LUẬN VĂN: Vai trò của đội ngũ trí thức tỉnh quảng bình trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay potx - Pdf 15


LUẬN VĂN:

Vai trò của đội ngũ trí thức
tỉnh quảng bình trong sự nghiệp công nghiệp hóa,

hiện đại hóa hiện nay
mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
ở mọi thời đại, trí thức luôn là nền tảng tiến bộ của xã hội, đội ngũ trí thức là lực
lượng nòng cốt sáng tạo và truyền bá tri thức.
Trong thời đại ngày nay, khoa học - công nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất trực
tiếp, cuộc cách mạng khoa học - công nghệ phát triển như vũ bão đã làm cho thế giới

Tuy vậy, trước những đặc điểm và yêu cầu của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá của tỉnh, đội ngũ này còn bộc lộ nhiều hạn chế: Số lượng và chất
lượng chưa đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển; cơ cấu còn có những mặt bất hợp
lý, đặc biệt là về ngành nghề. Là một tỉnh duyên hải miền Trung, có nhiều lợi thế tiềm
năng về nông-lâm-ngư nghiệp và du lịch nhưng bộ phận trí thức làm việc trong các
lĩnh vực, ngành nghề này còn yếu, đặc biệt là thiếu những trí thức có trình độ cao và
có chuyên môn giỏi. Nhìn chung, vai trò của đội ngũ trí thức trong việc thực hiện
nhiệm vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá của tỉnh còn nhiều hạn chế. Quảng Bình hiện
vẫn còn là tỉnh nghèo, kinh tế - xã hội chậm phát triển, nhất là khu vực nông thôn. Để
sớm thoát nghèo và phát triển bền vững tỉnh Quảng Bình cần phát huy vai trò của đội
ngũ trí thức. Đây là vấn đề hết sức cấp thiết đang đặt ra, đòi hỏi phải được nghiên cứu
để có các giải pháp pháp thiết thực, phù hợp.
Vì những lẽ trên, tôi lựa chọn vấn đề: “Vai trũ của đội ngũ trí thức tỉnh Quảng
Bỡnh trong sự nghiệp cụng nghiệp hoỏ, hiện đại hoá hiện nay” làm đề tài nghiên cứu
luận văn thạc sĩ triết học.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Cho đến nay đã có rất nhiều công trình khoa học, nhiều bài viết hết sức có giá trị đã
được công bố nghiên cứu về trí thức và vai trò của đội ngũ trí thức. Trong quá trình
nghiên cứu thực hiện luận văn này, ngoài khai thác các giá trị kinh điển, các quan điểm,
tư tưởng của Hồ Chí Minh, của Đảng ta và một số tư liệu khác, tác giả chú trọng tham
khảo sâu hơn một số công trình khoa học, luận văn, luận án liên quan trực tiếp đến đề tài
để có sự kế thừa và tránh trùng lắp. Cụ thể như sau:
- Nguyễn Quốc Bảo - Đoàn Thị Lịch: Trí thức trong công cuộc đổi mới đất nước,

Nxb Lao động, Hà Nội,1998. Trong công trình này các tác giả đã khái quát tình hình biến
đổi của trí thức Việt Nam trong công cuộc đổi mới. Trên cơ sở phân tích những ưu điểm
cũng như những hạn chế của trí thức Việt Nam các tác giả đã đề ra những giải pháp xây
dựng đội ngũ trí thức nhằm đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới.
- Nguyễn Thanh Tuấn: Một số vấn đề về trí thức Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội,1998: Trong công trình này tác giả đã nêu và phân tích những đặc trưng cơ bản

