PHẦN I
BÁO CÁO THỔNG THUẬT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
“TĂNG CƯỜNG MỐI QUAN HỆ CHỈ ĐẠO, PHỐI HỢP TRONG HỆ THỐNG
CÁC CƠ QUAN THANH TRA NHÀ NƯỚC NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ,
HIỆU LỰC CỦA CÔNG TÁC THANH TRA”
- -
1
BÁO CÁO TỔNG THUẬT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
“TĂNG CƯỜNG MỐI QUAN HỆ CHỈ ĐẠO, PHỐI HỢP TRONG HỆ
THỐNG CÁC CƠ QUAN THANH TRA NHÀ NƯỚC NHẰM NÂNG CAO
HIỆU QUẢ, HIỆU LỰC CỦA CÔNG TÁC THANH TRA”
PHẦN MỘT:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÍNH HỆ THỐNG CỦA CÁC CƠ QUAN
THANH TRA NHÀ NƯỚC VÀ TÍNH TẤT YẾU CỦA VIỆC TĂNG CƯỜNG
MỐI QUAN HỆ TRONG HỆ THỐNG CÁC CƠ QUAN THANH TRA NHÀ
NƯỚC.
I. Tính hệ thống của các cơ quan thanh tra nhà nước.
Hệ thống được hiểu là “tập hợp những bộ phận có liên kết chặt chẽ với
nhau”
1
Hệ thống luôn có cấu trúc, được cấu tạo bằng các bộ phận và các phân hệ
trong hệ thống, giữa chúng có mối quan hệ tác động qua lại, ràng buộc nhau. Nhờ
có cấu trúc mà hệ thống có tính ổn định. Tính ổn định của hệ thống không còn khi
các mối quan hệ bên trong của hệ thống thay đổi và đến một mức độ nào đó nó sẽ
thay đổi về chất. Hệ thống còn được hiểu là thứ tự xắp xếp có quy củ, hệ thống
mang tính liên tục không đứt quãng. Khi nói đến hệ thống chúng ta thường phải
gắn nó một đối tượng nhất định. Tăng cường tính hệ thống chính là tăng cường mối
quan hệ, sự tác động qua lại giữa các bộ phận trong hệ thống.
Cơ quan Thanh tra nhà nước với tư cách là một bộ phận cấu thành của Bộ
máy nhà nước, được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật, có vị trí,
vai trò, chức năng, nhiệm vụ cụ thể. Thanh tra nhà nước có cơ cấu tổ chức chặt chẽ,
động chủ yếu của các cơ quan thanh tra được pháp luật quy định, bao gồm: Tổ chức
bộ máy và nhân sự; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan thanh tra;
phương thức, cách thức hoạt động của các cơ quan thanh tra.
Do đặc thù của ngành thanh tra, mặc dù cùng trong hệ thống các cơ quan
thanh tra nhà nước, nhưng một số cơ quan thanh tra có những chức năng, nhiệm vụ
riêng phụ thuộc vào phạm vi quan lý của cơ quan quản lý cùng cấp. Điều này đã
phân chia các cơ quan thanh tra nhà nước thành những nhóm, những loại cơ quan
thanh tra khác nhau. Do đó, mối quan hệ giữa các cơ quan thanh tra rất đa dạng,
phong phú. Có mối quan hệ là bắt buộc, có mối quan hệ không mang tính bắt buộc;
có mối quan hệ bao trùm trong toàn bộ hệ thống thanh tra, nhưng lại có mối quan
3
hệ chỉ phát sinh giữa hai hoặc một số cơ quan thanh tra; có mối quan hệ toàn diện,
có mối quan hệ trong phạm vi hẹp...
Dù những mối quan hệ trong các tổ chức thanh tra phức tạp, tính chất, mức
độ, cường độ khác nhau nhưng chúng đều là những mối quan hệ nội tại trong hệ
thống, nghĩa là những quan hệ đó là quan hệ giữa nội bộ các cơ quan thanh tra nhà
nước với nhau, cùng thống nhất thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành thanh tra
nhằm đạt mục đích chung là phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm
pháp luật; phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để
kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền các biện pháp khắc phục; phát huy
nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý nhà
nước; bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức,
cá nhân.
