Vai trò của Phật giáo trong đời sống văn hóa tinh thần Việt Nam - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
===============o0o===============
NGUYỄN THÚY THƠM
(Thích Minh Thịnh) VAI TRÒ CỦA PHẬT GIÁO TRONG ĐỜI SỐNG
VĂN HÓA TINH THẦN VIỆT NAM
(QUA TRIỀU ĐẠI TRẦN)
LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC

Hà Nội 10/2010
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
===============o0o===============
NGUYỄN THÚY THƠM
(Thích Minh Thịnh)

1.1.1. Tiền đề kinh tế - xã hội 7
1.1.2. Tiền đề tư tưởng 14
1.2. Phật giáo triều Trần 31
1.2.1. Đặc điểm của Phật giáo thời Trần 31
1.2.2. Đôi nét về triết học Phật giáo triều Trần. 43
Chương 2: MỘT SỐ ĐÓNG GÓP CỦA PHẬT GIÁO TRONG ĐỜI
SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN VIỆT NAM (QUA TRIỀU ĐẠI
TRẦN: 1225 - 1400) 51
2.1. Đóng góp của Phật giáo trong lĩnh vực văn hóa tư tưởng 56
2.1.1. Phật giáo đối với tư tưởng chính trị 56
2.1.2. Phật giáo đối với văn học nghệ thuật 67
2.2. Đóng góp của Phật giáo đối với văn hóa tín ngưỡng và đạo đức
lối sống 81
2.2.1. Phật giáo đối với văn hóa tín ngưỡng 81
2.2.2. Phật giáo đối với đạo đức, lối sống 95
2.3. Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Phật giáo triều Trần trong
đời sống văn hóa tinh thần Việt Nam hiện nay. 109
KẾT LUẬN 119
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 121
1

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Đời Lý trải qua 215 năm xây dựng và chiến đấu, đã phát huy những
truyền thống của 1000 năm lịch sử trước kia, tạo lập thêm những truyền
thống mới và ngày càng lớn mạnh. Điều đó góp phần giải thích tại sao sang
đời Trần, dân tộc ta lại có thể chiến thắng một cách oanh liệt đạo quân xâm
lược khét tiếng Nguyên Mông. Tất nhiên bên cạnh sức mạnh và lòng yêu
nước của nhân dân thì cũng phải kể đến quyết tâm chiến đấu và tài năng tổ

sánh kịp. Các chùa thuộc hệ thống Trúc Lâm: Vũ Lâm, Lâm Động, Báo Ân,
Sùng Nghiêm. Các chùa, tháp trên núi Yên Tử: Quỳnh Lâm, Thương Hải,
Hồ Thiên, Chân Lạc, Côn Sơn, Phổ Minh
(
1
)
… đều là những thánh tích ăn sâu
vào tiềm thức người dân Việt, là tự tình dân tộc từ bao đời.
Hơn ở đâu hết, do ý chí bất khuất của dân tộc, đạo Phật Việt Nam đã
đào tạo con người tu hành mà không xa đời, vẫn luôn luôn sống vì dân, với
nước. Lời quốc sư Phù Vân khuyên vua Trần Thái Tông mà nhà vua có ghi
lại trong sách “Thiền Tông chỉ Nam” cho ta biết Phật giáo Việt Nam vốn
không tiêu cực và bi quan, trái lại còn lạc quan, tích cực, hòa đồng, nhập
thân với dân tộc trong mọi tình huống để chia sẻ với nhân dân những khổ
đau bị áp bức, niềm vinh quang khi chiến thắng kẻ thù và sự vui sướng khi
quốc thái dân an, phồn vinh hạnh phúc.
Với ý nghĩa đó, việc nghiên cứu “Vai trò của Phật giáo trong đời
sống văn hóa tinh thần Việt Nam (Qua triều đại Trần)” là một vấn đề có
ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách, không chỉ đáp ứng nhu cầu khách
quan, bức thiết của khoa học xã hội nhân văn, mà còn là một nhu cầu thực 1
Tháp Phổ Minh là ngọn tháp duy nhất tại Việt Nam để chôn tro xương của một vị đế vương là Nhân
Tông, đệ nhất tổ của phái Trúc Lâm (Đó là sự dùng tháp chôn Xá Lợi, thay cho Lăng vua).
3

