LUẬN VĂN:
Vai trò của các cơ quan thanh tra
nhà nước trong giải quyết khiếu nại
hành chính ở Việt Nam
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Khiếu nại là quyền cơ bản của công dân, thực hiện quyền khiếu nại là một hình
thức dân chủ trực tiếp để nhân dân tham gia hoạt động quản lý nhà nước, quản lý xã hội,
giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, công chức nhà nước. Giải quyết khiếu nại
hành chính là trách nhiệm, nghĩa vụ của các cơ quan hành chính nhà nước và là chức năng,
nhiệm vụ của các cơ quan thanh tra nhà nước. Giải quyết tốt khiếu nại hành chính của
công dân nhằm phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa; góp phần đấu tranh chống quan liêu,
tham nhũng, tiêu cực trong các cơ quan nhà nước; góp phần ổn định tình hình chính trị,
thúc đẩy kinh tế phát triển.
Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời đã đặc biệt quan tâm tới việc khiếu nại của
- Giải quyết khiếu nại hành chính theo thẩm quyền và giải quyết khiếu nại theo ủy
quyền của Thủ trưởng cơ quan hành chính cùng cấp;
- Tiếp dân, nhận các khiếu nại của công dân;
- Quản lý nhà nước về công tác giải quyết khiếu nại.
Thực tế cho thấy, các cơ quan thanh tra ở bất cứ giai đoạn nào cũng hoàn thành tốt
nhiệm vụ được giao. Mỗi năm, thanh tra các cấp, các ngành đã giải quyết và tham mưu cho
Thủ trưởng cơ quan cùng cấp giải quyết hàng chục nghìn vụ việc khiếu nại, tiến hành được
hàng trăm cuộc thanh tra, kiểm tra trách nhiệm của các ngành, các cấp trong việc giải quyết
khiếu nại. Qua đó phát hiện và xử lý nhiều hành vi vi phạm pháp luật, thu hồi cho ngân
sách nhà nước một số lượng lớn tài sản có giá trị, khôi phục lại quyền và lợi ích hợp pháp
cho nhiều công dân với, góp phần quan trọng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, nâng
cao hiệu lực quản lý nhà nước, phát huy quyền dân chủ nhân dân.
Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay việc nhận thức và thực hiện vai trò, trách nhiệm
của các cơ quan thanh tra trong giải quyết khiếu nại hành chính có những hạn chế nhất
định. Hơn nữa, một số vấn đề lý luận, định hướng hoàn thiện pháp luật quy định về chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan thanh tra nhà nước trong công tác này cũng
cần phải tiếp tục được làm rõ.
Do đó, việc nghiên cứu để khẳng định vai trò của các cơ quan thanh tra nhà nước trong
việc giải quyết các khiếu nại hành chính là cần thiết. Vì vậy, với những lý do trên dưới
giác độ lý luận về nhà nước và pháp luật tôi chọn đề tài " Vai trò của các cơ quan thanh
tra nhà nước trong giải quyết khiếu nại hành chính ở Việt Nam " làm luận văn thạc sĩ
luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
Từ trước tới nay đã có một số công trình khoa học nghiên cứu ở mức độ nhất định
về vai trò của các cơ quan thanh tra nhà nước trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo;
nghiên cứu những quy định pháp luật về khiếu nại, tố cáo như nghiên cứu việc giải quyết
khiếu nại của công dân trong hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước (trong đó có các
cơ quan thanh tra nhà nước) khi thiết lập Tòa án hành chính ở Việt Nam; nghiên cứu về cải
hành chính, là nghiên cứu vai trò của Thanh tra nhà nước, thanh tra cấp tỉnh, cấp huyện,
cấp Bộ, cấp Sở trong giải quyết các khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành
chính của cơ quan hành chính nhà nước, công chức trong cơ quan hành chính nhà nước.
Nghiên cứu những vấn đề lý luận về vai trò của các cơ quan thanh tra nhà nước
trong giải quyết khiếu nại hành chính thể hiện trong các văn kiện của Đảng, văn bản pháp
luật của Nhà nước, qua thực tiễn công tác giải quyết khiếu nại hành chính của các cơ quan
thanh tra trên phạm vi cả nước, trong thời gian từ năm 1998 đến nay(kể từ khi có Luật
khiếu nại, tố cáo đến nay).