Trên thực tế qua quá trình phát triển, tổ chức, chức năng nhiệm vụ của các cơ
quan có nhiều biến động nhưng dù ở thời kỳ nào thì giữa các tổ chức thanh tra cũng
có những mối quan hệ trong tổ chức và hoạt động và thực tế cũng chỉ ra rằng khi
nào sự phối hợp giữa các cơ quan thanh tra được tăng cường thì khi đó hiệu lực
hiệu quả của công tác thanh tra được nâng cao và ngược lại. Tại pháp lệnh thanh tra
tính hệ thống của các cơ quan thanh tra nhà nước được thể hiện khá rõ nét qua việc
qui định "Hệ thống các tổ chức thanh tra bao gồm..." và các tổ chức thanh tra nhà
Tất yếu được hiểu là “nhất thiết phải có, không thể thiếu để có được một kết
quả, một tác dụng nào đó”
2
. Trong hệ thống các cơ quan thanh tra nhà nước, mối
quan hệ đa dạng, đan xen, nhiều tầng nấc giữa các cơ quan thanh tra là phổ biến và
phức tạp. Để có một lực lượng thanh tra mạnh, tinh thông nghiệp vụ, hoạt động
thanh tra trên phạm vi toàn quốc đạt hiệu lực, hiệu quả cao thì phải xây dựng được
cơ chế phối hợp thống nhất giữa các cơ quan thanh tra trong toàn ngành, vì vậy để
đạt được mục đích đó, thì việc tăng cường mối quan hệ chỉ đạo, phối hợp trong hệ
thống thanh tra là một tất yếu khách quan.
1. Mối quan hệ chỉ đạo, phối hợp của hệ thống thanh tra qua các thời
kỳ.
Lịch sử ngành Thanh tra đã trải qua những bước phát triển thăng trầm cùng
lịch sử dân tộc. Ngày 23/11/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh 64/SL thành
2
Nguyễn Lân - Từ điển từ và ngữ Việt Nam, năm 2000 – Nhà xuất bản TP Hồ Chí Minh
5
lập Ban thanh tra đặc biệt, tiền thân ngành thanh tra Việt Nam. Sự ra đời của Ban
Thanh tra Đặc biệt một mặt giải quyết ngay những vấn đề đang đặt ra cho chính
quyền nhân dân còn non trẻ, mặt khác có ý nghĩa định hướng cho sự phát triển
ngành thanh tra trong suốt quá trình xây dựng và hoàn thiện nhà nước Việt Nam xã
hội chủ nghĩa. Tuy nhiên hoạt động của Ban thanh tra đặc biệt chỉ giải quyết một số
việc điển hình. Đây là thời kỳ thành lập và bắt đầu hoạt động của ngành Thanh tra,
số cán bộ trong lực lượng thanh tra còn rất ít, Thanh tra chưa có một hệ thống tổ
chức chặt chẽ, chưa hoạt động thường xuyên.
Thời gian năm 1946 – 1949, cả dân tộc tiến hành cuộc kháng chiến chống
Thực dân Pháp. Để tiến hành chỉ đạo cuộc kháng chiến thuận lợi có hiệu quả, bộ
máy chính quyền các cấp được tổ chức, kiện toàn. Đầu năm 1946 Chính phủ thành
lập Ban Thanh tra ở Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính, Bộ Canh nông ....
Ngày 04/08/1947 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh cử đồng chí Tôn Đức Thắng,
Như vậy, trong khoảng thời gian gần 10 năm, vừa kháng chiến, vừa kiến
quốc, Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng bước xây dựng ngành
thanh tra, đặt nền tảng vững chắc cho việc phát triển hệ thống tổ chức thanh tra
chính quy trong giai đoạn tiếp theo.
Từ năm 1955 đến năm 1975 tổ chức thanh tra nhà nước đã dần được kiện
toàn và trở thành một hệ thống từ trung ương đến địa phương. Ngày 28/03/1956
Chủ tịch nước đã ký sắc lệnh số 261/SL thành lập Ban thanh tra Trung ương của
Chính phủ. Ngày 26/12/1956 Thủ tướng Chính phủ ban hanh Nghị định số
1194/TTg thành lập các Ban Thanh tra ở các liên khu, khu, thành phố và tỉnh, các
Ban Thanh tra này đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Uỷ ban hành chính các cấp và
chịu sự hướng dẫn của thanh tra cấp trên. Ngày 29/09/1961 Hội đồng Chính phủ
ban hành Nghị định số 136/NĐ thành lập Uỷ ban Thanh tra của Chính phủ thay cho
Ban Thanh tra Trung ương của Chính phủ.
