Vai trò của đội ngũ trí thức tỉnh hải dương trong sự nghiệp đổi mới hiện nay - Pdf 25

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trí thức có mặt trong mọi xã hội và luôn có vị trí, vai trò đặc biệt đối
với sự phát triển kinh tế, xã hội của mọi quốc gia. Thế giới hiện nay đang
chuyển mình từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức, đó là quá
trình chuyển đổi từ nền kinh tế chủ yếu dựa vào vốn và tài nguyên thiên
nhiên sang nền kinh tế dựa chủ yếu vào tri thức của con người. Đó là nền
kinh tế trong đó sản sinh ra, truyền bá và sử dụng tri thức như là một động
lực chủ yếu của sự tăng trưởng, tạo ra của cải việc làm trong tất cả các
ngành kinh tế. Sự xuất hiện và phát triển của kinh tế tri thức là một bước
nhảy vọt về chất của lực lượng sản xuất và nền văn minh nhân loại. Tỷ trọng
của của cải tri thức trong tài sản của quốc gia này cũng tăng lên nhanh
chóng. Vai trò cốt lõi là tri thức và công nghệ trong mối quan hệ hữu cơ với
đội ngũ trí thức ngày càng có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của
mỗi quốc gia, dân tộc.
Trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, Đảng ta luôn coi trí
thức là một lực lượng cách mạng. Điều này được thể hiện nổi bật trong tư
tưởng của Hồ Chí Minh về vị trí và vai trò của trí thức trong cách mạng Việt
Nam. Hồ Chủ Tịch luôn nhấn mạnh trí thức là tài sản quý báu của quốc gia,
của dân tộc. Cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, bảo vệ và xây dựng đất
nước Việt Nam không thể thiếu được lực lượng trí thức. Tư tưởng này được
thể hiện trong chính sách của Đảng ta: trí thức là vốn quý của dân tộc,
không có trí thức mới hợp tác với công nông thì cách mạng không thể thành
công và sự nghiệp xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa không thể
thành công được. Tại Đại Hội VII (1991) Đảng ta đã khẳng định: “…Trong
cách mạng dân tộc dân chủ, vai trò của trí thức đã quan trọng, trong xây
dựng chủ nghĩa xã hội vai trò của trí thức càng quan trọng. Giai cấp công -
nông không có đội ngũ trí thức của mình và bản thân giai cấp công – nông
1
không dần được trí thức hóa thì không thể xây dựng được chủ nghĩa xã hội”.
Xuất phát từ vị trí, vai trò quan trọng của đội ngũ trí thức, trong quá trình

Dương đang có những bước đi mạnh mẽ phù hợp với điều kiện kinh tế -
xã hội của địa phương. Hải Dương không chỉ được biết đến là vùng đất
giàu truyền thống “ngàn năm văn hiến” với những di tích lịch sử văn hóa
nổi tiếng như Côn Sơn – Kiếp Bạc, với những làng nghề truyền thống
cùng những đặc sản như bánh đậu xanh ở thành phố Hải Dương, bánh gai
ở Ninh Giang, vải thiều Thanh Hà…mà ngày nay Hải Dương còn được
biết đến như một vùng kinh tế khởi sắc và hứa hẹn sự phát triển mạnh mẽ
về mọi mặt.
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tỉnh Hải
Dương luôn có những đóng góp xứng đáng với vai trò trọng điểm của mình.
Hải Dương có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, GDP tăng trưởng bình quân
hàng năm là 10,5%. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch đúng hướng, tốc độ
đầu tư nhanh với tổng số vốn đăng kí cho đến nay là 20500 tỷ đồng…
Về giáo dục đào tạo, Hải Dương cũng có nhiều thành tích đáng tự
hào, hàng năm số lượng sinh viên trúng tuyển cao đẳng và đại học ở tốp đầu
cả nước. Số lượng thạc sĩ, tiến sĩ, phó giáo sư, giáo sư tương đối cao. Tuy
nhiên, trong quá trình phát triển của mình Hải Dương vẫn còn những hạn
chế, yếu kém về chất lượng nguồn nhân lực cũng như lực lượng sản xuất.
Đời sống nhân dân một số nơi vẫn còn chịu ảnh hưởng của các phong tục
tập quán cổ hủ, lạc hậu. Bên cạnh đó, một số chương trình về văn hóa,
xã hội triển khai còn chậm và thiếu hiệu quả. Sự phát triển giữa các lĩnh
vực kinh tế, văn hóa, xã hội chưa được hài hòa, vùng xa trung tâm chưa
được đầu tư đúng mức. Nghiên cứu khoa học công nghệ mới chỉ giải
quyết được vấn đề trước mắt còn thiếu tính chiến lược. Trong các ngành,
các lĩnh vực còn thiếu chuyên gia giỏi, việc đào tạo, quy hoạch, sử dụng
đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật còn nhiều hạn chế. Vì thế chưa phát
huy hiệu quả nguồn lực và thế mạnh của tỉnh. Do đó, cần thiết phải
3
nghiên cứu và đánh giá một cách khách quan về thực trạng đội ngũ trí
thức, tạo cơ sở hình thành cho những chính sách phù hợp, góp phần