hiện đại hoá, Luận văn thạc sĩ triết học, Hà Nội, 2008. Tuy nhiên, các luận án, luận văn này
đều có cách tiếp cận khác nhau, đối tượng nghiên cứu khác nhau, mục đích nghiên cứu cũng
như hướng giải quyết vấn đề cũng không giống nhau.
Trên thực tế, cho đến nay chưa có một đề tài khoa học, một công trình nghiên cứu
nào đề cập một cách trực tiếp, có chủ ý và có hệ thống đến vai trò của đội ngũ trí thức
tỉnh Quảng Bình, kể cả trên địa bàn tỉnh.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích của luận văn:
Trên cơ sở lý luận mác-xít và thực tiễn của Quảng Bình luận văn phân tích các giải
pháp để phát huy vai trò của đội ngũ trí thức của tỉnh Quảng Bình trong sự nghiệp đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh hiện nay.
- Nhiệm vụ của luận văn:
Để đạt được mục đích trên luận văn cần thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:
+ Làm rõ quan niệm về trí thức và vai trò của trí thức trong sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước.
+ Phân tích thực trạng của đội ngũ trí thức tỉnh Quảng Bình; đánh giá vai trò của
đội ngũ này trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của tỉnh, tìm ra nguyên nhân,
đặc biệt là các nguyên nhân của hạn chế, yếu kém, những vấn đề đặt ra đối với việc phát
huy vai trò đội ngũ trí thức tỉnh Quảng Bình trong giai đoạn hiện nay.
+ Đề xuất một số giải pháp cơ bản để phát huy vai trò đội ngũ trí thức tỉnh Quảng
Bình trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá mà tỉnh đang thực hiện.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

- Đối tượng nghiên cứu: Đội ngũ trí thức của tỉnh Quảng Bình, chủ yếu là đội ngũ
trí thức do ủy ban nhân dân tỉnh quản lý.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động của trí thức Quảng
Bình ở một số lĩnh vực trong thời kỳ đổi mới, thời gian từ khi tái thành lập tỉnh năm
1989, đặc biệt trong giai đoạn tỉnh bước vào thực hiện đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện
đại hoá cho đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn


Chương 1
trí thức và vai trò của trí thức đối với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở
tỉnh quảng bình

1.1. trí thức và vai trò của trí thức trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá
1.1.1. Quan niệm về trí thức và những đặc điểm của trí thức
1.1.1.1. Quan niệm về trí thức
Khái niệm “trí thức” có nguồn gốc từ tiếng La-tinh là Intellidentina, nghĩa là sự
thông minh, có trí tuệ, có nhận thức hiểu biết, dùng để chỉ một bộ phận người trong xã
hội có được những đặc điểm này. Khái niệm này xuất hiện rất sớm trong lịch sử khi cùng
với sự phân công lao động xã hội làm nảy sinh một bộ phận người tách khỏi lao động
chân tay để lao động bằng trí óc. Tuy vậy, nó chỉ thực sự được sử dụng phổ biến ở
khoảng thời gian từ nửa sau thế kỷ XIX đến nay, khi mà vai trò của trí thức được thể hiện
rõ nét như là nhân tố không thể thiếu đối với sự phát triển kinh tế - xã hội.
Về cơ bản, từ trước tới nay khái niệm trí thức vẫn được dùng để chỉ những người
lao động trí óc, nhất là những người có học vấn cao. Tuy vậy, xung quanh khái niệm này
có nhiều cách hiểu và cách định nghĩa khác nhau. Sỡ dĩ có hiện tượng này trước hết là vì
tuỳ góc độ tiếp cận đối tượng trí thức của mỗi người hay mỗi nhóm người có sự khác
nhau. Hơn nữa, kể từ khi khái niệm này xuất hiện cho đến nay nó luôn được dùng để chỉ
một lực lượng lao động đặc biệt trong xã hội, mà lực lượng này tuỳ theo từng giai đoạn
phát triển của lịch sử luôn có những thay đổi rất đa dạng về chức năng, vị trí, vai trò và
nhiệm vụ. Vì vậy, trí thức là một phạm trù xã hội có tính lịch sử.
Các nhà sáng lập và phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học như C.Mác, Ph.Ăngghen,
V.I.Lênin, Hồ Chí Minh là những người đặc biệt quan tâm đến trí thức và vấn đề tri thức,
không chỉ vì các ông là những người trí thức lớn mà còn là vì họ nhận thức được một
cách sâu sắc vai trò quan trọng của trí thức đối với sự phát triển của xã hội.
ở vào thời đại của mình, C.Mác và Ph.Ăngghen đã quan tâm nghiên cứu tầng lớp trí
thức trong quá trình phát triển xã hội trên mọi lĩnh vực, tuy vậy, do những điều kiện nhất
định các ông chưa đưa ra định nghĩa về trí thức.