Ngày 25/03/1965 Hội nghị Ban chấp hành Trung ương họp đã nhận định cả
nước có chiến tranh. Miền Bắc phải chuyển hướng về tư tưởng và tổ chức, tăng
cường lực lượng quốc phòng cho phù hợp với thời chiến. Thực hiện chủ trương
này, Đảng, Nhà nước quyết định thay đổi tổ chức, giải thể một số cơ quan, trong đó
có Uỷ ban Thanh tra của Chính phủ. Công tác thanh tra giao cho thủ trưởng các
cấp, các ngành, các cơ quan phụ trách, để gắn công tác thanh tra với việc chỉ đạo
thực hiện chỉ tiêu, kế hoạch nhà nước và các nhiệm vụ công tác khác. Ở các tỉnh,
7
thành phố công tác thanh tra do Uỷ ban hanh chính các cấp đảm nhiệm, các Bộ,
Tổng cục tổ chức thanh tra không giải thể được tiếp tục hoạt động, những cơ quan
chưa thành lập Ban Thanh tra được phép thành lập Ban Thanh tra để thanh tra các
vụ việc do lãnh đạo cơ quan yêu cầu. Đây là thời kỳ hệ thống cơ quan thanh tra nhà
nước bị thu hẹp, chỉ có các Ban thanh tra của Bộ, ngành hoạt động là chủ yếu, mối
quan hệ giữa các cơ quan thanh tra gần như không có, không có sự chỉ đạo chung
thống nhất của ngành thanh tra. Chính vì vậy một số chính sách của Đảng, Nhà
nước bị vi phạm, công tác quản lý kinh tế bị buông lỏng, đơn thư khiếu nại, tố cáo
của công dân chậm được xử lý.
quyết số 26/HĐBT về việc tăng cường tổ chức thanh tra nêu rõ về hệ thống thanh
tra nhà nước các cấp gồm: Uỷ ban Thanh tra nhà nước Trung ương, Uỷ ban thanh
tra Nhà nước cấp tỉnh, thành phố, quận, huyện và tương đương. Đây thực sự là một
hệ thống tổ chức thanh tra được quản lý chỉ đạo tập trung thống nhất từ trung ương
đến cơ sở.
Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát trong thời kỳ này là hết sức quan
trọng. Nền kinh tế tập trung, bao cấp, phát sinh nhiều biểu hiện tiêu cực, trình độ
quản lý nhà nước còn yếu kém. Vai trò của ngành Thanh tra là hết sức to lớn, các
cơ quan thanh tra chủ động phối hợp mở nhiều cuộc thanh tra trên các mặt kinh tế,
văn hóa, giáo dục của các bộ, ngành và các địa phương và thu được kết quả.
Ngày 01/04/1990 Chủ tịch Hội đồng Nhà nước ký lệnh công bố Pháp lệnh
thanh tra. Pháp lệnh đổi tên Uỷ ban Thanh tra Nhà nước thành Thanh tra Nhà nước.
Thanh tra Nhà nước là cơ quan của Hội đồng Bộ trưởng, có chức năng quản lý nhà
nước về công tác thanh tra và thực hiện quyền thanh tra trong phạm vi cả nước. Hệ
thống thanh tra nhà nước ở các bộ, ngành, thanh tra các tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương, thanh tra các sở, thanh tra các quận, huyện, thị xã cũng được kiện toàn.
Năm 2004 Luật Thanh tra được ban hành, mở ra một thời kỳ mới của công
tác thanh tra. Luật đổi tên Thanh tra Nhà nước thành Thanh tra Chính phủ. Quy
định tổ chức, hoạt động của các cơ quan thanh tra nhà nước. Các cơ quan thanh tra
nhà nước bao gồm:
- Cơ quan thanh tra được thành lập theo cấp hành chính;
- Cơ quan thanh tra được thành lập ở cơ quan quản lý theo ngành, lĩnh vực.
9
Cơ quan thanh tra nhà nước chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ trưởng cơ quan
quản lý nhà nước cùng cấp; đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn về công tác, tổ
chức và nghiệp vụ của Thanh tra Chính phủ; chịu sự hướng dẫn về công tác, nghiệp
vụ của cơ quan thanh tra cấp trên.
