đảng với việc phát huy vai trò của đội ngũ trí thức trong thời kỳ 1986 2002 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỢNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
--------------------


ĐẢNG VỚI VIỆC PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC TRONG
THỜI KỲ ĐỔI MỚI_1986 – 2002

LUẬN VĂN THẠC SỸ LỊCH SỬ
Chuyên ngành: Lòch sử Đảng cộng sản Việt Nam
Mã số: 5.03.16

Người hướng dẫn khoa học:
Học viên thực hiện:

---Hà Nội 2004---

T.S Nguyễn Quốc Bảo
Lưu Mai Hoa


MỤC LỤC
Trang
Mở đầu
1
1. Lý do chọn đề tài
1
2. Tình hình nghiên cứu
4
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
5

3.2.Một số khuyến nghò nhằm phát huy hơn nữa vai trò của đội ngũ trí
thức Việt Nam
64
Kết luận
78
Tài liệu tham khảo
80

81


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Nhân loại hiện đang chứng kiến những biến đổi lớn lao trong sản
xuất, khoa học–công nghệ, giáo dục… Những biến đổi kỳ diệu ấy bắt nguồn
từ trí tuệ con người. Trí tuệ trở thành tài nguyên quý giá nhất trong mọi tài
nguyên mà sự vươn tới để có được, làm chủ được tài nguyên đó phụ thuộc
vào chiến lược con người, vào hệ thống chính sách đối với trí thức.
Trí thức, với tư cách là một tầng lớp xã hội đặc biệ t, có một vò trí và vai
trò vô cùng quan trọng trong đời sống, tiến bộ xã hội cũng như trong lòch sử
phát triển của xã hội loài người. Trong mọi thời đại, trí thức luôn là nguồn
lực trí tuệ tối cần thiết của sự phát triển kinh tế - xã hội ở từng quốc gia
cũng như trên phạm vi quốc tế. Họ có vai trò to lớn trong việc sáng tạo ra
những giá trò văn hoá, tinh thần, đem lại những thành tựu đáng ghi nhận
trong khoa học – kỹ thuật, góp phần thúc đẩy sự tiến bộ xã hội. Đặc biệt,
trong điều kiện hiện nay, lực lượng trí thức đã và đang phát triển ngày một
nhanh chóng, trở thành một tầng lớp xã hội đông đảo và có vai trò rất quan
trọng trong cuộc cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại, khi khoa học
ngày càng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp thì vai trò của đội ngũ trí
thức trong sự phát triển của toàn xã hội ngày càng được khẳng đònh.


2


Việc làm rõ những quan điểm, chủ trương và chính sách đổi mới của
Đảng đối với trí thức, đặc biệt là kết quả triển khai thực hiện những quan
điểm, chủ trương, chính sách đó trong thực tiễn, là một việc làm rất có ý
nghóa và cần thiết, giúp Đảng và Nhà nước hoàn thiện hơn một bước các
chính sách xã hội đối với trí thức. Đó là lý do để tôi lựa chọn đề tài: “Đảng
cộng sản Việt Nam với việc phát huy vai trò của đội ngũ trí thức trong thời
kỳ đổi mới _ 1986 – 2002” làm luận văn tốt nghiệp Cao học, chuyên ngành
Lòch sử Đảng cộng sản Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài:
Việc nghiên cứu những chính sách của Đảng nhằm phát huy vai trò của
đội ngũ trí thức là một trong những mối quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu.
Đặc biệt, từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI đã có nhiều công
trình, nhiều ấn phẩm nghiên cứu về trí thức đã được xã hội hoá như:
- Phạm Tất Dong, “Trí thức Việt Nam - thực trạng và triển vọng”, NXB
CTQG, H, 1995.
- Đỗ Mười, “Trí thức Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới xây dựng đất
nước”, NXB CTQG,H, 1995.
- Vũ Khiêu, “Người trí thức Việt Nam qua các chặng đường lòch sử”,
NXB TPHCM, 1987.
- Nguyễn Quốc Bảo, Nguyễn Văn Khánh, “Một số vấn đề về trí thức
Việt Nam”, NXB Lao động, H, 2001.