hạn chế đang đặt ra đối với đội ngũ trí thức nước nhà và đề xuất một số
phương hướng xây dựng, phát triển đội ngũ trí thức.
- Bùi Thị Ngọc Lan (2002), Nguồn lực trí tuệ trong sự nghiệp đổi mới
ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Trên cơ sở nghiên cứu, phân
tích một cách chi tiết về vị trí, vai trò và thực trạng nguồn lực trí tuệ của đất
nước. Từ đó tác giả xây dựng hệ thống các giải pháp thiết thực, cấp bách
nhằm phát huy có hiệu quả nguồn lực này trong thời kì đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước.
- Nguyễn Văn Sơn, (2002), Trí thức giáo dục đại học Việt Nam thời
kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Tác giả đã trình bày những nội dung cơ bản về trí thức giáo dục đại học – bộ
phận đặc thù của trí thức Việt Nam. Đồng thời cũng nêu lên một cách chi
tiết thực trạng cơ cấu và chất lượng trí thức giáo dục đại học có cơ cấu hợp
lý và chất lượng cao.
- Phạm Tất Dong (Chủ biên), (2001), Định hướng phát triển đội ngũ
trí thức Việt Nam trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội. Đây là công trình chung của tập thể các tác giả. Từ nghiên cứu
tình hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã đặt ra những yêu cầu về
nguồn lực trí tuệ, các tác giả đã khẳng định vai trò đồng thời làm rõ ưu,
nhược điểm của đội ngũ trí thức ở nước ta, qua đó đề xuất những định
hướng trong hoạch định chính sách để xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam
giai đoạn 2000 – 2010.
Thứ hai, một số luận án, luận văn, đề tài, bài báo trên các tạp chí
nghiên cứu vấn đề trí thức.
Đề tài cấp Nhà nước: “Xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam giai đoạn
2011 – 2020” ( mã số KX.04.16/06 – 10 ) do PGS.TS Đàm Đức Vượng chủ
nhiệm. Nguyễn Thị Kim Hồng (2008), Đội ngũ trí thức tỉnh Thái Bình trong
5
sự nghiệp đổi mới đất nước. Luận văn Thạc sĩ Triết học, Hà Nội. Lê Hồng
Phong (2009), Vai trò của đội ngũ trí thức tỉnh Quảng Bình trong sự nghiệp

hiệu quả các thế mạnh của tỉnh trong công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa,
hiện đại hóa.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Khóa luận đề cập đến đội ngũ trí thức ở tỉnh Hải Dương
hiện nay.
3.2. Khóa luận nghiên cứu đội ngũ trí thức có trình độ từ cao đẳng,
đại học trở lên ở tỉnh Hải Dương.
4. Mục đích và nhiệm vụ của khóa luận
4.1. Mục đích của khóa luận
Đánh giá thực trạng đội ngũ trí thức của tỉnh Hải Dương hiện nay và
từ đó đề xuất những phương hướng, giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò
trí thức tỉnh Hải Dương trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay.
4.2. Nhiệm vụ của khóa luận
Từ mục đích trên, khóa luận có nhiệm vụ làm sáng tỏ các vấn đề sau:
- Lí luận chung về trí thức, đặc điểm, vai trò của đội ngũ trí thức
- Thực trạng của đội ngũ trí thức tỉnh Hải Dương hiện nay.
- Phương hướng, giải pháp xây dựng và phát huy vai trò của trí thức
tỉnh Hải Dương trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
5. Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận dựa trên những phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của
Nhà nước, những chủ trương, nghị quyết…của tỉnh Hải Dương làm phương
pháp luận. Bên cạnh đó trong từng vấn đề, khóa luận sử dụng linh hoạt các
phương pháp lôgic – lịch sử, phân tích – tổng hợp, so sánh, khái quát và kế
7
thừa có chọn lọc, tham khảo các số liệu thống kê của cơ quan nhà nước và
tỉnh Hải Dương.
6. Đóng góp về khoa học của khóa luận
Khóa luận góp phần làm rõ vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam nói