Như vậy, thanh tra được tổ chức có hệ thống, giữa các cơ quan thanh tra có
mối quan hệ gắn bó với nhau trong quá trình tổ chức và hoạt động. Để góp phần
nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động thanh tra thì việc tăng cường mối quan
quốc lần thứ VIII và sau đó Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung
ương Đảng (khóa VIII) tiếp tục khẳng định và đề ra những phương hướng và biện
pháp quan trọng, trong đó nhấn mạnh phải chú trọng xây dựng bộ máy nhà nước
trong sạch, vững mạnh, đủ điều kiện đáp ứng tiến trình hội nhập của đất nước.
Theo tinh thần Nghị quyết của Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản
pháp lý quan trọng nhằm xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước theo hướng tinh
giản, gọn nhẹ và hoạt động có chất lượng. Thực tế cho thấy tổ chức và hoạt động
của bộ máy nhà nước có nhiều chuyển biến tích cực. Những tiến bộ đó đã góp phần
quan trọng vào công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước, nhất là đổi mới cơ chế
quản lý.
Qua 60 năm phát triển và trưởng thành, Thanh tra từng bước phát triển theo
yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ và xây dựng đất nước. Qua mỗi thời kỳ phát triển của
cách mạng, tổ chức và hoạt động của thanh tra lại có bước phát triển mới. Trong
công cuộc đổi mới hiện nay công tác thanh tra càng trở nên quan trọng. Hoạt động
thanh tra phải làm cho bộ máy hành chính nhà nước hoạt động tốt hơn, hiệu quả
hơn. Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba (khóa VIII) của Đảng đã xác định “tăng cường
tổ chức và hoạt động thanh tra, kiểm tra, coi đó là công cụ quan trọng và hữu hiệu
để đảm bảo hiệu lực quản lý nhà nước, thiết lập kỷ cương xã hội”.
Hoạt động thanh tra, kiểm tra là một chức năng thiết yếu của cơ quan quản
lý, là một khâu quan trọng trong quá trình quản lý. Vai trò của mối quan hệ chỉ đạo,
phối hợp giữa các tổ chức thanh tra nhà nước được thể hiện rõ nét trong các lĩnh
vực: tổ chức bộ máy và nhân sự; trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn và phương thức hoạt động của các tổ chức thanh tra. Để thực hiện tốt chức
năng, nhiệm vụ của mình bản thân ngành thanh tra phải có những tìm tòi, sáng tạo,
tự đổi mới cả về tổ chức và hoạt động đề nâng cao hiệu quả, hiệu lực công tác
11
thanh tra. Đổi mới công tác thanh tra có nhiều nội dung, trong đó việc tăng cường
mối quan hệ chỉ đạo, phối hợp giữa các tổ chức thanh tra nhà nước là một nội dung
cơ bản và cần thiết.
Vai trò của mối quan hệ chỉ đạo, phối hợp giữa các cơ quan thanh tra nhà
và cơ quan thanh tra được thành lập ở cơ quan quản lý theo ngành, lĩnh vực. Và
cũng như cơ quan quản lý, các cơ quan thanh tra nhà nước cũng phải rất coi trọng
thực hiện các hoạt động phối hợp trong công tác thanh tra, bao gồm phối hợp theo
cấp hành chính, phối hợp theo ngành, lĩnh vực và phối hợp giữa cơ quan thanh tra
theo cấp và cơ quan thanh tra theo ngành, lĩnh vực.
Như đã phân tích, công tác thanh tra có tính thống nhất, xuất phát từ tính
thống nhất của quản lý hành chính nhà nước. Sự thống nhất của công tác thanh tra
thể hiện trên các mặt: thống nhất về tổ chức các cơ quan thanh tra nhà nước và
thống nhất trong hoạt động thanh tra. Khi tiến hành hoạt động thanh tra, các cơ
quan thanh tra nhà nước đều hướng tới mục tiêu chung: “phòng ngừa, phát hiện và
xử lý các hành vi vi phạm pháp luật; phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý,
chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền các biện
pháp khắc phục; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả
của hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp
pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân”. Để đạt tới mục tiêu này, các cơ quan thanh tra
nhà nước tiến hành hoạt động thanh tra dựa trên nền tảng pháp lý chung là Luật
Thanh tra, với các biện pháp, công cụ về cơ bản là thống nhất.