tế. Thế hệ trẻ ngày nay luôn có ý thức tìm hiểu về quá khứ của dân tộc.
Như C.Mác – Ph.Ăng ghen nói: Họ không “sợ sệt cầu viện đến những linh
hồn của quá khứ”[44;145] cũng không phải “mượn tên tuổi, khẩu lệnh

học, Ủy ban Khoa học xã hội; “Thơ văn Lý – Trần” của Viện văn học;
“Văn học đời Trần” của Ngô Tất Tố; “Tư tưởng triết học của Thiền phái
Trúc Lâm đời Trần” của Trương Văn Chung; “Thiền học đời Trần”, “Thiền
học Trần Thái Tông” của Nguyễn Đăng Thục
Ngoài ra, còn có nhiều bài viết công bố trên các hội thảo, các tạp chí:
Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo;Tạp chí Công tác tôn giáo; Tạp chí Cộng sản;
Tạp chí Triết học; Tạp chí Nghiên cứu lý luận; Tạp chí Nghiên cứu Phật
học; Tạp chí Giác ngộ viết về Phật giáo thời Trần ở nhiều góc độ tiếp
cận khác nhau. Hội thảo: “Thân thế và sự nghiệp Trần Nhân Tông: 1258-
1308”, Trường Đại học Khoa học Huế, tháng 12, năm 2003; “Đức vua –
Phật hoàng Trần Nhân Tông cuộc đời và sự nghiệp” (nhân 700 năm ngày
nhập niết bàn: 1308-2008) tại Quảng Ninh
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu kể trên khi nghiên cứu lịch sử
Phật giáo hay vai trò của Phật giáo trong đời sống xã hội Việt Nam một
cách riêng biệt từ nhiều góc độ tiếp cận: văn hóa học, sử học, dân tộc học,
tôn giáo học, triết học mà chưa có công trình nào đề cập một cách hệ
thống về “vai trò của Phật giáo trong đời sống văn hóa tinh thần người Việt
Nam (Qua triều Trần)”. Vì vậy, việc nghiên cứu “Vai trò của Phật giáo
trong đời sống văn hóa tinh thần người Việt (Qua triều đại Trần)”, dưới
góc độ Tôn giáo học, chúng tôi sẽ cố gắng làm sáng tỏ hơn vai trò của Phật
giáo trong đời sống văn hóa tinh thần Việt Nam trên một số phương diện:
Văn hóa tư tưởng; Văn hóa tín ngưỡng và đạo đức lối sống của người Việt
Nam, đề xuất một số kiến nghị nhằm giữ gìn và phát huy những giá trị của
Phật giáo trong đời sống văn hóa tinh thần Việt Nam hiện nay.
5

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở lý luận mác xít về tôn giáo, vai
trò của tôn giáo trong đời sống xã hội, luận văn tìm hiểu về vai trò của Phật
giáo trong đời sống văn hóa tinh thần người Việt Nam.

tín ngưỡng và đạo đức lối sống của người Việt Nam, luận văn chỉ ra những
giá trị văn hóa triều Trần để chúng ta không những phải giữ gìn mà còn
phát huy những giá trị đó trong giai đoạn hiện nay.
7. Ý nghĩa của luận văn
Ý nghĩa lý luận: Trên cơ sở phân tích một số ảnh hưởng của Phật giáo
trong đời sống văn hóa tinh thần người Việt Nam (qua triều đại Trần), ở
một số lĩnh vực: Văn hóa tư tưởng; Văn hóa tín ngưỡng và đạo đức lối
sống của người Việt Nam, đề xuất một số kiến nghị nhằm giữ gìn và phát
huy những giá trị văn hóa Phật giáo triều Trần giai đoạn hiện nay.
Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho công tác
nghiên cứu và giảng dạy về tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng, cho
việc hoạch định chính sách đối với tôn giáo của Đảng và Nhà nước .
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
chính của luận văn gồm 02 chương 05 tiết. 7