Giới hạn nghiên cứu vai trò của các cơ quan thanh tra nhà nước trong giải quyết
khiếu nại hành chính nằm trong giai đoạn giải quyết ở các cơ quan hành chính nhà nước.
Việc giải quyết khiếu kiện hành chính trong giai đoạn xét xử tại Tòa án hành chính không
đề cập trực tiếp trong luận văn này.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài dựa trên phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử
của chủ nghĩa Mác - Lênin, đồng thời đứng trên quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về nhà
nước và pháp luật và yêu cầu của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, của dân, do dân và vì dân.
Vận dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, điều tra xã hội học, tổng kết
thực tiễn, phương pháp lịch sử cụ thể.
6. Đóng góp về lý luận và thực tiễn của luận văn
Thông qua việc nghiên cứu đề tài này luận văn góp phần làm sáng tỏ và khẳng
định rõ hơn những vấn đề lý luận về vai trò của các cơ quan thanh tra trong giải quyết
khiếu nại hành chính. Tổng kết thực tiễn về việc thực hiện vai trò của các cơ quan thanh
tra nhà nước trong giải quyết khiếu nại hành chính ở nước ta, và tìm ra những bất cập,
nguyên nhân, điều kiện của những bất cập đó. Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao
hơn nữa vai trò của các cơ quan này trong giải quyết khiếu nại hành chính ở nước ta trong
thời gian tới.
Luận văn có thể là tài liệu tham khảo để nghiên cứu sửa đổi, bổ sung một số văn
bản pháp luật có liên quan, phục vụ cho cán bộ, thanh tra viên vận dụng trong hoạt động
- Khiếu nại hành chính là gì? Khiếu nại hành chính là một hiện tượng xã hội thể
hiện một dạng quan hệ đặc biệt phát sinh giữa cơ quan hành chính nhà nước với công dân.
Khái niệm khiếu nại hành chính mới được quy định trong Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998.
Nhưng trước đó, các nhà nghiên cứu cũng đã đề cập đến vấn đề này, có nhiều cách giải
thích khác nhau, song nhìn chung khiếu nại hành chính là việc công dân, cơ quan, tổ chức
đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền, trách nhiệm xem xét lại việc làm thuộc
phạm vi hành chính khi cho rằng việc làm đó là không đúng.
Theo quy định tại Điều 2 của Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998 thì khiếu nại là việc
công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định đề nghị
cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành
chính hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành
vi đó là trái pháp luật xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Hiện nay ngoài Luật khiếu
nại, tố cáo thì trong nhiều văn bản pháp luật về quản lý ngành, lĩnh vực cũng có quy định về
khiếu nại và giải quyết khiếu nại hành chính như: quy định khiếu nại và giải quyết khiếu nại về
thuế, tài chính, đất đai, môi trường, xử phạt vi phạm hành chính…
1.1.1.2. Chủ thể và đối tượng của khiếu nại hành chính
- Về chủ thể khiếu nại là công dân, cơ quan, tổ chức và cán bộ, công chức. Công
dân là chủ thể chính của quyền khiếu nại. Theo quy định của Hiến pháp năm 1992 và Luật
quốc tịch năm 1998 thì công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc
tịch Việt Nam. Theo tinh thần của pháp luật thì mọi công dân Việt Nam đều có quyền khiếu
nại đối với quyết định hoặc việc làm của cơ quan, tổ chức mà họ cho là trái pháp luật xâm
phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình, kể cả những người phạm tội hình sự có thể bị
tước một số quyền công dân như quyền tự do đi lại, quyền bầu cử, ứng cử… họ vẫn có
quyền khiếu nại (trừ trường hợp bị tước quyền quốc tịch) [5, tr. 25], ví dụ như khiếu nại về
hành vi vi phạm của giám thị; của thủ trưởng cơ quan quản lý trại giam.
Mặc dù pháp luật có quy định khiếu nại là quyền cơ bản của công dân, song để
thực hiện thì người khiếu nại và việc khiếu nại phải đảm bảo thỏa mãn những quy định
nhất định, hay nói cách khác là phải đảm bảo các điều kiện để khiếu nại.