Mối quan hệ phối hợp cũng như các hoạt động phối hợp cụ thể là một yếu tố
quan trọng đảm bảo tính thống nhất trong hệ thống thanh tra, cả về tổ chức và hoạt
động thanh tra. Mối quan hệ phối hợp này bao gồm mối quan hệ chỉ đạo, điều phối
giữa cơ quan thanh tra nhà nước ở cấp quản lý cao hơn và cơ quan thanh tra nhà
nước ở cấp quản lý thấp hơn và mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan thanh tra
nhà nước ngang cấp hoặc tương đương. Một trường hợp cụ thể về đảm bảo tính
thống nhất đó là thống nhất trong văn bản pháp luật về thanh tra. Luật Thanh tra
quy định rõ mối quan hệ phối hợp để giải quyết trường hợp khi có sự mâu thuẫn về
văn bản pháp luật về thanh tra. Theo đó, Tổng Thanh tra có quyền kiến nghị Bộ
trưởng đình chỉ việc thi hành hoặc huỷ bỏ những quy định do bộ đó ban hành trái
13
với các văn bản pháp luật của Nhà nước, của Tổng thanh tra về công tác thanh tra
hoặc đình chỉ việc thi hành và đề nghị Thủ tướng Chính phủ bãi bỏ những quy định
cũng diễn ra rộng khắp trong các ngành, lĩnh vực trong phạm vi toàn quốc. Trong
quá trình phát triển đó, các mối quan hệ trên dưới, dọc ngang về các mặt công tác,
tổ chức và nghiệp vụ thanh tra đã dần dần hình thành và đi vào nề nếp.
Về tổ chức, Thanh tra Chính phủ đã có sự phối hợp với hợp có hiệu quả với
Thủ trưởng các cấp, các ngành trong quá trình hình thành và kiện toàn các tổ chức
thanh tra. Về cơ bản thì thanh tra các ngành, các cấp được tổ chức theo đúng tinh
thần các quy định của pháp luật. (Pháp lệnh thanh tra trước kia và Luật thanh tra
năm 2004). Tuy nhiên, do sự phát triển của tình hình và xuất phát từ yêu cầu của
công tác quản lý một số ngành quản lý nhiều lĩnh vực hoạt động cho nên có nhu
cầu tổ chức cơ quan thanh tra của mình căn cứ vào thực tiễn của ngành nên có
vướng mắc với quy định của pháp luật, chẳng hạn một số Bộ ngành muốn tổ chức
thanh tra có nhiều cấp (thanh tra Bộ, thanh tra Tổng cục, thanh tra Cục) với nhiều
loại thanh tra có tính chất chuyên ngành và không có sự tập trung thống nhất và chỉ
đạo ngay trong hoạt động thanh tra ngành đó.
Vấn đề này ít xảy ra đối với thanh tra cấp tỉnh bởi vì nhìn chung hoạt động
quản lý của cấp chính quyền trên một địa bàn về cơ bản không khác nhau, trừ hai
thành phố lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh có nhu cầu và đã được Chính
phủ đồng ý cho tổ chức thí điểm một số hoạt động thanh tra nhằm tăng cường quản
lý trật tự đô thị có những nét riêng biệt. Trên thực tế những vướng mắc trong quá
trình tổ chức thanh tra một số ngành chưa được giải quyết triệt để. Thanh tra Chính
phủ cũng còn lúng túng và chưa có các kiến nghị để có các giải pháp có tính chất
cơ bản mà thường xử lý có tính "vụ việc" nên kết qủa là tổ chức thanh tra bộ ngành
hiện nay quá nhiều loại hình và từ đó dẫn đến sự không thống nhất trong hoạt động
của toàn ngành thanh tra. Vấn đề tổ chức tại địa phương cơ sở ít nảy sinh vướng
mắc hơn vì có sự điều hoà trên cùng đại bàn do Uỷ ban nhân dân chỉ đạo.
Về nhân sự: Việc bổ nhiệm và sắp xếp các chức danh lãnh đạo các tổ chức
thanh tra thực hiện theo qui định của Pháp luật cũng như trình tự thủ tục về cơ bản
không có nhiều khó khăn. Tuy nhiên quá trình này vai trò của cơ quan thanh tra còn
khá mờ nhạt. Trong đa số các trường hợp ý kiến của cơ quan thanh tra cấp trên chỉ
15
chưa thể hiện được nhiều vai trò chỉ đạo điều hành có tính chất hệ thống đối với tổ
chức thanh tra cấp dưới trong ngành thanh tra.