Chương 1:
KHÁI QUÁT VỀ PHẬT GIÁO TRIỀU TRẦN

1.1. Những tiền đề của sự tồn tại và phát triển Phật giáo triều Trần
1.1.1. Tiền đề kinh tế - xã hội
Vương triều Trần được thành lập năm 1225 với vua thứ nhất là Trần
Thái Tông (1225-1258). Triều Trần tồn tại 175 năm, trải qua 14 đời vua,
nhưng giai đoạn hưng thịnh nhất của triều Trần về kinh tế, văn hóa, chính

dài nhiều thế kỷ. Đó là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với quân xâm
lược phương Bắc mà cụ thể là quân Nguyên Mông.
Mặt khác, Phật giáo thời Trần phát triển trên cơ sở sự vận động biến
đổi của những nhân tố kinh tế, làm biến đổi kết cấu giai cấp trong xã hội.
Đó là sự phát triển mạnh mẽ của chế độ tư hữu về ruộng đất dẫn đến sự
xuất hiện tầng lớp địa chủ quý tộc trong dòng họ nhà Trần và bộc lộ mầm
mống của những mâu thuẫn mới trong quan hệ giai cấp của chế độ phong
kiến nhà Trần. Phật giáo đã được các vua Trần sử dụng để điều hòa, làm
dịu đi những mâu thuẫn đó. Trong quan điểm nhân sinh, đạo đức của Phật
giáo đã phản ánh khá rõ mục đích này của dòng họ Trần. Chính vì vậy Phật
giáo thời Trần được tạo mọi điều kiện để phát triển, một mặt vừa phản ánh
nhu cầu, khát vọng của dân tộc Việt Nam đang xây dựng, bảo vệ một quốc
gia độc lập, tự chủ và thống nhất; mặt khác, nó là hệ tư tưởng phản ánh nhu
cầu và lợi ích của tầng lớp quý tộc dòng họ nhà Trần, đó là duy trì, củng cố
quyền lực và địa vị thống trị toàn xã hội của dòng họ này trên cơ sở một
quốc gia thống nhất, một chính quyền trung ương tập quyền vững mạnh có
khả năng tập trung toàn bộ nhân lực, vật lực cho hoạt động chính trị và
quân sự.
9

Phật giáo thời Trần phát triển trên cơ sở kinh tế xã hội về cơ bản là
chế độ sở hữu Nhà nước về đất đai thông qua công xã nông thôn.
Thực chất của chế độ sở hữu Nhà nước là quyền sở hữu tối cao về
ruộng đất thuộc về nhà vua, người đứng đầu Nhà nước chuyên chế. Quyền
sở hữu này được hiểu bằng quyền hưởng dụng những sản phẩm thặng dư,
quyền thu địa tô do thần dân cống nạp. Tuy nhiên quyền sở hữu Nhà nước
lại phải thiết lập trên các công xã nông thôn, và điều này được C.Mác bàn
đến khi nói về Phương thức sản xuất Châu Á, chỉ ra sự khác nhau giữa hình
thức sở hữu Nhà nước phong kiến phương Đông và phương Tây. Khác với
phương Tây, ở phương Đông ông cho rằng nhà vua là người nắm quyền sở

nước, nguyên nhân của sự đoàn kết toàn dân để tạo nên các thắng lợi của
Vua Hùng, Bà Trưng, Lý Bôn… cho đến Ngô Quyền, chính là do sự trưởng
thành ý thức ấy, mặc dù chưa thể gọi đó là ý thức trọn vẹn về một quốc gia.
Các vua nhà Trần tỏ ra là đã mặc nhiên cảm nhận được ý thức này và đã có
biện pháp để "kết dính" các công xã nông thôn này thêm bền chặt. Họ đã
tận dụng mối quan hệ thân thuộc, quan hệ dòng họ để củng cố cơ cấu dòng
họ, đồng thời để thống nhất, độc tôn uy lực của vương triều mình. Các con
cháu, anh em tôn thất của nhà Trần được chia điền trang thái ấp mà không
được thành chế độ cát cứ phân phong là do đó. Các điền trang không phá
vỡ làng. Văn hóa làng xã cổ truyền vẫn không ngừng tiếp nối truyền thống
của mình, không gặp trở ngại. Các chủ điền trang thái ấp đều tự giác ý thức
trách nhiệm đối với vương triều, tức là đối với Nhà nước. Bằng chứng hùng
hồn nhất của sự khuôn theo làng xã, tôn trọng văn hóa công xã này là Hội
nghị Diên Hồng nổi tiếng trong lịch sử nước ta. Không phải là các vương
hầu được gọi về Thủ đô để Quan gia tham khảo ý kiến mà phải là các bô lão.
Đặc biệt, khi nói tới văn hóa thời Trần thì không thể bỏ qua văn hóa
Phật giáo. Bởi văn hóa Phật giáo thời Trần mang sắc thái riêng. Khi nhắc
tới Phật giáo thời Trần thì không thể tránh khỏi có sự băn khoăn, vì sao đi
11