3


- Nguyễn Thanh Tuấn, “Một số vấn đề về trí thức Việt Nam”, NXB

sản Việt Nam trong việc phá t huy vai trò của đội ngũ trí thức trong thời kỳ
đổi mới (1986-2002).
5. Cơ sở lý luận, nguồn tài liệu phương pháp nghiên cứu của luận
văn:
- Cơ sở lý luận:
Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghóa Mác - Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Nguồn tài liệu:
Luận văn có tham khảo một số nguồn tài liệu khác nhau, được liệt kê cụ
thể trong phần Danh mục tài liệu tham khảo.

- Phương pháp nghiên cứu:
5


Luận văn nghiên cứu theo phương pháp lòch sử và lôgíc, đồng thời kết
hợp với các phương pháp khác như phương pháp thống kê, phân tích, đối
chiếu, so sánh…
6. Những đóng góp mới của Luận văn:
- Trình bày và phân tích một cách hệ thống những quan điểm và chính
sách của Đảng đối với việc phát huy vai trò của đội ngũ trí thức trong công
cuộc đổi mới.
- Góp phần làm rõ những cơ sở khoa học cho việc đònh ra các chủ trương,
chính sách mới của Đảng nhằm phát huy tiềm năng lao động sáng tạo của
đội ngũ trí thức nước ta.
7. Kết cấu của luận văn :
Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận văn gồm có 3 chương, 6 tiết.

6


hành nhiều, người đó vẫn không thể xếp vào hàng ngũ trí thức chân chính.
Trong sự nghiệp cách mạng, nhữ ng người mác xít cho rằng tầng lớp
trí thức cũng là một lực lượng cách mạng, cần được thu hút vào phong trào
cách mạng, vào công cuộc xây dựng xã hội mới. Công cuộc cách mạng xã
hội chủ nghóa và xây dựng chủ nghóa xã hội sẽ tạo điều kiện cho tầng lớp trí
thức phát huy khả năng của mình.
Nhận thức rõ vai trò của đội ngũ trí thức trong cuộc sống xã hội cũng
như trong sự nghiệp cách mạng, Lênin khẳng đònh: tác động có ý nghóa
quyết đònh nhất đối với tầng lớp trí thức là thái độ của giai cấp công nhân
đối với văn hóa và đối với những người đại biểu cho văn hóa. Khi họ - trí
thức – trông thấy giai cấp công nhân trọng dụng những người tiên tiến có tổ
chức, những người không những biết coi trọng văn hóa mà còn giúp đỡ
truyền bá văn hóa trong quần chúng nữa thì họ thay đổi thái độ với chúng
ta… Khi họ trông thấy trong thực tế giai cấp vô sản ngày càng lôi cuốn được
đông đảo quần chúng tham gia vào sự nghiệp ấy thì họ sẽ hoàn toàn quy
phục chúng ta về mặt tinh thần. Lênin căn dặn những người cộng sản cần
phải giữ thái độ khiêm tốn, gần gũi với chuyên gia, học tập họ và hết sức
bớt ra mệnh lệnh…, đối xử với các chuyên gia khoa học kỹ thuật một cách
thận trọng và khéo léo để tạo ra xung quanh các chuyên gia bầu không khí
hợp tác thân ái.
8


Thấm nhuần quan điểm của Chủ nghóa Mác – Lênin về vai trò, vò trí
của đội ngũ trí thức trong sự nghiệp cách mạng, Đảng ta luôn quan tâm đến
việc chăm lo xây dựng đội ngũ trí thức, coi trí thức là vốn q của dân tộc, là
lực lượng quan trọng trong mọi giai đoạn cách mạng do Đảng lãnh đạo.
Trong quá trình bảo vệ và xây dựng đất nước, nếu không có trí thức hợp tác
với công nông thì cách mạng không thể thành công và sự nghiệp xây dựng
một nước Việt Nam xã hội chủ nghóa không thể hoàn thành được. Đảng ta