Các nhà kinh điển sáng lập và phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học
như C.Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin và Hồ Chí Minh đã đặc biệt quan tâm
đến trí thức. Điều đó đã khẳng định được tầm quan trọng và vai trò của trí
thức đối với tiến trình phát triển của lịch sử xã hội loài người.
Trong thời đại của mình, C.Mác và Ph. Ăngghen đã quan tâm nghiên
cứu đến tầng lớp trí thức trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Theo
các ông khi xã hội phát triển thì trí thức sẽ trở thành một lực lượng đông đảo
và tầng lớp trí thức sẽ đại diện cho chế độ xã hội đó.
9
Kế thừa và phát triển các tư tưởng của C.Mác và Ph. Ăngghen, trong
điều kiện mới khi giai cấp công nhân và nhân dân lao động Nga đã giành
được chính quyền và bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, đòi hỏi có sự
đóng góp to lớn của nguồn lực trí tuệ, V.I.Lênin – nhà lý luận thiên tài, lãnh
tụ vĩ đại của giai cấp công nhân và nhân dân lao động thế giới đã đặc biệt
quan tâm đến việc xây dựng và sử dụng tầng lớp trí thức. Ông đã định nghĩa
về trí thức như sau: “Tôi dùng chữ trí thức, giới trí thức…là những danh từ
có nghĩa bao hàm không những chỉ các nhà trước tác mà thôi mà còn bao
hàm tất cả mọi người có học thức, các đại biểu của những nghề tự do nói
chung, các đại biểu của lao động trí óc, khác với những đại biểu của lao
động chân tay”[ 33; tr.372].
Qua định nghĩa này, có thể nhận thấy rằng, xét về mặt đặc thù lao
động thì có sự khác nhau căn bản giữa lao động trí óc và lao động khác ở
chỗ, đối với tầng lớp trí thức thì họ là người sản sinh, tích lũy, chuyển
tải và đưa những tri thức khoa học đó đi sâu vào thực tiễn đời sống xã
hội. Trong khi đó, các giai cấp, các tầng lớp xã hội khác vị trí của họ chủ
yếu là sản xuất vật chất và phục vụ việc sản xuất. Như vậy, Lênin đã lấy
tính chất và nội dung lao động của trí thức là lao động trí óc, với trình
độ học vấn của họ để làm cơ sở phân biệt trí thức với những người lao
động chân tay nói chung.
Trên cơ sở kế thừa và phát triển các quan điểm của C.Mác và

bao gồm những người có học thức và là đại diện của những người lao động
trí óc. Theo quan niệm của Hồ Chí Minh, nếu có học thức mà xa rời thực
tiễn thì chỉ là trí thức một nửa mà thôi. Điều này thực tế đã chứng minh,
những người lao động trí óc giản đơn không thể coi là trí thức. Hay chỉ giới
hạn những nhà tư tưởng, nhà bác học hay nhà khoa học thì khó có thể đánh
giá nhìn nhận và thấy được vị trí vai trò của đội ngũ có học vấn, trí thức ở
cấp độ khác đối với sự phát triển của đất nước và xã hội. Trong khi đó, đội
ngũ này chiếm một số lượng lớn trong xã hội và sản phẩm lao động của họ
11
cũng hết sức phức tạp và luôn có sự kế thừa, phong phú và đa dạng. Nếu chỉ
giới hạn đối tượng trí thức như vậy sẽ không phát huy hết vai trò của các
tầng lớp khác trong xã hội.
Vì thế việc xác định trí thức là ai có vai trò quan trọng trong việc xác
định vai trò công tác lãnh đạo và tổ chức đối với đội ngũ cán bộ này, do vậy
cần hiểu đúng hơn về trí thức và đưa ra định nghĩa bao quát đầy đủ, phản
ánh những đặc điểm cơ bản của trí thức. Điều này được thể hiện qua các
quan điểm sau :
Đại từ điển Bách khoa Liên Xô ( 1985) viết: “ Trí thức là tầng lớp
những người làm nghề lao động chủ yếu là lao động phức tạp, sáng tạo, phát
triển và truyền bá văn hóa”.
Từ điển Bách khoa triết học tiếng Nga (1983): Trí thức là tầng lớp
những người làm nghề lao động phức tạp và thường có học vấn cao tương
ứng, có chức năng sáng tạo, phát triển và phổ biến văn hóa.
Từ điển tiếng Nga (1991): “ Trí thức – đó là những người có học vấn
và có kiến thức chuyên môn trong lĩnh vực khoa học, kĩ thuật, văn hóa và
đang làm nghề lao động phức tạp.
Trong từ điển Bách khoa triết học tiếng Nga (1983) định nghĩa: “Trí
thức là tầng lớp những người làm nghề lao động phức tạp và thường có học
vấn cao tương ứng, có chức năng sáng tạo và phổ biến văn hóa”.
Đối với Việt Nam, Từ điển Chủ nghĩa xã hội khoa học, nhà xuất bản