Về nghiệp vụ thanh tra: Đây thực sự là điểm yếu của ngành thanh tra hiện
nay, trước hết là thuộc trách nhiệm của Thanh tra Chính phủ. Mặc dù đã có gần 60
năm hình thành và phát triển nhưng những vấn đề về lý luận nghiệp vụ thanh tra
vẫn còn chưa được khẳng định và chưa trở thành một hệ thống lý luận chung cho
quá trình tổ chức và hoạt động của ngành. Do vây việc đào tạo và bồi dưỡng nghiệp
vụ cho cán bộ công chức làm công tác thanh tra còn lúng túng cả về nội dung và
phương thức. Những năm qua, công tác này đã được chú trọng hơn, hoạt động của
trường cán bộ thanh tra đã nhộn nhịp hơn nhưng nội dung và chương trình giảng
dạy cho các khoá học bồi dưỡng chưa thực sự đáp ứng yêu cầu học tập và nâng cao
trình độ nghiệp vụ thanh tra, nhất là chưa phù hợp với sự đa dạng về trình độ năng
lực của độ ngũ cán bộ thanh tra. Các khoá học hiện nay chủ yếu đáp ứng yêu cầu
tiêu chuẩn hoá cán bộ thanh tra (cấp giấy chứng chỉ nghiệp vụ) nhiều hơn là tạo
điều kiện để học viên ngành thanh tra nâng cao "tay nghề thanh tra" của mình, nhất
là đối với chương trình nâng cao hoặc thi nâng ngạch thanh tra viên lên thanh tra
viên chính hoặc cao cấp.
Những văn bản hướng dẫn nghiệp vụ thanh tra của Thanh tra Chính phủ còn
quá chưa đáp ứng kịp thời việc giải quyết những vướng mắc phát sinh trong quá
trình thực hiện các quy định của pháp luật về thanh tra. Ngoài ra những hướng dẫn
"bị động" (việc trả lời các vướng mắc trong các cuộc thanh tra do các cơ quan
thanh tra cấp dưới đang tiến hành hoặc những vấn đề khác liên quan đến hoạt động
thanh tra) cũng chưa trở thành "thói quen" nên mối quan hệ giữa các cơ quan thanh
tra cũng trở nên rời rạc.
Theo chương trình hàng năm hoặc đột xuất, ngành thanh tra cũng tổ chức các
hội nghị tổng kết hoặc trao đổi kinh nghiệm nghiệp vụ thanh tra nhưng thực chất ít
hiệu quả mà mang nặng tính hình thức, gặp gỡ giao lưu trong ngành nhiều hơn là
thảo luận trao đổi về nghiệp vụ thanh tra.
17
PHẦN HAI
Về công tác: Thanh tra Chính phủ chỉ đạo, hướng dẫn công tác thanh tra
thông qua việc xây dựng chương trình kế hoạch thanh tra hàng năm và hướng dẫn
các tổ chức thanh tra khác xây dựng chương trình, kế hoạch thanh tra của mình.
Về tổ chức: Công tác tổ chức bao gồm tổ chức bộ máy và công tác cán bộ.
Vai trò của thanh tra Chính phủ được thể hiện ở việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách
chức người đứng đầu cơ quan thanh tra cấp bộ và cấp tỉnh cụ thể là theo qui định
của Luật Thanh tra thì Chánh thanh tra bộ, Chánh thanh tra cấp tỉnh do Bộ trưởng,
Chủ tịch tỉnh bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức sau khi thống nhất với Tổng thanh
tra. Thanh tra Chính phủ quy định các tiêu chuẩn chức danh; quy định ngạch, bậc,
chế độ tiền lương đối với cán bộ, thanh tra viên; tổ chức thi nâng ngạch; bổ nhiệm
các chức danh Thanh tra viên, Thanh tra viên chính, Thanh tra viên cao cấp.
Đối với cơ quan Thanh tra bộ, mối quan hệ về tổ chức của Thanh tra Chính
phủ còn thể hiện ở quy định: Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ và yêu cầu công tác
quản lý nhà nước của Bộ, ngành; Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ thống
nhất với Tổng thanh tra trình Chính phủ qui định về tổ chức và hoạt động của
Thanh tra bộ.
