Phát huy vai trò của đội ngũ trí thức nữ trong các trường cao đẳng và trung học chuyên nghiệp ở tỉnh gia lai hiện nay - Pdf 33

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

PHẠM THỊ THANH HÀ
Phát huy vai trò của đội ngũ trí thức nữ trong các
trường cao đẳng và trung học chuyên nghiệp ở tỉnh
Gia Lai hiện nay
Luận văn Thạc sỹ chủ nghĩa xã hội khoa học
Mã số: 5 01 02

Người hướng dẫn khoa học: TS TÔ NGỌC THẮNG

Hà nội - 2004


BẢNG QUY ƢỚC CHỮ VIẾT TẮT

- Chủ nghĩa xã hội:

CNXH

- Xã hội chủ nghĩa:

XHCN

- Giáo sư:

GS

- Tiến sĩ:

TS

- Phổ thông trung học :

PTTH

1


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong quá trình dựng nước và giữ nước, phụ nữ Việt Nam đã có những
đóng góp to lớn vào sự nghiệp chấn hưng, trường tồn của dân tộc. Có rất nhiều
phụ nữ đã hy cả cuộc đời mình cho sự sống còn của Tổ quốc, để lại những tấm
gương mãi mãi sáng ngời trong lịch sử phụ nữ Việt Nam. Rồi cũng chính họ phụ nữ - là những người quyết định đến sự phát triển giống nòi, hạnh phúc gia
đình, sự phát triển sản xuất xã hội cũng như sự ổn định chính trị đất nước.
Tiếp thu những quan điểm đúng đắn của Chủ nghĩa Mác - Lênin về trí
thức và truyền thống tốt đẹp của dân tộc, từ khi ra đời đến nay, Đảng Cộng sản
Việt Nam luôn coi trọng trí thức, trong đó có trí thức nữ.
Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (1986) đã đề ra đường lối
đổi mới toàn diện của đất nước, trong đó đặc biệt coi trọng vai trò của trí thức,
coi liên minh công nông trí thức là nền tảng chính trị của Nhà nước Cộng hoà
XHCN Việt Nam.
Với tinh thần ấy, Đảng và Nhà nước ta đã ra nhiều văn bản quan trọng trực
tiếp liên quan đến việc nâng cao vai trò đội ngũ trí thức: Nghị quyết TW 4 (khoá
VII), Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII, IX, thực sự nhấn mạnh Giáo dục - Đào
tạo là quốc sách hàng đầu, là động lực quan trọng trong thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hoá (CNH), hiện đại hoá( HĐH) đất nước... Trong tình hình đó vai trò đội
ngũ trí thức nói chung, đội ngũ trí thức nữ nói riêng trong lĩnh vực Giáo dục Đào tạo lại càng được chú ý.
Cũng như các địa phương trong cả nước, để phát triển kinh tế, xã hội... đi
lên ngang bằng với các tỉnh khác, tỉnh Gia Lai càng phải coi trọng và phát huy
vai trò của đội ngũ trí thức nói chung, đội ngũ trí thức nữ nói riêng. Song không