Trong thời kỳ Mặt trận Việt Minh, với chính sách tập hợp lực lượng
rộng rãi, Đảng càng thu hút được đông đảo đội ngũ trí thức, góp phần tăng
cường sức mạnh đoàn kết dân tộc. Hoạt động của giới văn hóa, khoa học sôi
động hẳn lên trong nhòp độ khẩn trương của toàn dân chuẩn bò cho Cách
mạng Tháng Tám.
Cách mạng Tháng Tám thành công không những giải phóng cho dân
tộc khỏi xiềng xích nô lệ mà còn giải phóng cho giới trí thức, cho tư tưởng
học thuật và nghệ thuật của nước nhà. Tham gia xây dựng chính quyền mới
có sự đóng góp rất lớn của đội ngũ trí thức. Nhiều nhà trí thức được bổ
nhiệm những chức vụ quan trọng trong Chính phủ, trong bộ máy hành
chính, quân sự, ngoại giao, kinh tế, giáo dục,văn hóa…
Một thành tựu nổi bật của giới trí thức trong giai đoạn này là đã góp
phần quan trọng vào việc xây dựng và phát triển ngôn ngữ dân tộc. Được sự
ủy nhiệm của Đảng và nhà nước, đội ngũ trí thức trong các ngành từ giáo

10


dục, văn hóa đến khoa học, kỹ thuật đã dày công nghiên cứu, sáng tạo ra
những từ ngữ mới, xây dựng hệ thống thuật ngữ khoa học mới, tìm tòi các
cách diễn đạt mới, làm cho tiếng nói của dân tộc thêm phong phú, đủ sức
diễn đạt không chỉ tình cảm, mà cả những khái niệm, những vấn đề khoa
học kỹ thuật cao, phức tạp. Công việc này có ý nghóa lớn lao đối với sự phát
triển giáo dục và khoa học. Đến năm 1950, các môn học ở các trường, các
ngành đều được giảng dạy bằng tiếng Việt thay cho tiếng Pháp. Từ đây dân
tộc Việt Nam đã được độc lập về ngôn ngữ. Điều đó khẳng đònh vai trò cực
kỳ to lớn của giới trí thức trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.
Tháng 7 năm 1954, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc.
Miền Bắc tiến lên xây dựng chủ nghóa xã hội và trở thành hậu phương chi
viện cho tiền tuyến miền Nam. Đây là lúc cần phải nhận thức và phát huy

Nhìn lại lòch sử phát triển của dân tộc Việt Nam, điều dễ nhận thấy là
dân tộc Việt Nam có truyền thống hiếu học và quý trọng nhân tài, coi giáo
dục, học vấn là yếu tố quan trọng hàng đầu đối với sự hưng thònh của đất
nước. Chính vì vậy, từ thời Lê sơ trở đi, việc đào tạo, tuyển dụng nhân tài
của nhà nước phong kiến đã phát triển mạnh mẽ, thông qua các kỳ khoa cử.
Ngày nay, mỗi khi có dòp đến Hà Nội, ắt hẳn ai trong chúng ta cũng
phải một lần ghé thăm Văn Miếu Quốc Tử Giám, trường quốc lập đầu tiên

