã hội, đội ngũ trí thức là
lực lượng nòng cốt sáng tạo và truyền bá tri thức. Ở Việt Nam, từ ngàn xưa cha ông ta
luôn coi “ Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”. Bác Hồ quý trọng trí thức không chỉ
trên nhận thức về vị trí, vai trò của trí thức, mà bằng nhiều hành động cụ thể, Người
cố gắng xây dựng, tổ chức đội ngũ trí thức ngày càng hùng hậu “nguyên khí mạnh thì
đất nước thịnh, nguyên khí yếu thì đất nước suy”. Trong quá trình vận động đi đến
Cách mạng Tháng Tám, tư tưởng Hồ Chí Minh về trí thức được triển khai trong thực
tiễn. Tháng 5-1941, theo sáng kiến của Người, Mặt trận Việt Minh ra đời. Trong
Chương trình Việt Minh, mục Văn hóa giáo dục ghi rõ:
“- Hủy bỏ nền giáo dục nô lệ. Gây dựng nền quốc dân giáo dục. Cưỡng bức giáo
dục từ bực sơ học. Mỗi dân tộc có quyền dùng tiếng mẹ đẻ trong nền giáo dục dân tộc
mình.
- Lập các trường chuyên môn huấn luyện chính trị, quân sự kỹ thuật để đào tạo các
lớp nhân tài.
- Khuyến khích và giúp đỡ các hạng trí thức được phát triển tài năng của họ.
- Khuyến khích và giúp đỡ nền giáo dục quốc dân và làm cho nòi giống ngày càng
thêm mạnh”[11,tr.584].
Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Hồ Chí Minh đã bàn tới

Nói tới trí thức là gắn chặt với công cuộc kiến thiết, một nhiệm vụ khó hơn
chống đế quốc, phong kiến. Theo Người, những người trí thức muốn làm tròn nhiệm
vụ thì phải “1. Khổ cán, 2. Hạnh cán, 3. Thực cán” (làm việc hết sức mình, làm việc
chất lượng, làm việc có hiệu quả, có năng suất)[12,tr.153].
Không phải chỉ đòi hỏi trí thức mà Bác Hồ còn tạo mọi điều kiện từ ưu đãi
vật chất đến chăm lo công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ trí thức cách mạng. Quan
điểm của Người rất rõ ràng: Lao động trí óc cần được khuyến khích giúp đỡ, phát
triển tài năng. Lao động trí óc có nhiệm vụ rất quan trọng trong sự nghiệp kháng chiến
12

kiến quốc, trong công cuộc hoàn thành dân chủ mới, tiến đến chủ nghĩa xã hội. Theo
Hồ Chí Minh, “trí thức không có bao giờ thừa, chỉ có thiếu trí thức thôi”[16,tr.36].
Theo tiếng gọi và tấm gương sáng của Hồ Chí Minh, nhiều trí thức đã hăng
hái đi theo cách mạng, tham gia kháng chiến với một tấm lòng cảm phục Người sâu
sắc. Cụ Huỳnh Thúc Kháng tâm sự: chí thành, năng động, tấm lòng thành của Cụ Hồ
đã làm đá cũng phải chuyển huống là tôi. Còn Phan Anh thì “rất xúc động và cảm
kích trước tấm lòng nhân hậu và bao dung của Bác, vì thấy Bác không lấy việc tôi đã
tham gia Chính phủ Trần Trọng Kim thân Nhật làm điều, mà vẫn cho tôi là một trí
thức yêu nước và trọng dụng”[1,tr.19].
Quan điểm Hồ Chí Minh về trí thức và cầu hiền tài đem lại một sức mạnh to
lớn trong giai đoạn củng cố chính quyền và bước đầu xây dựng đất nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa. Ngày nay, trong bối cảnh mới, trên nền tảng tư tưởng Hồ Chí
Minh, Đảng ta khẳng định đội ngũ trí thức trở thành nguồn lực đặc biệt quan trọng,
tạo nên sức mạnh đất nước trong chiến lược phát triển.
Khái niệm trí thức của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Ngay từ cương lĩnh chính trị năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng
định trí thức là một bộ phận không thể thiếu của cách mạng Việt Nam. Tuy vậy, trí
thức là gì, là ai thì phải đến những năm gần đây mới được Đảng ta tập trung làm rõ.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khóa X về xây
dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,