vẫn dùng để chỉ những người lao động trí óc và có học vấn cao. Tuy nhiên
nội hàm của khái niệm đã đưa ra những tiêu chí cụ thể hơn. Từ đó có thể
nhận thấy rằng, nếu một người lao động trí óc, có trình độ học vấn cao,
nhưng trong lao động đó không có tính sáng tạo, không truyền bá và làm
giàu tri thức, không tạo ra những sản phẩm vật chất hay tinh thần có giá trị
cho xã hội thì người đó không thể coi là trí thức.
13
Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở nước ta hiện nay, đòi
hỏi người trí thức phải biết sáng tạo, truyền bá và làm giàu tri thức, tạo ra
những sản phẩm có ích cho xã hội, không chỉ thuần túy về mặt tài năng mà
còn cả về mặt đạo đức, nhân cách. Bên cạnh năng lực chuyên môn sâu,
người trí thức cần thiết phải có đạo đức tốt, nhân cách trong sáng, mới tạo ra
những sản phẩm hướng đến các giá trị nhân văn, tiến bộ vì sự phát triển
chung của con người. Đó mới thực sự là những người trí thức chân chính
trong xã hội nước ta hiện nay, là những người đem trí tuệ, tài năng, trí lực
của mình phụng sự Tổ quốc, nhân dân. Đây chính là biểu hiện của mối quan
hệ giữa đức và tài trong mỗi con người, đạo đức định hướng cho người trí
thức sử dụng tri thức của mình hướng tới các giá trị nhân văn, nhân đạo cao
cả vì lợi ích hoà bình chung của nhân loại.
1.1.2. Những đặc điểm lao động sáng tạo của trí thức
Thứ nhất : Lao động của đội ngũ trí thức là lao động trí óc phức tạp,
là sự sáng tạo những tri thức khoa học mới, tiến bộ và hữu ích
Lao động là quá trình con người sử dụng công cụ lao động của mình
tác động vào điều kiện tự nhiên, nhằm khai thác, cải tạo tự nhiên theo những
phương thức nhất định. Phương thức mà con người sử dụng trong các thời
đại và ngay trong một thời đại cũng khác nhau. Họ có thể tác động một cách
trực tiếp hoặc gián tiếp tới tự nhiên thông qua lao động chân tay hoặc lao
động trí óc.
Lao động của trí thức là một dạng lao động sáng tạo bằng trí óc. Lao
động trí óc là một trong những cách thức mà một bộ phận trong xã hội sử