3


cạnh khác nhau. Đó là những Văn kiện của Đảng tại Đại hội toàn quốc (lần IV,
V, VII, IX), những bài viết, bài nói chuyện của Hồ Chủ tịch và các đồng chí lãnh
đạo Đảng và Nhà nước về trí thức. Đến nay, các công trình nghiên cứu về trí
thức, trí thức nữ đã được công bố tương đối phong phú. Bàn về vấn đề này có
một số bài viết như: “Phát huy vai trò của các nhà khoa học nữ trong công cuộc
đổi mới hiện nay" của GS. Lê Thi, Tạp chí Khoa học về phụ nữ số 2/1993;
“Những động lực mới của các nhà khoa học nữ trong cơ chế thị trường”. TS. Lê
Thị Muội, Tạp chí Khoa học về phụ nữ số 2/1994; “Trí thức Việt Nam thực tiễn
và triển vọng”, Phạm Tất Dong, NXB Chính trị quốc gia, tháng 4/1995; “Vai trò
của các nhà khoa học nữ trong nền kinh thế thị trường ở Việt Nam”, Tạp chí
Khoa học về phụ nữ, số 2/1996; “Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục trí thức
khoa học cho nhân dân”, Trần Trọng Lưu, Tạp chí Sinh hoạt lý luận số 6/1996;
“Phát biểu của đồng chí Trương Thị Mỹ Hoa, Bí thư TW Đảng, Chủ tịch Hội
liên hiệp phụ nữ Việt Nam tại Hội thảo “Nâng cao năng lực quản lý của phụ nữ
trong cơ chế thị trường”, Hà Nội 9/2/1996; “Phụ nữ tham gia lãnh đạo quản lý”,
Viện Khoa học lao động và các vấn đề xã hội nghiên cứu khoa học lao động nữ,
NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội, 1997; “Một số vấn đề về trí thức Việt Nam”,
PTS. Nguyễn Thanh Tuấn, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998; “Gia đình và
người phụ nữ”, Lê Minh, NXB Lao động năm 2000 và nhiều công trình khác.
Nội dung của những công trình trên rất đa dạng, đề cập đến nhiều góc độ
khác nhau của vấn đề trí thức. Trong đó, các công trình nghiên cứu về vấn đề
trên có thể chia thành các nhóm sau:
Một là: Nghiên cứu về vai trò, vị trí của trí thức đối với sự phát triển của
đất nước qua các giai đoạn lịch sử. Bàn về vấn đề này có một số bài viết như:

4


“Bài phát biểu của Thứ trưởng Bộ Giáo dục - Đào tạo Đặng Thị Huỳnh
Mai”, đăng trên báo Giáo dục - Thời đại ra ngày 16/10/2004 đã chỉ ra “Lực cản
lớn nhất của phụ nữ ngành Giáo dục - Đào tạo cũng có phần chính là từ phía chủ
quan của chị em…”, từ đó Thứ trưởng khẳng định “muốn thành công chị em
phải vượt qua trở ngại ấy, tự lực vươn lên, tự ý thức về năng lực trình độ bản
thân…”
“Tổng kết 9 năm thực hiện Chỉ thị 37 của Ban bí thư về công tác cán bộ
nữ” - Báo Đà Nẵng - ra ngày 12/11/2003 đã chỉ ra những bước chuyển của trí
thức nữ. Tỷ lệ cán bộ nữ được cử đi đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn
tăng hơn so với trước. Đào tạo sau đại học 10,71%, đào tạo đại học 56,18%, đào
tạo trung cao cấp, Cử nhân chính trị chiếm 27,54%…, bên cạnh đó cũng nêu ra
một số hạn chế trong công tác cán bộ nữ.
Ba là, nhóm các bài viết đề cập đến chiến lược phát triển trí tuệ con người
ở thế kỷ XXI:
“Chuẩn bị sẵn sàng đội ngũ trí thức mới đủ sức đủ tài”, bài phát biểu của
đồng chí Đỗ Mười, đăng trên báo Giáo dục - thời đại số 42/2003 đã khẳng định
Việt Nam cần phải chuẩn bị sẵn sàng đội ngũ trí thức mới đủ sức đủ tài trên cơ
sở phân tích tầm quan trọng của trí thức và thực trạng trí thức hiện nay.
“Hội thảo Quốc tế về phụ nữ trong chiến lược phát triển con người ở thế
kỷ XXI được tổ chức từ ngày 14 đến ngày 16/9/2000 tại Hà Nội. Hội thảo tập
trung vào 3 lĩnh vực chính: Tiếp cận chủ đề trên bình diện lý luận và lịch sử, tình
hình đội ngũ chuyên gia khoa học nữ hiện nay và một số phương hướng giải
pháp cho ngày mai. Đặc biệt, Hội thảo nhấn mạnh giải pháp “Tăng cường hợp
tác đào tạo quốc tế, nhất là đào tạo cao học cho nữ, giáo dục cần được gắn với
kinh tế mà trước hết coi nhà trường như một thiết chế trong chuỗi thiết chế của