tác phẩm quan trọng về vấn đề ruộng đất và vấn đề vai trò của nông dân trong cách
mạng. Hai cuộc bút chiến “duy tâm và duy vật”, “nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ
thuật vị nhân sinh” do Hải Triều khởi xướng đã đánh bại đối phương, đồng thời tuyên
truyền rộng rãi lập trường, quan điểm của những người Mácxít trên lĩnh vực tư tưởng
và nghệ thuật.
Hồ Chí minh luôn đề cao vai trò của trí thức cách mạng, ngay trong giai đoạn
đầu của cách mạng Việt Nam, người đã đoàn kết rộng rãi các lực lượng trong dân tộc,
14

trong đó có trí thức, nhằm mục tiêu giải phóng dân tộc. Hồ Chí Minh khẳng định “anh
em văn hóa trí thức là lớp tiên tri, tiên giác”. Năm 1946, với cương vị chủ tịch nước,
trả lời một nhà báo nước ngoài về vai trò của trí thức, người nói “Trí thức là vốn liếng
quý báu của dân tộc. Ở nước khác như thế, ở Việt Nam càng như thế”. Chứng thực
trong cuộc kháng chiến cứu quốc này, những người Việt Nam đã chung một phần
quan trọng. Một số thì trực tiếp tham gia vào công cuộc kháng chiến, hy sinh cực khổ,
chen vai thích cánh với bộ đội nhân dân. Một số thì hăng hái hoạt động giúp đỡ ở
ngoài” [14,tr.156].
Vai trò của tầng lớp trí thức được Bác khẳng định không chỉ đóng vai trò
quan trọng trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc mà kể cả trong sự nghiệp
đổi mới đất nước. Người nhấn mạnh: “trí thức là tài sản quý báu của quốc gia, của
cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ và xây dựng Tổ quốc không thể thiếu lực
lượng trí thức”. Trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, trí thức phải đi đầu trong việc
nâng cao dân trí, xây dựng và kiến thiết nước nhà. Người khẳng định: “Trí thức phục
vụ nhân dân bao giờ cũng cần, kháng chiến kiến quốc cũng cần, tiến lên xã hội chủ
nghĩa càng cần, tiến lên cộng sản chủ nghĩa lại càng cần”[17,tr.39]. Theo Người:
“muốn phát triển văn hoá thì phải cần thầy giáo, muốn phát triển sức khoẻ của nhân
dân thì phải cần thầy thuốc, muốn phát triển kỹ nghệ thì phải cần các kỹ sư”. Thực tiễn
đã chứng minh, trong mọi lĩnh vực, mọi thời kỳ cách mạng đều rất cần đến học vấn, tài
năng và tâm huyết, sức lực của giới trí thức, đội ngũ trí thức đồng hành cùng dân tộc
tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa

Trong công tác điều hành hoạt động của bộ máy Nhà nước xã hội chủ nghĩa
càng đòi hỏi việc phát huy vai trò của đội ngũ trí thức. Đội ngũ trí thức là một bộ phận
của khối liên minh với giai cấp công nhân với giai cấp nông dân, là nền tảng của khối
đại đoàn kết toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, là động lực chủ yếu để phát triển
đất nước. Quan điểm này là sự vận dụng và phát triển lý luận Mác- Lênin về giai cấp
và liên minh giai cấp, tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết dân tộc, thực chất là xác
định vị trí của đội ngũ trí thức trong cơ cấu giai cấp và cơ cấu xã hội Việt Nam.
16