khác nhau về nội hàm của khái niệm nên ngoại diên của khái niệm được mở rộng quá,
hoặc bị thu hẹp quá.
ở xu hướng thứ nhất chúng ta thấy, không thể đơn giản cho rằng cứ làm nghề lao
động trí óc thì sẽ được coi là trí thức. Bởi lẽ, như quan niệm của VI.Lênin, trí thức không
bao gồm tất cả những người lao động trí óc mà chỉ bao gồm những người có học thức và
là đại diện của những người lao động trí óc; hơn nữa, theo Hồ Chí Minh, nếu một người
chỉ có học thức nhưng không vận dụng được vào thực tiễn thì chỉ là “trí thức một nửa”
mà thôi. Đồng thời, trên thực tế, những người lao động trí óc nhưng giản đơn không thể
coi là trí thức được.
ở xu hướng thứ hai, do chỉ giới hạn đối tượng ở một số trí thức bậc cao, những
người lỗi lạc, ưu tú nên cũng không thể qua đó mà đánh giá hết được vị trí, vai trò và
những cống hiến to lớn của những người có học vấn, có tri thức ở những cấp độ khác đối
với sự phát triển của xã hội, trong lúc những người này chiếm số đông và tuy không phải
là những nhà tư tưởng, những bác học, những nhà phát minh nhưng lao động của họ cũng
hết sức phức tạp và luôn có sự kế thừa, phát huy và sáng tạo.
Xu hướng thứ ba là nghiên cứu và đưa ra được định nghĩa bao quát được đầy đủ,
phản ánh được những đặc điểm cơ bản của trí thức, không quá thu hẹp cũng như không
mở rộng khái niệm một cách thái quá. Đây là xu hướng cơ bản và phổ biến nhất hiện nay.
Xu hướng này được thể hiện qua các quan niệm sau:
Trong Từ điển Bách khoa Liên Xô, do A.M Prokhorov chủ biên, xuất bản năm 1985,
khái niệm trí thức được nhìn từ phương diện chức năng xã hội, trí thức được coi là tầng
lớp những người làm nghề lao động trí óc phức tạp, sáng tạo, phát triển và truyền bá văn
hoá.
Trong Từ điển tiếng Nga do Gozegov chủ biên, trí thức được hiểu là người lao động
trí óc có học vấn, có kiến thức nghề nghiệp trong các lĩnh vực khác nhau của khoa học kỹ
thuật, văn hoá.
Trong Từ điển Triết học, Nhà xuất bản Tiến bộ Mátxcơva, xuất bản năm 1986, do
Rozental chủ biên đưa ra định nghĩa: “Trí thức là tập đoàn xã hội gồm những người làm
nghề lao động trí óc. Giới trí thức gồm kỹ sư, kỹ thuật viên, thầy thuốc, luật sư, nghệ sĩ,