Nghị định số 67/1999/NĐ-CP ngày 07-08-1999 tại Điều 2 quy định về điều kiện để
này mới có quyền khiếu nại. Việc tụ tập đông người khiếu nại, gây sức ép với cơ quan nhà
nước có thẩm quyền là việc làm không được pháp luật chấp nhận. Cơ quan, tổ chức khi
thực hiện quyền khiếu nại phải thông qua người đại diện hợp pháp của mình là thủ trưởng
cơ quan tổ chức đó được xác lập trong quyết định bổ nhiệm, quyết định thành lập cơ quan,
tổ chức hoặc trong Điều lệ của tổ chức đó.
Chủ thể của khiếu nại quyết định kỷ luật: là cán bộ, công chức, tại Điều 1 của
Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998 và theo quy định của Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung
một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 2003, cán bộ, công chức bao gồm:
- Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong cơ quan nhà
nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương; ở tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh); ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc
tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện);
- Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường
xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh,
cấp huyện.
- Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch công chức hoặc giao
giữ một công vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của Nhà nước ở Trung ương, cấp
tỉnh, cấp huyện.
- Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giao giữ
một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ
chức chính trị - xã hội;
- Thẩm phán Tòa án nhân dân, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân;
- Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường
xuyên làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ
quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; làm việc trong cơ quan, đơn vị
thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp.
- Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực
Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân; Bí thư, phó bí thư Đảng ủy; Người đứng đầu tổ chức
chính trị - xã hội xã, phường, thị trấn.
phát sinh quyền và nghĩa vụ của chủ thể. Thứ hai, để giải quyết những tranh chấp phát sinh
trong hoạt động quản lý. Thứ ba, cần phải áp dụng các biện pháp cưỡng chế đối với cá
nhân, tổ chức có vi phạm pháp luật quản lý.
Việc áp dụng pháp luật được thực hiện thông qua hành vi hành chính và quyết
định hành chính, có thể và phân thành 6 loại: Một là, cho phép, ví dụ như việc cấp giấy
phép kinh doanh, giao quyền sử dụng đất Hai là, bác bỏ những yêu cầu hoặc không chấp
nhận đề nghị về quyền của người dân khi không đủ điều kiện quy định hoặc pháp luật quy
định không được làm. Ba là, cấm đoán, cấm người dân không được làm một việc nào đó.
Bốn là, chứng nhận, chứng thực, công chứng. Năm là, quyết định, kết luận trong hoạt động
thanh tra, kiểm tra, giám sát. Sáu là, áp dụng các biện pháp cưỡng chế như thu hồi tài sản,
xử lý kỷ luật cán bộ, công chức
Như vậy, đối tượng của khiếu nại hành chính: là quyết định hành chính, hành vi hành
chính, quyết định kỷ luật cán bộ, công chức bị cho là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi
ích hợp pháp của người khiếu nại, Luật khiếu nại, tố cáo cũng đã giải thích rõ về những
khái niệm này.
Quyết định hành chính là quyết định bằng văn bản của cơ quan hành chính nhà
nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước được áp dụng một lần
đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý
hành chính (Điều 2, khoản 10 Luật khiếu nại, tố cáo). Như vậy, quyết định hành chính theo
quy định của Luật này phải bao gồm ba yếu tố sau:
Là quyết định bằng văn bản;
Là quyết định được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể về
một vấn đề cụ thể;
Là quyết định của cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong
cơ quan hành chính nhà nước.
Đối với các quyết định mang tính chất quản lý điều hành trong các cơ quan không
phải là cơ quan hành chính nhà nước như Tòa án, Viện kiểm sát, Văn phòng Quốc hội,
Văn phòng Chủ tịch nước …. không được xác định là quyết định hành chính và không là
đối tượng bị khiếu nại theo điều chỉnh của Luật khiếu nại, tố cáo.
nước khác, trong các tổ chức nhất là các tổ chức chính trị-xã hội, thì căn cứ vào Luật này,
ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, các cơ quan khác của Nhà nước, tổ chức chính
trị, tổ chức chính trị- xã hội trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có
trách nhiệm quy định trình tự, thủ tục giải quyết (Điều 56 Luật khiếu nại, tố cáo).