Việc khẳng định và đề cao vai trò của đội ngũ trí thức đã được thống nhất,
xuyên suốt trong các kỳ Đại hội của Đảng. Đại hội VIII của Đảng đã xác định rõ hơn
vị trí, vai trò của khoa học – công nghê, giáo duc - đào tạo đối với công nghiệp hóa,
hiện đại hóa. Nếu cương lĩnh năm 1991 xác định: “cùng với khoa học và công nghệ,
giáo dục và đào tạo phải được xem là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào
tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài”, thì Văn kiện Đại hội VIII đã thay từ “phải được
xem là” bằng từ “phải thực sự là”.
Bên cạnh đó, khi khoa học – công nghệ ngày càng phát triển thì đội ngũ trí thức
càng có vai trò quan trọng hơn và là lực lượng sản xuất trực tiếp nhất, có ý nghĩa
quyết định đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất. Con người vừa là mục tiêu, là
chủ thể vừa là động lực phát triển xã hội, mà đội ngũ trí thức có vai trò trung tâm
trong các hoạt động của mỗi cộng đồng. Chỉ có đội ngũ trí thức mới có thể thúc đẩy
việc cải tiến công cụ sản xuất, chất lượng, hiệu quả cao và có khả năng làm thay đổi
quan hệ sản xuất và các quan hệ xã hội khác. Việc đội ngũ trí thức đã áp dụng khoa
học – công nghệ để thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển lực
lượng sản xuất đã tạo ra nhiều ngành nghề, việc làm mới trong các lĩnh vực công
nghiệp và dịch vụ.
Tại Đại hội XI của Đảng, vấn đề phát triển kinh tế tri thức không chỉ được thể
hiện trong Báo cáo chính trị mà được khẳng định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Cương lĩnh có đoạn: “phát triển kinh tế là
nhiệm vụ trọng tâm; thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát

cho dù mỗi người có những cá tính, ý kiến khác nhau, nhưng cái cốt lõi của đội ngũ
trí thức là những người thuộc tầng lớp tài năng, họ là hạt nhân tích cực trong mọi hoạt
động của đời sống xã hội và có ảnh hưởng đến sự phát triển của đất nước. Chính
những điều đó mà đội ngũ trí thức đã đào tạo được lòng tin vững chắc trong nhân dân
và cả dân tộc. Trong quá trình lãnh đạo đất nước, Đảng luôn coi trọng việc chuẩn bị
cán bộ, trí thức có đức, có tài để giao phó công việc quản lý và điều hành Nhà Nước.
Đây là vấn đề quan trọng trong công tác cán bộ mà điểm cốt lõi vấn đề này là công tác
trí thức. Vấn đề này liên quan đến việc đào tạo, bồi dưỡng và rèn luyện đội ngũ trí
thức về phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực quản
18

lý lãnh đạo. Bởi vì trong nền kinh tế hiện đại người cán bộ phải là những người vừa
hồng vừa chuyên.
1.2. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về vấn đề công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ở nước ta và ở thành phố Cần Thơ.
1.2.1. Khái niệm công nghiệp hóa - hiện đại hóa.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là gì ? Từ trước tới nay, có nhiều định nghĩa
khác nhau. Vậy nên hiểu phạm trù này như thế nào? Quan niệm đơn giản nhất về
công nghiệp hoá cho rằng “công nghiệp hoá là đưa đặc tính công nghiệp cho một hoạt
động, trang bị (cho một vùng, một nước), các nhà máy, các loại công nghiệp ” Quan
niệm mang tính triết tự này được hình thành trên cơ sở khái quát quá trình hình thành
lịch sử công nghiệp hoá ở các nước Tây Âu, Bắc Mỹ. Nghiên cứu định nghĩa phạm
trù công nghiệp hoá của các nhà kinh tế Liên Xô ta thấy trong cuốn giáo khoa kinh tế
chính trị của Liên Xô được dịch sang tiếng Việt Nam 1958, người ta đã định nghĩa “
công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa là phát triển đại công nghiệp, trước hết là công
nghiệp nặng, sự phát triển ấy cần thiết cho việc cải tạo toàn bộ nền kinh tế quốc dân
trên cơ sở kỹ thuật tiên tiến.” Quan điểm công nghiệp hoá là quá trình xây dựng và
phát triển đại công nghiệp, trước hết là công nghiệp nặng của các nhà kinh tế học Liên
Xô đã được chúng ta tiếp nhận thiếu sự phân tích khoa học đối với điều kiện cụ thể
của nước ta. Cuốn “Từ điển tiếng Việt” đã giải thích công nghiệp hoá là quá trình xây