12


của đất nước, được xây dựng năm 1070 dưới thời vua Lý Thánh Tông. Đây
là sự kiện văn hóa lớn của dân tộc, mở rộng đường cho sự phát triển giáo
dục và trọng dụng nhân tài.
Lời chiếu năm Thiệu Bình (1431) nêu rõ: Muốn có nhân tài trước hết
phải chọn người có học, phép chọn người có học thì khoa cử là đầu [9]. Chủ
trương này được khẳng đònh qua nội dung bài ký đề danh Tiến sỹ khoa
Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo thứ III (1442): Hiền tài là nguyên khí quốc
gia, nguyên khí mạnh thì thế nước mạnh rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế
nước yếu rồi xuống thấp. Vì vậy các đấng thánh đế minh vương chẳng ai
không thấy việc bồi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ só, vun trồng nguyên khí
làm việc đầu tiên. Kẻ só quan hệ với quốc gia như thế, cho nên quý chuộng
kẻ só không biết thế nào là cùng [9].
Những người thi đỗ đại khoa nhận được rất nhiều ân điển của nhà
nước phong kiến. Phần lớn những người đậu cử nhân trở lên đều được bổ
dụng làm quan giữ những chức vụ khác nhau trong triều đình, trong các đòa
phương, tham gia vào các hoạt động chính trò, văn hóa, xã hội của đất nước.
Lối học ngày xưa là lối học thiên về hư văn, không chú ý đến thực tế.
Tuy nhiên bên cạnh nhiều nho só sống rập khuôn, giáo điều theo sách vở,
cũng có những người lỗi lạc, sống gắn với nhân dân,với thực tiễn, độc lập

lại càng làm cho họ đần độn thêm. “Ngoài mục đích đào tạo ra những tùy
phái, thông ngôn và viên chức nhỏ đủ số cần thiết phục vụ cho sự xâm lược,
14


thực dân Pháp đã gieo rắc một nền giáo dục đồi bại, xảo trá và nguy hiểm
hơn cả sự dốt nát nữa. Một nền giáo dục như vậy chỉ là m hư hỏng mất tính
nết của người đi học, chỉ dạy cho họ một lòng “trung thực” giả dối, chỉ dạy
cho họ biết sùng bái những kẻ mạnh hơn mình, dạy cho thanh niên yêu một
Tổ quốc đã từng áp bức dân tộc mình” [42, tr.41]. Đó là một nền giáo dục
vong bản mà mục đích nham hiểm là làm mờ nhạt lòng yêu nước, yêu dân
tộc vốn rất sâu sắc trong con người Việt Nam. Nền giáo dục đó vừa lạc hậu,
vừa phản động. Nội dung và tinh thần của nó nhằm đầu độc thế hệ trẻ bằng
những tư tưởng tự ti dân tộc, tôn sùng và biết ơn “mẫu quốc”, xa rời vận
mệnh của Tổ quốc và cuối cùng trở thành kẻ thừa hành trong bộ máy cai
quản bóc lột của thực dân, làm tay sai cho đế quốc, chống lại Tổ quốc và
nhân dân mình. Với chính sách thâm độc như vậy, nên đến năm 1940, tổng
số học sinh tiểu học chỉ là 40 vạn, tổng số học sinh trung học là hơn 5000,
số lượng sinh viên là 582 trên tổng số dân là 23 triệu người. Nền giáo dục
ấy để lại hơn 98 % dân số mù chữ, đặc biệt là phụ nữ và dân tộc ít người.
Thực tiễn giới trí thức Việt Nam thời kỳ này đã ảnh hưởng rất nhiều
đến sự tồn vong của quốc gia. Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Đất nước
không thể phát triển nếu không xây dựng cho mình một đội ngũ trí thức
hùng hậu cả về số lượng và chất lượng. Nhà bác học đại tài Lê Quý Đôn đã
khẳng đònh: “phi trí bất hưng”. Đồng nghóa với không phát triển là trì trệ,
thụt lùi, dẫn đến suy vong, trở thành miếng mồi ngon cho những kẻ có dã
tâm xâm lược. Vì vậy, đầu tư cho giáo dục đã trở thành một trong những
quốc sách hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta trong mọi thời kỳ, đặc biệt là
khi Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công. Để tránh những ảnh hưởng