1.1.1.3. Bản chất của khiếu nại hành chính
Khiếu nại là một hình thức phản ứng của công dân đối với những việc làm không
đúng của cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính
nhà nước, đó là thái độ không đồng ý với các quyết định hành chính, hành vi hành chính,
quyết định kỷ luật cán bộ, công chức của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền và yêu cầu sửa
đổi, hủy bổ hoặc chấm dứt, buộc bồi thường thiệt hại, khôi phục uy tín, danh dự đã, bị xâm
hại.
Khiếu nại là quyền cơ bản của công dân, là một trong các hình thức để công dân
thực hiện quyền dân chủ trực tiếp của mình, thông qua việc khiếu nại mà công dân phản
ánh ý chí, nguyện vọng của mình tới các cơ quan nhà nước để bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của mình và đấu tranh chống các biểu hiện tham nhũng, tiêu cực, vi phạm pháp luật,
góp phần dân chủ, lành mạnh hóa các hoạt động của cơ quan thực thi quyền lực công.
Ngược lại, thông qua việc giải quyết khiếu nại, một mặt bảo đảm quyền dân chủ của
công dân, mặt khác còn đề cao ý thức, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước cán bộ, công
chức trước nhân dân. Là một trong những quyền cơ bản của người dân, nên khiếu nại, tố cáo
nói chung và khiếu nại hành chính nói riêng đã được ghi nhận trong các bản Hiến pháp và
nhiều văn bản pháp luật quan trọng, đồng thời còn được bảo đảm thực hiện bằng các biện pháp
kinh tế, văn hóa, xã hội.
1.1.1.4. Phân biệt khiếu nại hành chính, khiếu nại tư pháp và các khiếu nại
khác
Như chúng ta đã biết, khiếu nại là khái niệm rất rộng về chủ thể khiếu nại, đối
tượng, mục đích khiếu nại. Khiếu nại có liên quan đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong
thực tế có khiếu nại về hành chính, về tư pháp, về lao động
Khiếu nại về lao động là yêu cầu, đề nghị của người lao động đối với quyết định hoặc
việc làm của cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng lao động mà người khiếu nại cho là đã vi phạm
làm không đúng của kẻ khác trước cơ quan, tổ chức hoặc trước dư luận, trước nhân dân.
Theo Đại từ điển tiếng Việt: tố cáo (đgt) là vạch rõ tội lỗi của kẻ khác trước cơ
quan pháp luật hoặc trước dư luận [32, tr. 1163].
Luật khiếu nại, tố cáo tại khoản 2, Điều 2 quy định: tố cáo là việc công dân theo
thủ tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về
hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe
dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ
chức.
Mặc dù có những điểm khác nhau rất cơ bản, song giữa khiếu nại và tố cáo cũng
có những điểm giống nhau: Khiếu nại, tố cáo cùng là những quyền chính trị, pháp lý cơ
bản của công dân, là hình thức dân chủ trực tiếp để nhân dân tham gia quản lý nhà nước,
đấu tranh chống các hiện tượng tham nhũng, tiêu cực, vi phạm pháp luật trong các cơ quan
nhà nước.
Những điểm khác nhau giữa khiếu nại và tố cáo, cụ thể là:
Thứ nhất, về chủ thể: Theo quy định của Luật khiếu nại, tố cáo thì chủ thể khiếu
nại là cơ quan nhà nước, tổ chức và công dân còn chủ thể của tố cáo chỉ là công dân. Đối
tượng của khiếu nại là quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật
cán bộ, công chức. Còn tố cáo có đối tượng rộng hơn rất nhiều, đó là hành vi vi phạm pháp
luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại tới lợi
ích nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.
Thứ hai, mục đích của khiếu nại là hướng tới bảo vệ và khôi phục quyền và lợi ích
hợp pháp của người khiếu nại, còn mục đích của tố cáo là bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của Nhà nước và xã hội, trong đó có việc bảo vệ lợi ích hợp pháp của người tố cáo
Thứ ba, cách thức để người khiếu nại thực hiện việc khiếu nại là việc "đề nghị"
người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại "xem xét lại" quyết định hành chính, hành vi
hành chính trong khi đó cách thức thực hiện tố cáo là việc người tố cáo "báo" cho người
có thẩm quyền giải quyết tố cáo "biết" về hành vi vi phạm pháp luật.