học vấn cao về lĩnh vực chuyên môn nhất định, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo,
truyền bá và làm giàu tri thức, tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị đối
với xã hội [20, tr.81].
Trong định nghĩa này, khái niệm trí thức về cơ bản vẫn dùng để chỉ những người
lao động trí óc, có trình độ học vấn cao. Tuy vậy, nội hàm của khái niệm cũng đã được bổ
sung cụ thể hơn. Từ các tiêu chí được đề cập trong định nghĩa cho thấy, nếu một người
lao động trí óc, có trình độ học vấn cao, nhưng trong lao động không có được sự sáng
tạo, không truyền bá và làm giàu tri thức, không tạo ra được những sản phẩm tinh thần và
vật chất có giá trị đối với xã hội cũng không thể được coi là trí thức. Đây là một đòi hỏi
cao nhưng cần thiết đối với người trí thức, đặc biệt là đối với trí thức xã hội chủ nghĩa.
Theo Phó giáo sư, tiến sĩ Đàm Đức Vượng, Viện trưởng Viện Khoa học nghiên cứu
nhân tài, nhân lực thì:
Định nghĩa này khái quát đặc trưng và tiêu chí cơ bản của trí thức Việt
Nam hiện nay. Trên cơ sở định nghĩa này, khi định chính sách, chế độ cần phải
cụ thể hoá, như ấn định bằng cấp nào là trí thức, tiêu chí đối với trí thức trong
các lĩnh vực, ngành nghề, các thời kỳ khác nhau; cần xác định rõ trí thức là
những người lao động trí óc, các nhà khoa học tự nhiên và xã hội, các viện sĩ,
giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ, thạc sĩ, cử nhân, kỹ sư, kiến trúc sư, kỹ thuật viên,
thầy giáo, thầy thuốc, luật sư, nghệ sĩ, hoạ sĩ, nhạc sĩ, nhà điêu khắc, nhà ngôn
ngữ, nhà toán học, nhà hoá học, nhà vật lý học, nhà văn, nhà thơ, nhà thiết kế,
một bộ phận lớn công chức, viên chức, các nhà sáng chế, phát minh, sáng tác,
sáng tạo [66].
Trong xã hội ta, việc đòi hỏi người trí thức xã hội chủ nghĩa phải là người biết sáng
tạo, truyền bá và làm giàu tri thức, tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị
đối với xã hội không chỉ thuần tuý là đòi hỏi về mặt tài năng mà còn cả về mặt đạo đức,
nhân cách. Người trí thức không chỉ có năng lực chuyên môn mà còn cần phải có đạo
đức, nhân cách tốt mới có thể cống hiến được một cách tích cực những sản phẩm trí tuệ
của mình vì sự tiến bộ, phát triển của xã hội, của quê hương, đất nước. Nếu như một
người có tài năng, có sáng tạo nhưng những sản phẩm trí tuệ của họ chỉ phục vụ riêng