Về hướng dẫn nghiệp vụ thanh tra:
Đây là một nội dung quan trọng trong mối quan hệ chỉ đạo, phối hợp giữa
Thanh tra Chính phủ và các cơ quan thanh tra nhà nước khác. Nội dung này thể
hiện rõ vai trò của Thanh tra Chính phủ trong công tác quản lý nhà nước về thanh
tra. Nội dung này bao gồm hướng dẫn nghiệp vụ thanh tra; nghiệp vụ về giải quyết
khiếu nại tố cáo; nghiệp vụ về phòng ngừa và chống tham nhũng, hướng dẫn thực
hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của các cơ quan, tổ chức, cá nhân. Những nội
dung này được Thanh tra Chính phủ hướng dẫn thông qua các hình thức phổ biến
pháp luật, mở các lớp tập huấn ngắn hạn đối với các cán bộ thanh tra, tổ chức các
cuộc tọa đàm trao đổi kinh nghiệm, tư vấn các vụ việc cụ thể…
19
Duy trì và tăng cường mối quan hệ hướng dẫn công tác nghiệp vụ của Thanh
tra Chính phủ với các cơ quan thanh tra nhà nước khác là một trong những yếu tố
quan trọng thể hiện tính hệ thống chặt chẽ trong các tổ chức thanh tra.
- Thanh tra các vụ việc thuộc thẩm quyền.
Thực tiễn hoạt động của ngành thanh tra đã chứng minh, mối quan hệ chỉ
đạo, phối hợp giữa Thanh tra Chính phủ và Thanh tra các bộ là mối quan hệ cơ bản,
mang tính thường xuyên, liên tục. Tuỳ theo yêu cầu, nhiệm vụ cụ thể của từng giai
đoạn cách mạng Việt Nam mà việc chỉ đạo, phối hợp, của Thanh tra Chính phủ với
Thanh tra các bộ có những bước phát triển khác nhau, phù hợp với nhiệm vụ chung
của toàn ngành.
Nhằm khắc phục tình trạng phân tán, chồng chéo về tổ chức thanh tra ở các
bộ, ngành, bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất của Bộ trưởng để kiểm soát chặt chẽ,
toàn diện đối với hoạt động thanh tra trong các lĩnh vực do bộ, ngành thực hiện
chức năng quản lý nhà nước, Luật thanh tra xác định có tính nguyên tắc mỗi bộ,
ngành có một tổ chức thanh tra. Thanh tra bộ sẽ là đầu mối giúp Bộ trưởng quản lý
toàn bộ công tác thanh tra, kể cả thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành.
Thanh tra chuyên ngành có thể được đặt tại bộ, nằm trong cơ cấu tổ chức của thanh
tra bộ hoặc ở các cục, tổng cục được giao nhiệm vụ quản lý nhà nước chuyên
ngành, các bộ phận thanh tra này vẫn là cơ quan của thanh tra bộ, do Thanh tra bộ
chỉ đạo về công tác, tổ chức và nghiệp vụ.
Đối với các bộ quản lý theo ngành dọc hoặc có các cục, tổng cục được giao
chức năng quản lý nhà nước chuyên ngành được tổ chức theo hệ thống dọc thì
Thanh tra bộ còn được đặt tại các cơ quan của bộ, ngành đặt tại địa phương (như
Thanh tra Ngân hàng, Thanh tra Công an, Thanh tra Quốc phòng, Thanh tra Thống
kê). Tuy nhiên, các bộ phận này còn chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ trưởng cơ
quan quản lý cùng cấp.
Thanh tra bộ chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ trưởng, đồng thời chịu sự chỉ
đạo, hướng dẫn về công tác, tổ chức, nghiệp vụ của Thanh tra Chính phủ, nhiệm vụ
21
chủ yếu của Thanh tra bộ do Bộ trưởng giao, Thanh tra Chính phủ thực hiện chức
năng quản lý nhà nước về công tác thanh tra.