đã tăng đáng kể về mặt số lượng. Nếu năm 1940, số sinh viên cả nước là
582 người thì đến năm 1954, riêng ở miền Bắc đã có 500 sinh viên đại học
và hơn 3000 sinh viên, học viên các hệ cao đẳng và trung học chuyên
nghiệp, tăng gấp 6 lần trong vòng 15 năm. Tuy còn nhỏ bé về số lượng so
với cả nước, song đội ngũ trí thức Việt Nam đã đóng góp một phần đáng kể
trong việc hoàn thành thắng lợi các nhiệm vụ cách mạng, đặc biệt trong
việc phát triển nền giáo dục mới, văn hóa mới, đồng thời có những sáng chế
mới phục vụ cho lónh vực công nghiệp quốc phòng.
Tháng 7 năm 1954, với chiến thắng Điện Biên Phủ, cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp kết thúc, Đảng và Nhà nước ta đứng trước hai nhiệm
vụ: củng cố, khôi phục kinh tế và xây dựng chủ nghóa xã hội ở miền Bắc,
đồng thời huy động nhân lực, vật lực chi viện cho chiến trườ ng miền Nam.
Nhiệm vụ cách mạng mới đòi hỏi tăng nhanh lực lượng trí thức phục vụ
cách mạng. Công tác đào tạo đại học và trung học chuyên nghiệp bắt đầu
phát triển với nhòp độ cao. Năm 1956, cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai
được tiến hành với sự thiết lập hệ thống giáo dục 10 năm. Kết quả là đến
năm 1965, với số học sinh phổ thông tăng từ 1.000.000 lên gần 3.000.000
học sinh, đến năm 1975, con số học sinh là 5.000.000 người.
Năm 1960, khi miền Bắc tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng,
trong đó lấy cách mạng khoa học – kỹ thuật làm then chốt và bắt đầu thực
hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 – 1965) thì vò trí và vai trò của đội
ngũ trí thức càng có tầm quan trọng đặc biệt. Thời kỳ này, hệ thống các
trường, các viện nghiên cứu được mở rộng với quy mô lớn và số lượng học
sinh, sinh viên tăng nhanh. Với số lượng hơn 3.500 sinh viên, học sinh đại
17


học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp năm 1954, đến năm 1964, số
lượng đó đã tăng lên 30.704 người, gấp gần 10 lần. Năm 1975, miền Bắc có

Bên cạnh sự phát triển của các trường đại học, cao đẳng và trung học
chuyên nghiệp, các viện nghiên cứu cũng phát triển mạnh trong thời kỳ
này. Năm 1965, nước ta có 16 viện, năm 1970 tăng lên 30 viện và năm
1975 là 53 viện (không kể các viện trong quân đội). Việc phát triển các
viện nghiên cứu đã tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho đội ngũ trí thức phát
huy được tiềm năng sáng tạo của mình, đáp ứng được nhu cầu thực tế trong
chiến đấu và trong sản xuất, góp phần to lớn cho thành công của cuộc cách
mạng trường chinh của dân tộc ta.
Ngoài những đóng góp quan trọng trong lónh vực khoa học tự nhiên,
đội ngũ trí thức thời kỳ này còn góp phần không nhỏ trong việc nghiên cứu
về lòch sử dân tộc, khảo cổ học, ngôn ngữ học … Cùng với sự lớn mạnh của
các ngành, các lónh vực khoa học, văn học nghệ thuật cũng có nhiều tiến bộ
tích cực. Dòng văn học mới ra đời thay cho dòng văn học lãng mạn đã tác
động không ít đến tình cảm của người đọc, trở thành niềm tự hào của dân
tộc, của thời đại. Giới trí thức văn nghệ só đã cống hiến hết sức mình để làm
tăng thêm bầu nhiệt huyết trong nhân dân. Có những bài hát đi cùng năm
tháng, đã động viên, khuyến khích tinh thần chiến đấu của các chiến só, kêu
gọi nhân dân đứng lên làm cuộc khởi nghóa thần kỳ, bứt tan mọi gông xiềng
nô lệ để giành lấy tự do. Sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất
19