của người trí thức. Tính sáng tạo trong lao động của trí thức còn gắn liền với
kết quả trong hoạt động của thực tiễn.
Tính sáng tạo của lao động trí thức sẽ đem lại những nội dung, sản
phẩm khoa học mới, tiến bộ, có tính ứng dụng vào thực tiễn cao. Lao động
sáng tạo của trí thức còn có khả năng dự báo về tương lai và đưa ra những
phương hướng và cách thức giải quyết những vấn đề phức tạp của đời sống
15
xã hội. Chính vì thế, tính sáng tạo trong lao động của đội ngũ trí thứccòn
gắn liền vấn đề đạo đức nhân cách. Người trí thức bên cạnh tài năng, năng
lực chuyên môn của mình cần phải có đạo đức nhân cách trong sáng mới có
thể tạo ra những sản phẩm trí tuệ mang tính nhân văn cao cả, vì sự phát triển
nhân loại. Một người có trí tuệ, nhưng sản phẩm của họ tạo ra, đi ngược lại
lợi ích chung của nhân loại, dân tộc, vi phạm đạo đức và phục vụ cho chính
lợi ích cá nhân, hay một nhóm người, thì đó là tri thức không chân chính.
Như vậy cái mới trong lao động sáng tạo khoa học còn phải thể hiện
tính hữu ích cho xã hội. Đây chính là mục đích cần đạt tới của người trí
thức. Cái mới phải phục vụ cho nhu cầu phát triển của đời sống xã hội con
người, nhưng cái mới đó phải mang tính nhân văn, hướng tới những giá trị
cao đẹp của đời sống con người.
Thứ hai : Lao động sáng tạo của trí thức đòi hỏi phải có một hệ thống
kiến thức cơ bản và kiến thức chuyên sâu về chuyên ngành đồng thời phải
có phương pháp tư duy khoa học phù hợp với đối tượng nghiên cứu
Trí thức trước hết để phục vụ cho công việc lao động sáng tạo của
mình thì phải có một hệ thống kiến thức cơ bản làm nền tảng hiểu biết để có
thể nghiên cứu những tầng kiến thức sâu hơn, đó là cơ sở nền tảng của sự
hiểu biết mà bất kỳ một người trí thức nào cũng cần có và lĩnh hội đầy đủ.
Bên cạnh đó, đã là một người trí thức thì cần phải có kiến thức chuyên sâu
về chuyên ngành, đó là phải nắm vững và hiểu biết cặn kẽ kiến thức chuyên
ngành để phục vụ cho công tác nghiên cứu tìm tòi.
Khi trí thức đã tìm ra được vấn đề thúc đẩy cần phải nghiên cứu thì

nghiệm. Tri thức kinh nghiệm chỉ phản ánh bề ngoài hoặc từng mặt rời rạc
của sự vật hiện tượng, từ những hoạt động hàng ngày, lặp đi lặp lại, xuất
phát từ nhận thức cảm tính. Còn tri thức khoa học phản ánh bản chất, quy
luật của sự vật hiện tượng, phản ánh những mối liên hệ của sự vật hiện
tượng trong thế giới khách quan. Tri thức khoa học là kết quả của quá trình
nhận thức lý tính, bắt nguồn từ thực tiễn và được thực tiễn kiểm nghiệm
17
thông qua hoạt động lao động của tầng lớp trí thức – lao động trí óc phức
tạp. Sản phẩm lao động của tầng lớp trí thức chính là những tri thức khoa
học. Sản phẩm này có đặc điểm: tồn tại ở dạng tinh thần, mới, có tính kế
thừa nhưng không lặp lại, có giá trị xã hội cao. Vì vậy, lao động của trí thức
là lao động mang tính sáng tạo rõ nét.
Tri thức khoa học rất đa dạng, phong phú, có thể xem xét ở các lĩnh vực
khác nhau: khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn, khoa học công
nghệ, khoa học liên ngành. Mỗi lĩnh vực đó lại có nhiều chuyên ngành khác
nhau: toán học, văn học, vật lí, sinh học, hóa học, địa lý, chính trị, xã hội học,
lịch sử, tâm lý xã hội…Chúng ta có thể xem xét tri thức khoa học thông qua
các loại hình: nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng hay triển khai. Tri thức
khoa học được kết tinh ở nhiều dạng sản phẩm khác nhau: các học thuyết, lý
thuyết khoa học, các đề án thiết kế, kế hoạch, các tác phẩm văn học nghệ thuật,
giáo trình, bài giảng, bài báo…Các dạng sản phẩm, chuyên ngành khoa học
trên đều phản ánh sâu sắc một vấn đề của tự nhiên, của đời sống xã hội nên
nhiều khi không thể nhận biết ngay một cách dễ dàng giá trị của các công trình
khoa học. Có những công trình nhiều năm sau mới được thừa nhận và mới
được ứng dụng vào thực tiễn sản xuất và đời sống.
Kết quả lao động của trí thức thường mang đậm dấu ấn cá nhân:
Trong thực tế, không phải không có sản phẩm trí tuệ là kết quả chung của
một nhóm người, của một tập thể các nhà khoa học, của một đơn vị nghiên
cứu. Tuy nhiên, dù là sản phẩm của một cá nhân hoặc là sản phẩm của nhiều
người thì tính sáng tạo cá nhân vẫn thường được thể hiện rõ, nhất là các