mức độ kết hợp này mà hình thành 2 loại lao động khác nhau: lao động trí óc và lao động
chân tay. Đối với người lao động chân tay- sở dĩ được gọi như vậy vì ở họ sự chi phí hao
tổn năng lượng thần kinh, trí tuệ hạn chế, chủ yếu là làm theo sự hướng dẫn, chỉ vẽ của
người khác, làm theo kinh nghiệm, hạn chế sự sáng tạo. Còn đối với lao động trí óc thì
điều này ngược lại.
Tuy nhiên, lao động trí óc cũng có nhiều dạng khác nhau, từ đơn giản đến phức tạp.
Tiêu chí để phân biệt hai dạng lao động này là sự hao phí trí tuệ, hàm lượng chất xám ít
hay nhiều trong quá trình lao động. Đối với những người lao động trí óc giản đơn, sự hao
phí năng lượng trí tuệ không phải là cơ bản thì họ không được gọi là người trí thức. Thậm
chí, cũng không thể coi là trí thức đối với những người có trình độ học vấn cao, được tốt
nghiệp đại học nhưng không được bố trí sử dụng đúng chuyên môn, không có việc làm
phù hợp và tham gia lao động phổ thông giản đơn, hoặc thất nghiệp, vì họ có trình độ học
vấn nhưng không lao động trí óc hoặc lao động trí óc giản đơn.
Đối với người lao động trí óc phức tạp, đòi hỏi họ phải có sự chi phí hàm lượng trí
tuệ lớn trong quá trình lao động và đặc biệt là phải có sự sáng tạo, tức dùng tri thức đã có
để sáng tạo ra tri thức mới, các sản phẩm vật chất và tinh thần mới có giá trị đối với xã
hội. Những người lao động trí óc ở dạng này mới thực sự được coi là trí thức. Hay nói
cách khác, lao động của trí thức là sự tìm tòi, khám phá, sáng tạo cái mới, tiến bộ, đòi hỏi
phải có tư duy ở mức độ cao, sự hao phí của năng lượng, thời lượng của bộ não là chủ
yếu. V.I.Lênin cho rằng: Lao động nói chung đã là sáng tạo. Nhưng từ sự phân công lao
động xã hội mà tính sáng tạo trội lên thuộc về lao động trí óc của người trí thức.
Thứ hai: Trí thức là người có trình độ học vấn cao về lĩnh vực chuyên môn nhất
định.
Vì lao động của trí thức là lao động trí óc phức tạp, là sự sáng tạo ra các giá trị mới,
các tri thức mới nên trí thức cần phải có một trình độ học vấn căn bản được xã hội thừa
nhận.
Chúng ta biết rằng, khả năng tham gia lao động trí óc phức tạp và sáng tạo không
phải ai cũng có, ngoài một số ít thiên tài bẩm sinh, còn lại sự sáng tạo bao giờ cũng được
bắt đầu từ sự bắt chước, sự kế thừa, nó được tích luỹ dần qua giáo dục, đào tạo và nảy


gia trực tiếp của những người trí thức trong hoạt động lãnh đạo, quản lý và điều hành xã
hội bởi hoạt động này là hoạt động chính trị phức tạp. Hoạt động này đòi hỏi người tham
gia phải có bản lĩnh và năng lực trí tuệ hơn người bình thường, tức phải có những kiến
thức, tri thức khoa học sâu, rộng về lĩnh vực lãnh đạo, quản lý; đồng thời có năng lực và
uy tín trong việc tập hợp, tổ chức, giáo dục và thuyết phục quần chúng hướng vào thực
hiện những nhiệm vụ mà giai cấp thống trị và đảng của nó đã vạch ra.
Tuy nhiên, lịch sử đã cho thấy, việc bố trí, sử dụng trí thức tham gia các hoạt động
lãnh đạo quản lý xã hội như thế nào còn do nhận thức, thái độ và ý chí của giai cấp cầm
quyền; và không phải là toàn bộ trí thức mà chỉ là một bộ phận trí thức tiên tiến, ưu tú
được lựa chọn. Nếu trong hàng ngũ lãnh đạo, quản lý vắng bóng lực lượng này xã hội sẽ
trở nên trì trệ, lạc hậu và không thể phát triển lên được. Lịch sử cũng đã chứng minh, xã
hội nào huy động được đông đảo trí thức tham gia lãnh đạo, quản lý và điều hành xã hội
thì xã hội đó phát triển một cách ổn định, năng động, hợp quy luật và đảm bảo được
những yếu tố văn hoá, văn minh.
ở Việt Nam điều này thể hiện khá rõ nét. Dưới thời đại phong kiến nhiều “kẻ sĩ”, “sĩ
phu” được nhà nước trọng dụng vào các vị trí lãnh đạo, quản lý khác nhau trong bộ máy
chính quyền. Hiện nay, có một thực tế là, có không ít trí thức làm việc trong các cơ quan
Đảng, Nhà nước, trong các tổ chức đoàn thể của hệ thống chính trị ở Trung ương và địa
phương. Đây là nhóm trí thức tham gia vào hệ thống quyền lực nhân dân thuộc hệ thống
quản lý các cấp, trong các cơ quan công quyền và trong các lĩnh vực hành chính sự
nghiệp và hoạt động xã hội. Trong số họ có những người giữ trọng trách chủ chốt trong
lãnh đạo, quản lý.
Bộ phận trí thức này được gọi là các cán bộ, quan chức có vai trò hoạch định đường
lối, chính sách và tổ chức thực hiện đường lối chính sách. Tuy đội ngũ này không đông
bằng các trí thức khoa học, giáo dục - đào tạo, y tế hay văn hoá - nghệ thuật nhưng họ có
vị trí, vị thế xã hội quan trọng, có ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của đất nước và sự phát
triển của tầng lớp trí thức nói chung ở nước ta.