7


nền kinh tế quốc dân. Giáo dục không những tạo nguồn nhân lực mà còn là “cỗ

- Hệ thống hoá một số quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về vị trí vai trò của tầng lớp trí thức,
trong đó có đội ngũ trí thức nữ trong công cuộc đổi mới, thực hiện CNH, HĐH
đất nước.
- Khảo sát thực trạng đội ngũ trí thức nữ trong các trường cao đẳng và
trung học chuyên nghiệp của tỉnh Gia Lai.
- Bước đầu nêu lên phương hướng và một số giải pháp để phát huy vai trò
của đội ngũ trí thức nữ Gia Lai trong sự nghiệp đổi mới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đội ngũ trí thức nữ - cán bộ giảng dạy, cán bộ nghiên cứu khoa học, cán
bộ quản lý tại các trường chuyên nghiệp.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Do hạn chế về tư liệu, thời gian và khuôn khổ đề tài, Luận văn chủ yếu
nghiên cứu, phân tích vai trò của trí thức nữ tại một số trường Cao đẳng và
Trung học chuyên nghiệp ở tỉnh Gia Lai hiện nay (khoảng 5 năm gần đây)
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh, các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam về đội ngũ trí
thức...

9


Trong quá trình thực hiện, tác giả có kế thừa những thành tựu nghiên cứu
của các nhà khoa học đi trước, qua các công trình hoặc các bài viết đã được công
bố có liên quan đến đề tài.
Luận văn vận dụng phương pháp lôgích - lịch sử, điều tra xã hội học, kết
hợp phân tích tổng hợp...


mỗi quốc gia và trên phạm vi quốc tế trong mọi thời đại. Họ có vai trò to lớn
trong việc sáng tạo ra những giá trị văn hoá, tinh thần, đem lại những thành tựu
quan trọng trong khoa học - kỹ thuật, góp phần thúc đẩy sự tiến bộ xã hội...
Song, trí thức là gì ? như thế nào được gọi là trí thức vẫn đang còn rất
nhiều quan điểm khác nhau về nội dung của thuật ngữ này. Có sự khác nhau đó
là do ở mỗi thời đại khác nhau, những chuẩn mực riêng về trí thức cũng khác
nhau. Điều này được Bách khoa toàn thư của Pháp - Tập 10 có nêu: "Trí thức là
một phạm trù lịch sử. Trong các nước khác nhau, chức năng của trí thức cũng
khác nhau. Trong các thời đại khác nhau, khái niệm trí thức khác nhau. Trong
đời sống xã hội, trí thức có vị trí nhất định" [12, tr.14].
Đi ngược dòng thời gian, lịch sử Việt Nam đã từng tồn tại một thời kỳ mà
ở đó trí thức là những cụ Đồ nho. Học vấn thuở ấy chủ yếu là những giá trị đạo
đức được ghi trong sách của các bậc thánh hiền và người thầy bằng phẩm chất,
uy tín và năng lực của mình sẽ truyền lại cho thế hệ sau những nội dung ấy. Thời
ấy, có người đi học để kiếm "dăm ba cái chữ", kẻ có chí hơn thì cố gắng dùi mài
kinh sử để kiếm cho mình một chức sắc nào đó trong thiên hạ, họ học là để làm
quan và cũng có thể là để "tề gia, trị quốc". Bằng cấp tú tài lúc bấy giờ rất hiếm

12


nên ai có văn bằng này đều được xem là trí thức. Ngày nay khi mà khoa học
công nghệ phát triển như vũ bão, quyết định trình độ phát triển của mỗi quốc gia
thì việc có tấm bằng tốt nghiệp PTTH cũng chưa thể được xem là trí thức.Xã hội
hiện nay, thiếu trình độ học vấn tương đương với trình độ đại học thì chẳng thể
coi là trí thức. Ở nước ta và nhiều nước khác xác định bằng cấp của trí thức là
được đào tạo từ bậc cao đẳng trở lên. Bằng cấp chỉ là một dấu hiệu, trong thực tế
có những người trình độ học vấn cao nhưng không giữ vai trò là trí thức, thực sự
do họ đi vào hướng lao động của nhóm xã hội khác hoặc đang vươn tới mức độ
lao động của trí thức. Như vậy văn bằng đại học và sau đại học cũng chỉ là điều