tạo. Do vậy, tầng lớp trí thức đang phát triển rất nhanh chóng và chắc chắn
sẽ trở thành bộ phận dân cư lớn có vai trò và sức ảnh hưởng mạnh mẽ đến
diễn biến chính trị, kinh tế, xã hội. Song vai trò của trí thức đối với tiến bộ
xã hội không chỉ thể hiện trong lĩnh vực sáng tạo ra của cải vật chất, mà còn
cả trong lĩnh vực đời sống tinh thần. Trí thức tạo ra cơ sở nhận thức mới,
19
những quan điểm mới trong quá trình cải tạo và phát triển không ngừng thế
giới tự nhiên, xã hội và cả bản thân con người.
Tất cả những cái đó khẳng định vai trò to lớn của trí thức – các đại
biểu sáng tạo của loài người đối với tiến bộ xã hội và vai trò đó được thể
hiện cụ thể như sau:
1.2.1. Trí thức là lực lượng đi đầu, có vai trò quan trọng, quyết định
sự nghiệp giáo dục và đào tạo, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi
dưỡng nhân tài
Thực tiễn đã chứng minh, sự phát triển của nền kinh tế xã hội hiện
đại, thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước cần phải có những con người hiện đại. Đội ngũ trí thức có vai trò và
trách nhiệm lớn lao trong việc đổi mới sự nghiệp giáo dục – đào tạo nhằm
nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đào tạo ra
những con người có năng lực cao và phẩm chất đạo đức tốt đáp ứng cho
nhu cầu lao động hiện nay.
Đồng thời để có một đội ngũ trí thức và có nguồn nhân lực trí tuệ cao
đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước, trước hết phải xây dựng
được nền giáo dục hướng vào mục tiêu: “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực,
bồi dưỡng nhân tài”. Thời đại ngày nay nếu thiếu tài năng trí tuệ sẽ không
có sự phát triển bền vững. Tài nguyên trí tuệ nằm ngay trong chính mỗi con
người và đặc biệt là nằm trong kho tàng tri thức của nhân loại, mà trí thức là
kết tinh những giá trị trí tuệ tiêu biểu của toàn dân tộc cũng như của toàn
nhân loại. Mà cuộc chạy đua giữa các quốc gia trong thế kỉ XXI này là cuộc
chạy đua trên lĩnh vực giáo dục, nhằm nâng cao dân trí, đào tạo ra đội ngũ

chuẩn bị những quyết sách của Đảng và Nhà nước. Nhiều ý kiến đóng góp
bổ ích cho việc hoạch định chiến lược và chính sách có căn cứ chính xác
hơn. Trong bầu không khí sinh hoạt dân chủ của cả nước, hoạt động của đội
ngũ trí thức đã có nhiều đổi mới. Đảng và Nhà nước khuyến khích việc thảo
21
luận, tranh luận, lấy ý kiến đóng góp…để có những kiến giải lý luận và
phương án cải biến thực tiễn khả thi, hiệu quả và phù hợp nhất. Vì vậy,
trong việc xây dựng và hoàn thiện Cương lĩnh, đường lối, chính sách, pháp
luật, hoạch định các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà
nước đều có sự đóng góp tích cực của đội ngũ trí thức.
1.2.3. Trí thức là lực lượng trực tiếp góp phần duy trì, xây dựng và
phát triển nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu
tinh hoa văn hóa nhân loại
Vai trò của đội ngũ trí thức tất nhiên không chỉ thể hiện trong lĩnh vực
sáng tạo ra của cải vật chất mà cả trong lĩnh vực sáng tạo ra các giá trị của
đời sống tinh thần. Công cuộc đổi mới của đất nước đã hướng toàn bộ đội
ngũ trí thứcphát huy lao động sáng tạo trên khắp các lĩnh vực của đời sống
xã hội, ra sức khắc phục tình trạng nghèo đói về trí tuệ, thông tin…Khoa
học và công nghệ, giáo dục, văn hóa, nghệ thuật trong quần chúng nhân dân
lao động trên khắp cả nước, mở mang tri thức, giao lưu văn hóa, tiếp thu
những tinh hoa văn hóa mới của nhân loại góp phần làm cho đời sống tinh
thần của nhân dân ngày càng trở lên phong phú và trong sáng.
Văn hóa – văn nghệ là bộ phận khăng khít của sự nghiệp đổi mới.
Nhiệm vụ trung tâm của nó là góp phần xây dựng một nền văn hóa tiên tiến,
đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc, xây dựng và bồi dưỡng con người Việt
Nam về trí tuệ, đạo đức, tâm hồn, nhân cách ngang tầm với những đòi hỏi
của sự ghiệp đổi mới toàn diện đất nước. Để thực hiện nhiệm vụ ấy, người
trí thức trên mặt trận văn hóa phải thực sự là các chiến sĩ tiên phong, qua các
tác phẩm của mình, góp phần khẳng định những giá trị cao đẹp của con
người Việt Nam, của chế độ xã hội chủ nghĩa, của đất nước, của dân tộc.