theo đạo Phật mà nhà Trần vẫn tiến hành được cuộc chiến tranh, lại tiến
hành một cách thắng lợi? Vì sao đi tu là phải thoát ly, phải diệt dục mà vẫn
cứ có những ông vua, ông tướng với bao nhiêu quyền lợi vật chất không hề
có bóng dáng sắc không, và hầu hết các môn đồ Phật tử dưới thời đại nhà
Trần, lại đều là những con người nhập cuộc. Có lẽ, do các thiền sư, các nhà
vua đời Trần đã có chủ trương xây dựng một thứ tôn giáo riêng của người
Việt Nam, dù đó là tôn giáo Phật. Điều này được thể hiện trong sự hình
thành và phát triển của Trúc Lâm Yên Tử. Tổ Trúc Lâm thứ nhất (Trần
Nhân Tông), là một ông vua gần như hiện thân khác của Tất Đạt Đa ở đất
nước Việt Nam (có đủ xuất xứ, bước đi như Phật Tổ). Phật đã có ở Việt

Những câu thơ như "Hoan Diễn do tồn thập vạn binh", "Vạn cổ thử
giang san" hay bài thơ của Phạm Ngũ Lão đã trở thành châm ngôn, người
không biết chữ Hán cũng hiểu được. Nhất là trong văn hóa dân gian, ta có
thể thấy nhiều sự kiện như Lê Hoàn lập đền thờ Phù Đổng, và sau đó một
loạt những thiên thần, nhân thần được tôn vinh để ta sớm có những cuốn
sách như: "Việt điện u linh", "Lĩnh Nam chích quái". Và nhiều hơn bất cứ
một dân gian lịch sử nào ở nước ta là những giai thoại về các tướng lĩnh đời
Trần. Nhiều mẩu chuyện chung quanh các vị chỉ huy phổ biến là những câu
nói kiên cường, những cử chỉ chứng tỏ tâm hồn, trí tuệ và phong cách như
trường hợp Trần Thủ Độ, Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, những giai
thoại về tinh thần chiến đấu, những mẹo mực tài tình của các trang dũng sĩ
cả miền núi lẫn miền xuôi: Hà Bổng, Hà Đặc, Hà Chương, Nguyễn Thế
Lộc, Trần Khánh Dư, Trần Bình Trọng… Một nét chú ý của kho tàng giai
thoại này là tất cả các câu chuyện đều là chuyện thực trong lịch sử, nhưng
đã trở thành chuyện dân gian không còn nguyên mẫu của nó, thêm bớt mà
đã rất đậm đà chất mộc mạc của dân dã và nét hùng tráng của sử thi như
chuyện xung quanh quả cam của Trần Quốc Toản, chuyện đối đáp ngoại
giao của Lê Đà, Đinh Củng Viên, Trần Khắc Chung, chuyện xông pha tên
13

bom đạn của Lê Phụ Trần. Có cả bài thơ Thuật Hoài bên cạnh chuyện vót
nan đan rổ của Phạm Ngũ Lão. Bên cạnh đó còn có nhiều chuyện vui, có ý
nghĩa giáo dục như chuyện Hoàng Cự Đà không được ăn xoài, ý nghĩa
châm biếm như chuyện giặc Phật, chuyện quấy nhiễu của Phạm Nhan.
Ngoài ra cũng còn phải kể đến một số những câu chuyện thần tích,
hoặc từ một sự thực về sau được tô thêm nhiều nét hoang đường, hoặc có
thể là hoàn toàn hư cấu như những câu chuyện về Lý Phục Man, về Hồi
Thiên thần vương và Trường Tân Nhị tướng (Lý Thạch, Hà Anh), chuyện
của Châu Nương, bà chúa giữ Kho (Hà Nội), chuyện Ngọc Nương, Bảo
Nương (Hải Hưng), bà Thánh Mẫu đền Cờn (Nghệ An), chuyện Bảo Linh