Mối quan hệ giữa Thanh tra Chính phủ và Thanh tra bộ chủ yếu thể hiện trên
lĩnh vực hướng dẫn công tác, tổ chức, cử cán bộ chuyên trách theo dõi giúp đỡ
những quy định do bộ đó ban hành trái với các văn bản pháp luật của Nhà nước,
của Tổng thanh tra về công tác thanh tra; nếu Bộ trưởng không đình chỉ hoặc huỷ
bỏ văn bản đó thì trình Thủ tướng Chính phủ quyết định. Thực hiện công tác quản
lý nhà nước về thanh tra, Thanh tra Chính phủ thường xuyên tiến hành rà soát các
văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực thanh tra, trường hợp phát hiện các văn
bản pháp quy do bộ ban hành trái với các văn bản pháp luật của nhà nước, của
Tổng thanh tra về công tác thanh tra thì có quyền kiến nghị Bộ trưởng đình chỉ
hoặc hủy bỏ. Quy định này nhằm bảo đảm tính thống nhất của các văn bản quy
phạm pháp luật trong lĩnh vực thanh tra và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Tổng thanh tra có quyền xem xét những vấn đề mà Chánh thanh tra bộ không
nhất trí với Bộ trưởng về công tác thanh tra và đề nghị Bộ trưởng xem xét lại;
trường hợp Bộ trưởng, không xem xét hoặc đã xem xét nhưng Tổng thanh tra
không nhất trí thì báo cáo Thủ tướng Chính phủ quyết định. Mối quan hệ này thể
hiện rõ tính độc lập tương đối giữa các cơ quan thanh tra và Thủ trưởng cơ quan
quản lý nhà nước cùng cấp.
Như vậy, nội dung mối quan hệ giữa Thanh tra Chính phủ và Thanh tra bộ là
thường xuyên và có ý nghĩa quan trọng trong công tác thanh tra nói chung và công
tác thanh tra trong từng bộ, ngành nói riêng. Trong những năm qua công tác thanh
tra đã góp phần lập lại trật tự, kỷ cương, trên các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội,
gắn liền nhiệm vụ chống tham nhũng với việc làm trong sạch bộ máy nhà nước,
thực hiện tốt công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân đảm bảo chính xác,
kịp thời, đúng pháp luật.
Để đạt được những kết quả đó là do sự phối hợp, chỉ đạo của Thanh tra
Chính phủ với thanh tra các bộ, ngành một cách hợp lý, khoa học, vì vậy công tác
thanh tra không thể tách rời mối quan hệ chỉ đạo của Thanh tra Chính phủ với
thanh tra các bộ, ngành. Trong thời gian tới, Thanh tra Chính phủ cần phải tăng
23
cường chỉ đạo, phối hợp thanh tra các bộ, ngành để hoạt động thanh tra ổn định, đi
vào nề nếp, có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được Nhà nước giao phó. Mối
quan hệ chỉ đạo, phối hợp của Thanh tra Chính phủ với thanh tra các bộ, ngành cần
của Thanh tra Chính phủ.
Đây là mối quan hệ giữa cơ quan thanh tra nhà nước cấp trên và cơ quan
thanh tra nhà nước cấp dưới trực tiếp. Theo quy định của Luật Thanh tra, Thanh tra
Chính phủ và Thanh tra tỉnh đều là tổ chức thanh tra theo cấp hành chính, về cơ bản
chức năng, nhiệm vụ và tính chất hoạt động có những điểm chung, điểm khác nhau
cơ bản là phạm vi hoạt động của Thanh tra Chính phủ trên toàn quốc, trong khi đó
Thanh tra tỉnh chỉ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác thanh tra
trong phạm vi cấp tỉnh. Mối quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới được thể hiện thông
qua quyền hạn của Thanh tra Chính phủ là thanh tra việc thực hiện chính sách,
pháp luật, nhiệm vụ của các Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương; thanh tra vụ việc có liên quan đến trách nhiệm quản lý của nhiều tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương.
Thanh tra Chính phủ và Thanh tra tỉnh là các cơ quan có chức năng thanh tra
hành chính. Do đó, có những nhiệm vụ chung nên trong quá trình tổ chức triển khai
thực hiện nhiệm vụ, giữa Thanh tra Chính phủ và Thanh tra tỉnh có mối quan hệ chỉ
đạo, hướng dẫn và phối hợp mật thiết với nhau. Mối quan hệ giữa Thanh tra Chính
phủ với Thanh tra tỉnh thể hiện toàn diện trên các mặt chỉ đạo, hướng dẫn về công
tác, tổ chức nghiệp vụ; bồi dưỡng nghiệp vụ thanh tra đối với đội ngũ cán bộ, công
chức thanh tra cấp tỉnh.
Về chỉ đạo, hướng dẫn công tác:
Tổng Thanh tra có quyền đề nghị Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh thanh tra
trong phạm vi quản lý của Uỷ ban nhân dân tỉnh cấp tỉnh. Trong công tác thanh tra,
nếu phát hiện những quy định của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Uỷ ban nhân
dân cấp tỉnh trái với văn bản của Tổng thanh tra về công tác thanh tra, thì Tổng
25