thực hiện bình đẳng nam nữ của chủ nghĩa xã hội khoa học
Một xã hội gọi là tiến bộ khi tiêu chí đánh giá quan trọng là phụ nữ trong
xã hội ấy phải được giải phóng. Vì thế, ngay từ nhiều thế kỷ trước giải phóng
phụ nữ đã được các nhà XHCN quan tâm nghiên cứu. Tư tưởng giải phóng phụ
nữ của họ còn để lại cho đến ngày nay, thể hiện rõ qua 2 vấn đề sau:
- Muốn giải phóng phụ nữ, trước hết phải giải phóng họ khỏi chế độ hôn
nhân và gia đình của xã hội cũ, xây dựng chế độ hôn nhân và gia đình tiến bộ:
Hôn nhân một vợ một chồng, tự nguyện dựa trên cơ sở tình yêu chân chính, có
quyền li hôn khi không còn tình yêu.
- Giải phóng phụ nữ với tư cách họ là những người lao động, những công
dân của xã hội. Nhà nước và xã hội cần thực hiện sự phân công hợp lý, có chế độ
khen thưởng, kỷ luật công bằng, coi trọng lao động nữ...
Những tư tưởng tiến bộ trên đã được các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác kế
thừa trong hệ thống lý luận của mình mà cho đến ngày nay vẫn còn nguyên giá
trị.
C.Mác và Ph.Ăngghen khi nghiên cứu con đường giải phóng loài người đã
dành sự quan tâm đặc biệt đến vấn đề giải phóng phụ nữ, bởi họ là một lực lượng
không thể thiếu trong xã hội, "một nửa thế giới"... bởi ngoài sự áp bức giai cấp,
dân tộc... phụ nữ còn chịu sự áp bức về giới. Các nhà sáng lập chủ nghĩa MácLênin đã chứng minh được rằng: Chính nguyên nhân kinh tế, cụ thể là sự chuyển

16


từ chế độ mẫu hệ sang phụ hệ trên phạm vi toàn cầu là cơ sở của sự bất bình
đẳng đối với phụ nữ. Sự áp bức phụ nữ là biểu hiện của sự áp bức xã hội. Với sự
ra đời của tác phẩm "Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà
nước", Ph.Ăngghen đã bác bỏ quan điểm cho rằng: "Ngay từ khi có xã hội, đàn
bà đã là nô lệ của đàn ông". Theo ông, gia đình cá thể ra đời thì cùng với nó là sự
bất bình đẳng, sự áp bức, sự coi thường cũng như thói thô bạo trong đối xử của
người đàn ông đối với đàn bà. Và như vậy chế độ hôn nhân cá thể không phải là

phải cân đối thu chi trong gia đình cho đủ cũng là một bài toán khá hóc búa, vì
chỉ đơn thuần sống bằng lương nhà nước cấp (trừ một vài ngành có thu nhập cao,
còn đa số lao động nữ là lương thấp, nhất là ở khu vực hành chính sự nghiệp).
Đây cũng là khó khăn lớn đối với lao động nữ là công chức, cán bộ nữ làm công
tác quản lý ở khu vực hành chính sự nghiệp. Vì vậy, để đảm bảo mức sống của
gia đình, nhiều phụ nữ đã phải nỗ lực học tập để xin vào làm việc cho các liên
doanh nước ngoài (chủ yếu là lao động nữ trẻ) điều này dẫn đến nguy cơ mất đi
rất nhiều chất xám, trong khi ta rất cần nó để góp phần hiện đại hoá đất nước.
Phần đông trí thức nữ phải làm thêm ngoài giờ bằng nhiều cách, chẳng hạn như
làm thêm các đề tài nghiên cứu, may, dệt..., làm cho các cơ sở dịch vụ (bán hàng
hoặc chăn nuôi, nhận làm gia công...), để có thêm thu nhập trang trải cho cuộc
sống. Điều đó không thể không ảnh hưởng đến sức khoẻ bản thân, ảnh hưởng
đến nhịp sống gia đình. Thông thường, lao động nữ ngoài giờ làm việc cho xã
hội còn dành 4-6 giờ làm việc gia đình. Việc các bà mẹ vì phải làm thêm nên
không có thời gian chăm sóc đến việc học hành, sinh hoạt, sức khoẻ của con cái