Phật giáo triều Trần, đồng thời cũng từ đây mà Phật giáo triều Trần có
những đặc điểm, sắc thái riêng, làm nền cho Phật giáo Việt Nam sau này.
Tuy nhiên, để nhìn nhận sự phát triển của Phật giáo một cách toàn
diện, khách quan, chúng ta không thể bỏ qua những nền tảng của Phật giáo
dưới các triều đại trước đó, bởi nó là rường cột, mực thước cho sự phát
triển tiếp theo của Phật giáo triều Trần.
1.1.2. Tiền đề tư tưởng
Phật giáo triều Trần phát triển cực thịnh, đánh dấu mốc son vàng
trong lịch sử Phật giáo Việt Nam. Có được điều đó, trước hết Phật giáo
triều Trần đã dung hợp và kế thừa được tinh hoa tư tưởng Phật giáo đời
trước (từ khi du nhập đến triều Lý) để xây dựng và tạo nên bản sắc, đặc
tính riêng của mình khác với Phật giáo trong các giai đoạn trước đó và kể
cả sau này. Sau đó là “tùy duyên”, “nhập thế”, “khế lý”, “khế cơ” phù hợp
với tư tưởng Nhà nước phong kiến Đại Việt.
Bình diện Phật giáo trước triều Trần: Phật giáo truyền vào Việt
Nam từ rất sớm. Theo hiểu biết hiện nay của giới nghiên cứu lịch sử, thì
Phật giáo vào Việt Nam từ những năm đầu Công Nguyên. Chính sử Trung
Quốc cũng đã ghi nhận rằng vào những năm đầu Công Nguyên trong khi ở
15

miền Nam Trung Quốc chưa biết đến Phật giáo thì ở Luy Lâu, còn gọi là
Liên Lâu (thuộc Thuận Thành, Bắc Ninh ngày nay) là Quận trị của Giao
Chỉ (tên của người Hán gọi sau khi xâm lược Nam Việt) đã có một trung
tâm Phật giáo và Phật học khá phồn thịnh, tương đương với trung tâm Lạc
Dương (Lạc Dương là kinh đô của Đông Hán ở phía Nam sông Hoàng Hà,
thuộc tỉnh Nam Hà, Trung Quốc ngày nay) và Bành Thành (Bành Thành là
kinh đô của nước Sở, nằm ở hạ lưu sông Trường Giang, thuộc tỉnh Giang
Tô, Trung Quốc ngày nay). Theo sách “Lý Hoặc Luận” của Mâu Tử thì
cuối thế kỷ II, ở Giao Châu đã có Tăng đoàn đông đến 500 người, trong khi
ở Trung Quốc mãi đến thế kỷ III mới có Tăng đoàn.

Việt Nam. Chi Cương Lương (Kalaruci) hay Chi Cương Lương Lâu Chí
(Kalyanaruci), Hán dịch là Châu Hỷ, người xứ Nhục Chi (Tukhary) đến
Giao Châu (tên của nhà Đông Ngô gọi sau khi chiếm được Giao Chỉ của
Nam Việt) và Quảng Châu tu hành, truyền giáo vào khoảng giữa thế kỷ thứ
III. Ở Giao Châu, Chi Cương Lương được sự giúp đỡ của Đạo Thanh – một
tăng sĩ đất Giao Châu, đã dịch kinh “Pháp Hoa Tam Muội” trong tập “Đại
Thừa Kinh” để giúp đỡ cho việc tu học. Đạt Ma Đề Bà (Dharamadeva),
người Ấn Độ đến Giao Châu vào khoảng nửa cuối thế kỷ V, sau đó sang
Trung Quốc. Tại Việt Nam ông dịch nhiều sách trong đó có quyển “Niết
Bàn luận”.
Thời kỳ này, bên cạnh đa số các nhà truyền giáo là người Ấn Độ thì
cũng đã xuất hiện một số nhà truyền giáo Trung Quốc sang Việt Nam như
Mâu Tử (cuối thế kỷ II), Du Pháp Lan (giữa thế kỷ IV), Du Đạo Toái (giữa
thế kỷ IV), trong đó Mâu Tử là người có ảnh hưởng lớn hơn cả, với bộ sách
lớn mà ông viết về Phật giáo là “Lý Hoặc Luận” (sách gồm 37 câu hỏi và
trả lời, chủ yếu các vấn nạn của những người theo Nho giáo, Đạo giáo về
Phật giáo).
17