dịch vụ khoa học công nghệ khác. Hơn ai hết, họ phải có trách nhiệm không
ngừng nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn của mình để tiếp thu và vận
dụng sáng tạo các tiến bộ khoa học và công nghệ hiện đại trên thế giới, biết
kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại để đẩy mạnh quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
23
Theo định hướng đã được xác định trong Đại hội lần thứ X của Đảng, để
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nước ta cần phải “tranh thủ những cơ
hội thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra để rút ngắn quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với việc phát triển
kinh tế tri thức. Phải coi kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; phát triển mạnh các ngành kinh tế và
các sản phẩm kinh tế có giá trị gia tăng cao dựa nhiều vào tri thức”.
Như vậy với đường lối gắn liền công nghiệp hóa, hiện đại hóa với nền
kinh tế tri thức, phát triển mạnh mẽ khoa học và công nghệ, tăng cường phát
triển giáo dục và đào tạo thì việc trí thức hóa nguồn lực lao động sẽ diễn ra
mạnh mẽ trên phạm vi toàn xã hội cũng như trong mọi lực lượng tham gia
vào quá trình sản xuất, không phân biệt thành phần xã hội. Hơn lúc nào hết,
đội ngũ trí thức phải phát huy vai trò to lớn của mình trong quá trình đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong đó nhiệm vụ chính trị
cơ bản là phát huy vai trò động lực của khoa học và công nghệ trong quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đi đầu trong việc nghiên cứu,
ứng dụng các kĩ thuật tiến bộ và công nghệ mới, đồng thời đổi mới cơ chế
quản lý sản xuất kinh doanh, góp phần tổ chức và hướng dẫn phong trào
quần chúng lao động tiến công vào khoa học, công nghệ, phát huy sáng
kiến, cải tiến kĩ thuật, hợp lý hóa sản xuất để nâng cao năng suất lao động và
hiệu quả kinh tế. Mở rộng và tăng cường năng lực hoạt động sáng tạo của
người lao động trong quá trình sản xuất nhằm vừa tăng thêm cơ hội tìm
kiếm việc làm, góp phần giải quyết tình trạng thất nghiệp, vừa tạo ra sự phát
triển nhanh và bền vững cho xã hội, nhờ đó tạo ra những khả năng thực tế để

lỡ thời cơ lớn Việt Nam sẽ tụt hậu xa hơn và đó là hiểm hoạ của dân tộc.
Phát triển kinh tế tri thức ở nước ta không có nghĩa là chuyển ngay
sang các nghành công nghệ cao để có cơ cấu kinh tế như các nước phát triển
đã đạt tới, mà là thực thi chiến lược phát triển dựa vào tri thức, thực chất là
vận dụng tri thức mới vào tất cả các ngành kinh tế.
25

Trích đoạn Đội ngũ trí thứctỉnh Hải Dương là lực lượng có vai trò quan trọng, quyết định trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo tỉnh nhà, nâng cao Phương hướng và mục tiêu phát triển của tỉnh Hải Dương đến năm Yêu cầu mới đối với đội ngũ trí thứctỉnh Hải Dương Tiếp tục đào tạo và đào tạo lại để tăng cường về số lượng, nâng cao chất lượng đội ngũ trí thứccủa tỉnh Gắn hoạt động khoa học với sản xuất và nâng cao đời sống, tạo điều kiện để tăng cường liên minh trí thức với giai cấp công nhân và
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status