Thứ tư, giải quyết khiếu nại là việc xác minh, kết luận và ra quyết định của người
có thẩm quyền, còn giải quyết tố cáo là việc người giải quyết tố cáo xác minh kết luận về
xử lý từng vấn đề cụ thể trong nội dung khiếu nại từ đó quyết định giữ nguyên, sửa đổi
hoặc hủy bỏ một phần hay toàn bộ quyết định hành chính bị khiếu nại, chấm dứt quyết
định hành chính, bị khiếu nại; quyết định việc bồi thường thiệt hại cho người khiếu nại
(nếu có) hoặc giải quyết các vấn đề cụ thể khác trong nội dung khiếu nại.
Yêu cầu của việc giải quyết khiếu nại là phải tuân theo đúng quy định của pháp
luật; tức là phải đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục giải quyết; trong đó việc xác định đúng
cơ quan có thẩm quyền là vấn đề rất quan trọng.
1.1.2.2. Các giai đoạn giải quyết khiếu nại hành chính
Đó là các bước được tiến hành theo trình tự nhất định trong giải quyết một vụ việc
khiếu nại. Việc giải quyết được thực hiện thông qua các bước sau:
Bước một, nhận đơn, phân loại và thụ lý để giải quyết.
Bước hai, thẩm tra, xác minh, thu thập chứng cứ, kết luận vụ việc.
Bước ba, ra quyết định giải quyết khiếu nại, lập hồ sơ giải quyết khiếu nại.
Bước bốn, thi hành quyết định giải quyết khiếu nại (có thể coi là giai đoạn cuối
cùng của việc giải quyết khiếu nại).
Trách nhiệm thi hành quyết định giải quyết trước hết thuộc về người khiếu nại và
người bị khiếu nại. Việc thi hành quyết định giải quyết khiếu nại khác với việc thi hành án
dân sự, công dân không phải làm đơn yêu cầu việc thi hành. Còn trong khiếu nại thì không
có cơ quan chuyên trách thi hành quyết định giải quyết khiếu nại.
Thủ trưởng cơ quan nhà nước đã có quyết định hành chính, hành vi hành chính bị
khiếu nại, căn cứ vào nội dung giải quyết có trách nhiệm ban hành quyết định thay thế
hoặc sửa đổi quyết định và tổ chức thực hiện hoặc chấm dứt hành vi hành chính bị khiếu
nại trong trường hợp khiếu nại đúng; bồi thường thiệt hại, khôi phục quyền, lợi ích hợp
pháp cho người bị khiếu nại theo quy định của pháp luật; giải thích, yêu cầu người khiếu
nại chấp hành nghiêm chỉnh quyết định giải quyết khiếu nại, nếu yêu cầu của người khiếu
nại không có căn cứ. Thủ trưởng cơ quan cấp trên có trách nhiệm kiểm tra, đôn đốc thủ
trưởng cơ quan cấp dưới đã có quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại phải
thi hành quyết định giải quyết. áp dụng các biện pháp theo thẩm quyền buộc cấp dưới thi
hành hoặc xử lý kỷ luật đối với người không thi hành. Chính vì vậy mà hiệu quả thi hành
quy định của pháp luật tố tụng hình sự (Điều 60).
Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật mà người bị tố cáo thuộc thẩm quyền
quản lý của cơ quan, tổ chức nào thì cơ quan, tổ chức người đứng đầu cơ quan,
tổ chức đó có trách nhiệm giải quyết. Tố cáo hành vi vi phạm quy định về
nhiệm vụ, công vụ của người đứng đầu cơ quan, tổ chức nào thì người đứng đầu
cơ quan, tổ chức cấp trên có trách nhiệm giải quyết (Điều 59).
Trong quy định của Luật khiếu nại, tố cáo đã xác định rõ trách nhiệm của người
đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong việc giải quyết tố cáo và vai trò, trách
nhiệm hành chính nhà nước trong việc giúp cơ quan, tổ chức xem xét giải quyết tố cáo:
"Người đứng đầu cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giải quyết tố cáo thuộc thẩm quyền,
trong trường hợp cần thiết thì giao cho cơ quan thanh tra hoặc cơ quan có thẩm quyền khác
tiến hành các thẩm tra xác minh, kết luận và kiến nghị biện pháp xử lý tố cáo" (Điều 61).
Cũng được điều chỉnh bởi một văn bản pháp luật, song khiếu nại và tố cáo là hai
vấn đề hoàn toàn khác nhau nên việc giải quyết khiếu nại và tố cáo khác nhau ở những
điểm sau.
