1
Tiểu luận Vai trò của phật giáo trong gia đình,
dòng họ, làng xã Việt Nam cổ truyền
2
1Quá trình truyền bá phật giáo vào Việt Nam
Phật giáo truyền vào nước ta từ rất sớm. Đạo phật truyền sang nước ta do
Tùy là thời nhà Đường đô hộ nước ta không cho mở mang dân trí. Giới trí
thức bị đàn áp. Vì vậy cho nên các chùa trở thành các trung tâm văn hóa, và
những người giỏi nhất ở trong nước là các thầy. Giới trí thức lãnh đạo trong
nước là các thầy. Nếu trong nhân gian không có trường học thì các thầy mở
trường dạy học. Nói là dạy phật pháp nhưng thực chất là dạy văn hóa, dạy
chữ nghĩa. Nếu trong nhân gian không có bệnh xá thì, thầy thuốc, thì các
thầy học thuốc và trị bệnh cho nhân gian. Thành ra chùa chiền vừa là trường
học, vừa là nhà thương. Nhà thương ở đây hiểu theo nghĩa là thương yêu
đùm bọc.
- Thiền phái thứ hai do thiền sư Trung Quốc Vô Ngôn Thông người Quảng
Châu lập nên năm 820 tại chùa Kiến Sơ (Bắc Ninh), truyền được 17 đời.
- Vào thời nhà Lý có nhà sư Thảo Đường người Trung Quốc vốn là tù binh
bi bắt tại Chiêm Thành, được vua Lý Thánh Tông giải phóng và cho mở đạo
trường tại chùa Khai Quốc, lập nên dòng thiền thứ 3, truyền được 6 đời. Do
thiền phái này theo thiên hướng tri thức và văn chương nên ít có chổ đứng
trong lòng nhân dân.
Đến thời kì nhà Trần. Thấy được việc thống nhất giang sơn về một mối để
dể dàng trong việc cai trị và xây dựng đất nước vua Trần Thái Tông đã
thống nhất các thiền phái trước kia để cho ra đời một thiền phái duy nhất, đó
4
là thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Việc ra đời của thiền phái Trúc Lâm có ý
nghĩa rất lớn, phạt giáo trong giai đoạn này được xem như là tư tưởng của
đất nước nên việc thống nhất các thiền phái lại với nhau là cần thiết. Nó đáp
ứng nhu cầu của lịch sử dân tộc ta, cần phải có một tư tưởng riêng biệt của
Đại Viêt.
Tiếp đến là vai trò của Trần Nhân Tông, ông có vai trò rất lớn, ông là người
khai sáng thiền phái Trúc Lâm. Thiền phái Trúc Lâm ra đời mang màu sắc
rất riêng cho phật giáo Việt Nam, Thiền phái Trúc Lâm cho rằng “ bất cứ ai
cũng có thể trở thành Phật ngay giữa cuộc đời trần thế này, không phân biệt
tại gia hay xuất gia, không phân chia đại ẩn hay tiểu ẩn, tùy vào thành phần
tình bằng nghĩa, sống thánh thiện hơn, tránh làm điều ác. Phật giáo len lõi
vào đời sống thường nhật của bộ mặt làng xã. Giúp con người có niềm tin
vào cuộc sống, con người tin rằng “ở hiền thì sẽ gặp lành”, sống tốt thì phật
sẽ phù hộ độ trì. Thứ ba Vai trò của phụ nữ được nâng lên trong xã hội. Đối với tư tưởng Nho
giáo thì quyền lợi của người phụ nữ ở làng xã không có. Điển hình như ở
Đình làng, người phụ nữ không được phép đặt chân đến, không được phép
tham gia bất kì hoạt động nào của làng. Còn đối với ngôi chùa làng thì đây là
nơi sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của mọi người, phụ nữ được tham gia và
hầu như là đóng vai trò rất quan trọng tại đây. Chỉ có ở chùa thì họ mới có
tiếng nói, có được sự giải thoát về tình thần.
6
Thứ tư Trước kia chùa làng không những là nơi để người dân thờ phật, mà
nó còn là nơi chữa bệnh, dạy học cho người dân…Các thầy ngày xưa học
theo phật không những truyền dạy phật pháp cho người dân mà họ còn dạy
văn hóa, họ chữa bệnh cho những người trong làng, dần dần nó hình thành
nên mối liên hệ rất gần gũi giữa đời sống nhân dân với phật giáo. Và chùa
làng trở thành nơi sinh hoạt văn hóa của người dân trong làng.
Thứ năm Con người ai ai cũng luôn mong muốn được bình yên, sức khỏe,
mọi điều tốt đẹp sẽ đến với họ và họ tìm đến đạo phật tìm đến chùa để cầu
may mắn cho mình, cầu duyên phận, cầu đảo, cầu siêu…và cái hình thái này
nó dần dần phát triển và thể hiện qua hình thức mà ngày nay vẫn còn đó là
người ta thường cúng cầu siêu cho linh hồn người đã khuất được siêu thoát,
hoặc là khi gặp chuyện xui xẻo thì người ta thường tổ chức cúng cầu đảo để
mong cho tai qua nạn khỏi. Khi người dân cần thì đạo phật lại đáp ứng cái
nhu cầu đó, các nhà sư sẽ tham gia cúng cho người dân.
Thứ sáu Trong mỗi gia đình, dòng họ thì đạo phật đóng vai trò rất quan