Đến thế kỷ V Phật giáo đã được truyền đến nhiều nơi trên đất nước
và đã xuất hiện những nhà sư Việt Nam có danh tiếng như: Huệ Thắng,
Đạo Thiền, Đạo Cao và Pháp Minh… Huệ Thắng (440-479) tu ở núi Tiêu
Châu và trở thành đệ tử của Đạt Ma Đề Bà, sau đó ông được mời sang
Bành Thành, Trung Quốc để thuyết pháp, đóng góp vào quá trình phát triển
Phật giáo ở Trung Quốc. Đạo Thiền (457-527) tu thiền tại núi Châu Sơn, là
người giỏi về Giới luật và giữ gìn đạo hạnh nên có danh tiếng rộng thu hút
được nhiều người tin theo. Chính vì thế mà ông cũng được mời sang Trung
Quốc để giảng về Phật học. Đạo Cao và Pháp Minh là hai nhà sư Việt Nam
sống vào giữa thế kỷ V, tu đắc đạo và nổi tiếng uyên bác với sáu lá thư trao
đổi về Phật pháp và tư tưởng Thiền Tông với sứ quân Lý Miễu người

Nam, còn có các đoàn truyền giáo hoạt động ở Việt Nam. Đoàn thứ nhất
chủ yếu là các nhà sư Trung Quốc, gồm Pháp sư Minh Viễn vùng Ích Châu
(Tứ Xuyên ngày nay), Thiền sư Tuệ Mạng vùng Kinh Châu (Hồ Bắc ngày
nay), Thiền sư Vô Hành vùng Kinh Châu (Hồ Bắc ngày nay); đoàn thứ hai
gồm Pháp sư Đàm Nhuận vùng Lạc Dương (Trung Quốc), Pháp sư Trí
Hoằng vùng Lạc Dương (Trung Quốc), nhà sư Tăng Già Bạt Ma
(Sanghavarma) người Ấn Độ; đặc biệt, đoàn thứ ba gồm sáu nhà sư người
Việt Nam như Thiền sư Kỳ Vân, Pháp sư Giải Thoát, Pháp sư Khuy Sung,
Pháp sư Huệ Diệm, Pháp sư Trí Hành, Thiền sư Đại Thặng Đăng.
Những thế kỷ VI, VII, VIII, Phật giáo ở Việt Nam khá thịnh hành.
Giữa thế kỷ VI, Lý Bí sau khi lên ngôi lấy hiệu Lý Nam Đế đã cho xây
ngôi chùa lớn ở Yên Hoa lấy tên là chùa Khai Quốc. Sau này trở thành một
trung tâm Phật giáo của Thăng Long. Sau đó, nhiều ngôi chùa được xây
dựng ở các châu, các quận, từ Tuyên Quang đến Nghệ An (lúc đó nhà
Đường chia Nam Việt thành 12 châu gọi là An Nam đô hộ phủ - tên gọi An
Nam cũng được gọi từ đây). Đặc biệt thời kỳ này, Phật giáo Việt Nam có
nhiều danh tăng nổi tiếng về con đường tu trì và trình độ Phật học. Trước
19

hết phải kể đến Thiền sư Pháp Hiền (?-626) quê ở Chu Diên, nay thuộc Gia
Lâm Hà Nội. Thiền sư xuất gia tu hành tại chùa Pháp Vân, được Thiền sư
Tỳ Ni Đa Lưu Chi thu nhận làm đệ tử. Sau khi được truyền tâm ấn, Thiền
sư Pháp Hiền đi hoằng hóa thu nhận đệ tử, có đến 300 người được Pháp
Hiền dạy dỗ, giáo hóa. Danh tiếng của Thiền sư Pháp Hiền được sâu rộng
trong quảng đại quần chúng, đến mức thứ sử Giao Châu Lưu Phương và
Pháp sư Đàm Thiên dâng sớ lên vua Tùy Cao Tổ (Trung Quốc) ca ngợi
ông, coi ông là Bồ Tát sống. Ngoài Pháp Hiền, còn có các nhà sư trình độ
Phật học uyên thâm được các vua nhà Đường mời sang thuyết pháp và
xướng họa thi phú với các thi hào Trung Quốc như Pháp sư Phụng Đình,
Pháp sư Duy Giám, Thiền sư Nhật Nam,