Thứ nhất: Thẩm quyền giải quyết khiếu nại và tố cáo khác nhau, khiếu nại cấp
dưới do cơ quan cấp trên giải quyết và đến một cấp nhất định thì chấm dứt việc giải quyết.
Còn tố cáo được phân theo luồng, đồng thời không có điểm dừng, trường hợp giải quyết
không đúng, người dân tố cáo tiếp thì cơ quan nhà nước phải có trách nhiệm xem xét, giải
quyết.
Thứ hai: Về thủ tục giải quyết khiếu nại và tố cáo có khác nhau, quá trình thẩm
tra, xác minh, thu thập chứng cứ, thời hạn, thời hiệu giải quyết khiếu nại và tố cáo cũng
không giống nhau. Nghĩa vụ, trách nhiệm của người khiếu nại và người tố cáo cũng không
giống nhau. Kết thúc giải quyết khiếu nại được thực hiện bởi quyết định hành chính. Song
kết thúc giải quyết tố cáo lại được thực hiện bằng quyết định xử lý tố cáo, với việc giải
quyết từng vấn đề cụ thể liên quan đến trách nhiệm của nhiều cơ quan.
Thứ ba: Về lộ trình giải quyết, một khiếu nại có khi được giải quyết bằng cơ quan
hành chính và cơ quan tài phán, song với một tố cáo, nếu sau khi xác định thuộc thẩm
quyền của loại cơ quan nào đó thì chỉ do cơ quan đó xem xét giải quyết.
tăng cường sự lãnh đạo của đảng đối với nhà nước [8, tr. 20-25].
- Các cơ quan lập pháp, còn gọi là các cơ quan quyền lực nhà nước, bao gồm Quốc
hội, Hội đồng nhân dân các cấp. Cơ quan quyền lực đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền
lực của nhân dân [8, tr. 7]. Quốc hội có chức năng lập hiến và lập pháp; giám sát tối cao đối
với hoạt động của các cơ quan nhà nước; quyết định những vấn đề trọng đại của đất nước.
Hội đồng nhân dân các cấp là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương; giám sát hoạt động
của các cơ quan nhà nước ở địa phương; quyết định những vấn đề quan trọng tại địa phương
như các chủ trương, tổ chức thực hiện nhiệm vụ các lĩnh vực ở địa phương.
- Các cơ quan hành pháp còn gọi là các cơ quan hành chính nhà nước hay cơ quan
quản lý nhà nước bao gồm: Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính
phủ, ủy ban nhân dân các cấp và các cơ quan trực thuộc. Chính phủ là cơ quan hành chính
nhà nước cao nhất, chịu sự giám sát của Quốc hội. ủy ban nhân dân các cấp là cơ quan hành
chính ở địa phương. Hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước vừa có tính chất
chấp hành vừa có tính chất điều hành, chỉ huy. Chính phủ nắm quyền hành chính nhà nước
cao nhất bao gồm quyền ban hành các văn bản pháp quy, quyền quản lý các công việc của
Nhà nước, tổ chức và điều hành nền hành chính nhà nước. ủy ban nhân dân các cấp là cơ
quan chấp hành, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương.
- Cơ quan tư pháp bao gồm: các cơ quan xét xử (Tòa án nhân dân các cấp và Tòa
án quân sự), cơ quan kiểm sát (Viện kiểm sát nhân dân các cấp và Viện kiểm sát quân sự)
và một số cơ quan có chức năng tư pháp khác. Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân nhân
các cấp, Tòa án quân sự là những cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam; xét xử những vụ án hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính. Viện kiểm sát
nhân dân tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung thống nhất; có chức năng kiểm
sát việc tuân theo pháp luật (trong hoạt động tư pháp), thực hành quyền công tố Nhà nước,
bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất
Như vậy, mỗi loại cơ quan đóng vai trò nhất định trong việc thực hiện quyền lực
nhà nước, đó là quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Tính độc lập tương đối về chức
năng của các cơ quan đó do sự phân công quyền lực quyết định. Nhưng có sự phối hợp
nhịp nhàng tạo nên sự thống nhất, đồng bộ trong hoạt động các cơ quan nhà nước. Một
khách quan, đúng đắn và hiệu quả hơn các khiếu nại hành chính.