20


sẽ là một thiệt thòi lớn đối với trẻ thơ. Bởi thiếu bàn tay chăm sóc, quản lý của
người mẹ thì trẻ thơ sẽ khuyết đi một phần nhân cách của con người.
Mặt khác, đã gọi là lao động khoa học thì điều cần thiết nhất đó là phải có
sự say mê, kiên trì chịu đựng, vượt mọi khó khăn để theo đuổi sự nghiệp đến
cùng. Điều này trí thức nữ Việt Nam có thể làm được, song để thực hiện tốt
không phải là không có những khó khăn (khách quan, chủ quan) nhất định. Nhìn
chung nữ trí thức nước ta giàu lòng yêu nước, ở họ luôn có tâm huyết với nghề
cũng như ý chí phấn đấu vươn lên, khắc phục mọi khó khăn để làm khoa học dù
cuộc sống đời thường còn muôn nỗi gian truân.
- Phụ nữ Việt Nam nói chung, trí thức nữ Việt Nam nói riêng luôn cần cù
chịu khó là phẩm chất rất cần thiết đối với lao động khoa học. Sự cần cù chịu

ngơi, học tập vươn lên. Chúng ta thấy rằng, nghiên cứu khoa học muốn có hiệu
quả , đòi hỏi phải có sự tập trung tư tưởng cao độ trong khoảng thời gian dài, liên
tục. Trong khi đó người nữ trí thức trăm công nghìn việc chia cắt quỹ thời gian
làm việc của họ. Đó là chưa kể đến các mối quan hệ gia đình cũng không phải
không ảnh hưởng, chi phối đến tâm trí về mặt tâm lý, trong gia đình người chồng
thường được coi là trụ cột nên thường được ưu tiên về các điều kiện học hành
phấn đấu. Nhiều nữ trí thức đã tự nhận phần thua thiệt về mình để hy sinh cho
con đường danh nghiệp của chồng.
Vì quỹ thời gian có hạn nên nếu nữ trí thức tham gia công tác lãnh đạo
quản lý thì phải kiên trì phấn đấu và mất rất nhiều công sức. Ngoài ra, các điều
kiện sinh hoạt, dịch vụ xã hội còn bị hạn chế cũng làm cho họ mất rất nhiều thời
gian vào phục vụ gia đình, ít có thời gian để học tập nâng cao trình độ và tham
gia các hoạt động khác của xã hội nên khả năng tự vươn lên ở một số chị em còn
hạn chế.

22


- Trong nghiên cứu khoa học sự độc lập suy nghĩ, sự sáng tạo cá nhân trên
cơ sở tự do tư tưởng sau khi thu thập tài liệu, quan sát thực tiễn, tiến hành thí
nghiệm... là yêu cầu không thể thiếu để dẫn đến sự thành công. Song, trên thực
tế, ở một số chị em, khả năng tư duy lôgíc và khái quát có phần yếu, chưa dám
mạnh dạn nêu lên ý kiến độc lập của mình trong khi đánh giá, tranh luận các vấn
đề khoa học đối với đồng nghiệp.
- Sự cập nhật những thông tin và kiến thức mới là việc làm cần thiết cho
việc nghiên cứu khoa học. Muốn thực hiện được điều đó, đòi hỏi các chị em phải
giỏi ngoại ngữ, phải thông thạo rất nhiều ngoại ngữ, vì đây là điều kiện quyết
định để họ có thể tiếp cận với các tài liệu nước ngoài, tiếp cận với các chuyên
gia... để nâng tầm nhìn của bản thân lên tầng cao mới. Nhiều chị em cũng nhận
thức được điều này nhưng rồi "biết cũng chỉ là biết vậy"!


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status