Thứ tư: Trí thức không phải là một giai cấp mà là một tầng lớp xã hội đặc biệt, tuy
không có hệ tư tưởng độc lập nhưng trí thức là đại diện cho trí tuệ nhân dân trong từng

dạng, từ mọi giai cấp, mọi tầng lớp, mọi giới trong nhân dân và vì họ là người có tri thức
nên được lựa chọn làm đại diện về mặt trí tuệ trước hết cho thành phần mà họ xuất thân,
những sáng tạo của họ trước hết phản ánh và phục vụ cho đời sống vật chất cũng như tinh
thần của bộ phận nhân dân sản sinh ra họ. Từ đó, tựu trung lại, trí thức đại diện cho trí tuệ
của nhân dân nói chung trong xã hội trên mọi phương diện trong các thời kỳ lịch sử từ
khi lao động trí óc xuất hiện. Trong đó, bộ phận trí thức đi theo và ủng hộ giai cấp cầm
quyền đang trong thời kỳ tiến bộ - giai cấp đại diện cho lực lượng sản xuất tiến bộ, đại
diện vì quyền lợi của các giai cấp, tầng lớp xã hội, đại diện cho dân tộc và toàn thể nhân
dân và vì sự tiến bộ xã hội luôn luôn được đánh giá cao, được nhân dân lựa chọn uỷ thác
nói lên tiếng nói của mình.
Thứ năm: Trí thức ra đời là kết quả của sự phát triển của lực lượng sản xuất, trực
tiếp là của các quá trình phân công lao động diễn ra trong lịch sử.
Chúng ta biết rằng, lịch sử phát triển của xã hội loài người là lịch sử phát triển của
sản xuất vật chất, trong đó được thể hiện cụ thể và rõ nét bằng sự phát triển không ngừng
của lực lượng sản xuất. Chính sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất là
nguyên nhân dẫn đến những lần phân công lao động lớn trong lịch sử. Theo sự phân tích
của Ph.Ăngghen trong tác phẩm: “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và nhà
nước” thì lịch sử loài người đã diễn ra 3 lần phân công lao động xã hội. Lần thứ nhất:
chăn nuôi tách khỏi trồng trọt. Lần thứ hai: thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp. Lần
thứ ba: thương nghiệp ra đời, dẫn đến xuất hiện loại lao động trí óc và lao động chân tay.
Theo quan niệm trước đây, những người tham gia lao động trí óc đều được coi là trí thức.
Như vậy, trí thức ra đời gắn liền với sự phân công lao động xã hội, cụ thể là sự xuất
hiện của lao động trí óc với đặc trưng là hao phí năng lượng thần kinh trung ương là chủ
yếu nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội ngày càng cao. Lao động trí óc không
thể thiếu và ngày càng trở nên quan trọng đối với sự phát triển xã hội loài người.