nước thống nhất, bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghóa xã hội, Đảng ta đã
chủ trương: “đẩy nhanh việc đào tạo trí thức có tài năng trên tất cả các lónh
vực hoạt động xã hội, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với nhân dân, với
sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghóa, có quyết tâm và nghò lực lớn, dám
chinh phục những đỉnh cao của văn hóa, khoa học, kỹ thuật, … để giải quyết
những vấn đề cụ thể của đất nước” [21, tr.155-156].
Điều thuận lợi cho công tác đào tạo trí thức thời kỳ này là đất nước đã
được hoàn toàn giải phóng, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta là

trình độ đại học được đào tạo trong hệ chuyên tu là 5,3%, trong hệ tại chức
là 21,7% [41,tr.209]. Điều đó làm cho giới trí thức có thành phần xuất thân
từ công nông ngày càng thêm đông đảo. Trong chế độ cũ, trí thức thuộc các
dân tộc ít người, trí thức nữ là rất hiếm, nhưng sau ngày giải phóng, với sự
quan tâm của Đảng, tỷ lệ đó đã khá cao. Nếu năm 1965, trí thức nữ chiếm
14,3% trong tổng số trí thức thì năm 1982 chiếm 50,3%, trong đó số người
có trình độ trung học chuyên nghiệp là 58,7%, đại học là 35,7%, trên đại
học là 14,1%, trí thức thuộc dân tộc ít người chiếm 3%.
Thời kỳ này, bên cạnh việc đẩy mạnh công tác đào tạo trong nước,
chúng ta đã mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế trong việc đào tạo đội ngũ trí
thức. Do vậy, trong sự phát triển của đội ngũ trí thức nước ta phải kể đến sự
giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghóa anh em, đặc biệt là Liên Xô. Các
nước này đã giúp đỡ chúng ta đào tạo một lực lượng cán bộ khoa học kỹ
21


thuật tương đối lớn. Theo số liệu của Bộ đại học và trung học chuyên
nghiệp, từ năm 1951 đến 1986 có 207.020 lưu học sinh Việt Nam học tại
Liên Xô, trong đó có 3.245 nghiên cứu sinh, 2.986 thực tập sinh, 20.787
sinh viên đại học và học sinh trung học chuyên nghiệp . Tính đến tháng
6.1987, có 25.300 người đã tốt nghiệp, trong đó có 120 tiến só, 2.560 phó
tiến só, 17.950 cử nhân, 2.900 thực tập sinh.
Như vậy, tính đến năm 1985, trải qua hành trình hơn 5 thập kỷ kể từ
khi Đảng ra đời, đội ngũ trí thức nước ta đã trở thành một lực lượng có tiềm
năng to lớn. Với thành phần hết sức đa dạng, họ đã có mặt ở hầu hết các
lónh vực trong đời sống xã hội. Nhờ sự quan tâm của Đảng và Nhà nước,
cộng với sự nỗ lực vượt bậc của bản thân, trí thức nước ta đã và đang phát
triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng, giữ vai trò quan trọng trong sự
nghiệp phát triển đất nước, là một bộ phận quan trọng và là niềm tự hào của
dân tộc.

thần để thúc đẩy họ tìm đến cách mạng, tham gia phong trào cách mạng
của nhân dân. Một tấm gương điển hình về người trí thức cách mạng đó là
Chủ tòch Hồ Chí Minh, người đã đi từ chủ nghóa yêu nước chân chính đến
Chủ nghóa Mác – Lênin, tìm ánh sáng cho con đường cứu nước, giải phóng
dân tộc. Người đã nhận xét: “Trí thức nước ta trước đây do có đầu óc dân
tộc, có đầu óc cách mạng, lại có học thức nên dễ tiếp thu tinh thần cách

23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status