Công nghệ mới là nguồn gốc chủ yếu của sự biến đổi xã hội. Hiện đại hóa
phải xem xét từ góc nhìn công nghệ. Công nghệ mới là yếu tố then chốt thúc đẩy hiện
đại hóa. Con người trong xã hội luôn tìm đến những ý tưởng mới, cách làm tốt hơn –
những công nghệ mới, để phát triển sản xuất, làm cho cuộc sống tốt hơn, đó cũng là
quá trình nâng cao năng lực con người, phát triển vốn trí thức xã hội, làm cho xã hội
trở nên sáng tạo hơn, văn minh hơn, và trải qua nhiều thế kỷ sẽ tạo nên sự biến đổi to
lớn về xã hội, công nghiệp, kinh tế…, khái quát lại, chính đó là quá trình hiện đại hóa.
Thuật ngữ hiện đại hóa xuất hiện từ thời đại “Khai sáng”, với ý tưởng là bản
thân con người có thể làm thay đổi và phát triển xã hội của mình. Tiến bộ công nghệ
và biến đổi kinh tế sẽ làm thay đổi giá trị đạo đức và văn hóa của xã hội, sự gắn kết
kinh tế - xã hội trong phát triển sẽ thúc đẩy sự tiến bộ và nâng cao năng lực của con
20

người, đó cũng là những đặc trưng chủ yếu của quá trình biến đổi không ngừng của
thế giới.
Trong chiến lược công nghiệp hóa nước ta, công nghiệp hóa gắn liền với hiện
đại hóa để nhấn mạnh tính hiện đại, tiến bộ, văn minh, sử dụng công nghệ mới,
phương pháp mới, nhất thiết không lặp lại mô hình công nghiệp hóa của các nước đi
trước.
1.2.2. Vấn đề công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta và ở Thành Phố Cần
Thơ.
Vấn đề công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã khẳng định: “Phát triển
nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao”là một trong ba khâu
đột phá chiến lược thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020. Hiện
nay, với thời đại mà khoa học đã thực sự trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, với
hàm lượng chất xám ngày càng chiếm tỷ lệ cao trong mỗi sản phẩm làm ra, thì con
người càng tỏ rõ vai trò quyết định của mình trong tiến trình phát triển của xã hội, của
lịch sử nhân loại. Trong bối cảnh quốc tế hiện thời, công nghiệp hóa - hiện đại hóa
đang được coi là xu hướng phát triển chung của các nước đang phát triển. Đối với

tới chỗ hình thành đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xác định quan điểm, mục
tiêu, các chủ trương, chính sách và biện pháp thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Tại Đại hội Đảng lần thứ VIII (1996) đã khẳng định những yếu tố cơ bản của
đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam dựa trên chủ trương phát triển
nền kinh tế nhiều thành phần, theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đại hội Đảng lần thứ IX (2001) đã bổ sung nhiều nhận thức mới quan trọng
về công nghiệp hóa, hiện đại hóa thể hiện ở hai luận điểm quan trọng. Một là “từng
bước phát triển kinh tế tri thức”, một nội dung mới của quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa. Hai là tiến hành “công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn theo hướng
hiện đại”.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status