1.1.1.3. Vài nét về quá trình hình thành tầng lớp trí thức Việt Nam sau cách
mạng Tháng Tám
Khi cách mạng xã hội chủ nghĩa giành được thắng lợi thì đội ngũ trí thức vô sản
mới dần dần được hình thành bằng hai con đường: Sử dụng, cải tạo đội ngũ trí thức cũ

nói chung mới có thể giải phóng cho họ, xoá được nghèo nàn, lạc hậu và xây dựng, phát
triển đất nước.
ở đây cũng cần lưu ý thêm rằng, xét về nhóm xã hội trí thức, các nhà nghiên cứu
thường dùng hai khái niệm: "tầng lớp trí thức" hay "đội ngũ trí thức". ở Việt Nam, do
điều kiện lịch sử trước đây còn có cách gọi trí thức cũ và trí thức mới nhằm phân biệt trí
thức được đào tạo dưới chính quyền, chế độ cũ với trí thức được đào tạo dưới chế độ
mới. Trong nhiều tài liệu, văn bản còn gọi là "trí thức xã hội chủ nghĩa". Từ trước đến
năm 1998, chủ yếu dùng thuật ngữ tầng lớp trí thức, thuật ngữ đội ngũ trí thức được thể
hiện trong văn bản lần đầu tiên tại Chỉ thị 45-CT/TƯ, ngày 11/11/1998 của Bộ Chính trị
Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII. Từ đó đến nay thuật ngữ này được dùng
phổ biến thay cho thuật ngữ tầng lớp trí thức. Như vậy, thuật ngữ đội ngũ trí thức là cách
gọi mới thay thế cho khái niệm tầng lớp trí thức, một lực lượng quan trọng trong liên
minh chiến lược công nhân - nông dân và trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Qua phân tích một số đặc trưng cơ bản của trí thức cùng quá trình hình thành đội
ngũ trí thức vô sản nói chung, trí thức Việt Nam hiện đại nói riêng trên đây giúp chúng ta
có cơ sở nhận thức rõ hơn về trí thức. Quan niệm đúng về trí thức là điều kiện quan trọng
cho việc khơi dậy và phát huy tiềm năng to lớn của trí thức, từ đó khai thác và sử dụng có
hiệu quả tiềm năng và sự cống hiến của họ trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước.
1.1.2. Vai trò của trí thức trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá
1.1.2.1. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Công nghiệp hoá xuất hiện vào giai đoạn phát triển thấp của chủ nghĩa tư bản. ở thế
kỷ XVII, XVIII, khi cách mạng công nghiệp được tiến hành ở Tây Âu, công nghiệp hoá
được hiểu là quá trình thay thế lao động thủ công bằng lao động sử dụng máy móc.
Những khái niệm thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội nói chung và khái niệm công nghiệp hoá

nói riêng mang tính lịch sử, tức là luôn có sự thay đổi cùng với sự phát triển của nền sản
xuất xã hội.
ở nước ta công nghiệp hoá đã được tiến hành vào những năm 60 của thế kỷ XX, tuy
vậy do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau nên còn dẫn tới nhiều hạn

cao hơn chủ nghĩa tư bản, từng bước thiết lập quan hệ sản xuất mới tiến bộ, dựa trên cơ
sở công hữu toàn bộ tư liệu sản xuất. Muốn vậy phải tiến hành công nghiệp hoá để phát
triển lực lượng sản xuất, nếu không phát triển lực lượng sản xuất theo hướng tiên tiến
hiện đại chúng ta không thể thiết lập được quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa.
Cơ sở thực tiễn của công nghiệp hoá hiện nay trước hết là việc chúng ta đi lên chủ
nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu, không qua chế độ tư bản chủ nghĩa, cơ sở
vật chất - kỹ thuật thấp kém, trình độ của lực lượng sản xuất chưa phát triển, quan hệ sản
xuất xã hội chủ nghĩa mới được thiết lập, chưa được hoàn thiện. Nhiệm vụ quan trọng
nhất của nước ta được xác định là phải xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa
xã hội, trong đó có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, có văn hoá và khoa học tiên
tiến. Đồng thời, thực tiễn những thành công và sai lầm của quá trình công nghiệp hoá
trước đây là bài học kinh nghiệm cho chúng ta thấy không thể không tiến hành công
nghiệp hoá bởi công nghiệp hoá là con đường duy nhất để chúng ta có thể phát triển
mạnh mẽ các yếu tố của lực lượng sản xuất, tạo điều kiện xây dựng cơ sở vật chất - kỹ
thuật đảm bảo cho chủ nghĩa xã hội, vấn đề là phải lựa chọn phương pháp và bước đi cho
phù hợp.
Ngoài ra, thực tiễn cũng còn cho thấy, hiện nay do cách mạng khoa học, kỹ thuật và
công nghệ phát triển mạnh mẽ đã làm cho xu thế khu vực hoá và toàn cầu hoá về kinh tế
phát triển nhanh chóng hơn; tình hình đó tạo cho chúng ta những thuận lợi và khó khăn
về khách quan và chủ quan. Hiện có nhiều thời cơ và cũng không ít nguy cơ đang tồn tại
đan xen với nhau, tác động lẫn nhau, vừa tạo ra vận hội mới lại vừa cản trở, thách thức
nền kinh tế của nước ta. Chúng ta đang đứng trước nguy cơ tụt hậu về kinh tế, trong khi
nhiều quốc gia trên thế giới đã chuyển qua nền kinh tế hậu công nghiệp, nền kinh tế tri
thức điều đó buộc chúng ta phải tiến hành công nghiệp hoá.