Thánh Tông đặt quốc hiệu là Đại Việt. Nhà Lý trải qua 9 triều vua.
Vương triều Lý đã có công làm cho nước Đại Việt trở thành một
quốc gia cường thịnh trong suốt hơn hai thế kỷ. Bộ máy Nhà nước phong
kiến tập quyền được tổ chức hoàn bị từ trung ương tới địa phương. Hình
thư – bộ luật thành văn đầu tiên được công bố. Trong thì ổn định và phát
triển, ngoài thì đánh Tống, bình Chiêm thắng lợi. Đặc biệt với việc dời kinh
đô từ Hoa Lư về Thăng Long (1010), nhà Lý đã mở đầu cho thời kỳ văn
hóa mới của Việt Nam – Văn hóa Thăng Long.
Triều Lý đã mở ra thời kỳ phát triển rực rỡ của Phật giáo Việt Nam.
Vai trò của Phật giáo trong đời sống được thể hiện rất rõ không chỉ trong
đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội mà cả chính trị. Các Thiền sư tham gia cố
vấn chính trị cho các vua được gọi là Quốc sư (Vạn Hạnh, Khô Đầu, Thông
Biện, Viên Chiếu là những Tăng sĩ được ban hiệu Quốc sư). Năm 1010, Lý
Thái Tông lên ngôi đã chọn những người xuất sắc cho đi xuất gia. Năm
1016 ở Kinh đô Thăng Long có tới 1000 người đã được tuyển chọn để xuất
gia là Tăng sĩ và Đạo sĩ. Cuối thời Lý số Tăng sĩ quá nhiều, những tệ lậu đã
nảy sinh, vua Lý Cao Tông đã cho khảo hạch các Tăng quan và sa thải bớt.
21

Dười thời Lý, vua đã sai người sang Trung Hoa lấy kinh Tam Tạng nhiều
lần và cho xây dựng các nhà tàng kinh như Bát Giác, Đại Hưng, Trùng
Hưng, chép và khắc lại kinh.
Và bằng chức năng liên kết xã hội, cố kết nhân tâm con người, các
vua thời Lý đã cùng dân chúng thực hiện theo biện pháp có ý thức là thúc
đẩy sự quảng bá của đạo Phật. Để giữ vững nền độc lập dân tộc cả sự vững
vàng ngôi vị của người cầm quyền phải cần đến một ý thức hệ nối kết con
người vượt trên thói quen, trung thành truyền thống với từng “lãnh tụ địa
phương” đã là mầm mống xung đột căn bản trước đó. Cho nên khi Đinh Bộ
Lĩnh dẹp tan các xứ quân thì ngoài cái uy chuồng cọp, vạc dầu, còn có sự
ủng hộ của tập đoàn Tăng đạo – nhất là Tăng được mời gọi lập thành hệ

của Đại Việt đã chịu ảnh hưởng không nhỏ một nền đức trị của Nho – Phật
giáo. Mặc dù Phật giáo là một tôn giáo xuất thế triết lý đời là bể khổ, nhưng
với tinh thần truyền thống của người Việt thì lại là nhập thế, hình thành nên
tư tưởng đại đoàn kết của nước Đại Việt, cùng chống lại ách áp bức của
dân tộc khác. Điều này được thể hiện trong tư tưởng chính trị của Lý
Thường Kiệt, khi ông thực hiện kế sách “Tiên phát chế nhân” đem quân
tiêu diệt quân thù trước khi chúng tiến vào xâm lược, ông nói: “Chỉ phân
biệt về lãnh thổ quốc gia, không phân biệt nhân dân”. Và trong bài Nam
Quốc Sơn Hà Nam Đế Cư – bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước
Nam, ông đã thể hiện tinh thần đó.
Phật giáo với vị thế trên dưới triều Lý chính đó là nguyên do để các
vua cũng như quân thần thời Lý cùng góp sức đồng lòng, xây chùa với số
lượng tiền rất lớn mà không làm ảnh hưởng đến kinh tế của đất nước. Như
Lê Văn Hưu đời Trần đã chép lại:
“Xây tường cao ngất trời, đẽo đá mà dựng cột chùa, nhà Phật tráng lệ
gấp bội cung vua”.

Trích đoạn Đặc điểm của Phật giáo thời Trần Đôi nét về triết học Phật giáo triều Trần
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status