Trong giai đoạn hiện nay, do những biến đổi của nền kinh tế thế giới và điều kiện
cụ thể của đất nước, công nghiệp hoá ở nước ta có những đặc điểm chủ yếu sau:
Một là, công nghiệp hoá phải gắn liền với hiện đại hoá. Nói tới công nghiệp hoá là
phải nói tới hiện đại hoá, vì hiện nay trên thế giới đang diễn ra cuộc cách mạng khoa học
và công nghệ hiện đại. Hiện nay một số nước phát triển đã bắt đầu chuyển từ kinh tế công

Mục tiêu tổng quát của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước được
Đảng ta xác định tại Đại hội lần thứ VIII và tiếp tục khẳng định tại Đại hội lần thứ IX là:
Đưa đất nước ta thoát khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời
sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta
cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nguồn lực con
người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc
phòng, an ninh được tăng cường; thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa được hình thành về cơ bản; vị thế của nước ta trên trường quốc tế
được nâng cao[18, tr.24].
Mục tiêu cụ thể trong những năm trước mắt là trong điều kiện khả năng về vốn vẫn
hạn hẹp; nhu cầu về công ăn việc làm còn bức bách; đời sống nhân dân còn nhiều khó
khăn; tình hình kinh tế - xã hội phát triển, tăng trưởng chưa thật ổn định, chúng ta cần tập
trung nỗ lực đẩy mạnh công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn, ra sức phát triển một
cách toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản
nhằm khai thác tối đa hiệu quả tiềm năng đa dạng của nông, lâm, ngư nghiệp, bảo đảm an
toàn về lương thực, thực phẩm cho xã hội, đảm bảo chất lượng, giá thành hạ, tăng khối
lượng hàng xuất khẩu, tạo điều kiện giải quyết lao động và việc làm cho một lực lượng
đông đảo lao động dư thừa ở nông thôn.
Để có thể thực hiện thắng lợi đường lối công nghiệp hoá, hiện đại hoá và mục tiêu
đề ra, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đặt ra nhiều yêu cầu đối với toàn Đảng,
toàn dân chúng ta. Trong giai đoạn hiện nay sự nghiệp đó yêu cầu chúng ta cần phải phát
huy những lợi thế của đất nước, tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ tiên

tiến, kết hợp công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại. Tranh thủ đi nhanh vào
công nghệ hiện đại ở những khâu quyết định, đặc biệt là công nghệ thông tin và công
nghệ sinh học. Tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn, ở mức cao hơn và phổ biến hơn
những thành tựu mới về khoa học và công nghệ, từng bước phát triển kinh tế tri thức,
phát huy nguồn lực trí tuệ và sức mạnh tinh thần của người Việt Nam; coi phát triển giáo
dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực của sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status