Bài giảng Gia đình, dòng họ, làng xã Việt Nam cổ truyền - Pdf 27


Nguyễn Thị Vĩnh Linh Năm 2012
1

Gia đình, dòng họ, làng xã Việt
Nam cổ truyền


hóa dòng họ, văn hóa làng xã Việt Nam. Bên cạnh đó, trang bị cho sinh viên nhân
sinh quan và thế giới quan đúng đắn góp phần ngăn chặn nguy cơ bị “hòa tan mất
bản sắc văn hóa dân tộc”. Đây là những kiến thức chuyên ngành vô cùng cần thiết
cho những sinh viên Việt Nam học nói riêng và những người yêu thích nghiên cứu
về văn hóa làng xã Việt Nam nói chung để các chúng ta nhận thức đầy đủ về văn hóa
Việt Nam và tinh hoa của nền văn hóa ấy được thể hiện dưới hình thức văn hóa làng
xã Việt Nam cổ truyền.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích
- Giúp cho sinh viên hiểu được những nét cơ bản về văn hóa gia đình Việt Nam
truyền thống cũng với sự tồn tại vững chắc của dòng họ trong các làng xã Việt Nam
cổ truyền. Thông qua các kiến thức được tiếp nhận các em thấy được văn hóa gia

Nguyễn Thị Vĩnh Linh Năm 2012
3

đình, dòng họ, văn hóa làng là những thành tố quan trọng góp phần tạo nên bản sắc
văn hóa Việt Nam.
- Nội dung văn hóa gia đình, dòng họ, văn hóa làng có thể được nghiên cứu
thông qua các bình diện như văn hóa xã hội, văn hóa tư tưởng và văn hóa nghệ thuật.
Ở mỗi bình diện lại có nhiều hiện tượng văn hóa khác nhau. Có cái đã trở thành biểu
trưng mang giá trị truyền thống nhất định. Đây là một vấn đề khoa học rất lý thú
nhưng cũng rất phức tạp. Vì thế thông qua chuyên đề này, sinh viên sẽ được trang bị
một hệ thống kiến thức có bản, các khái niệm, thuật ngữ liên quan đến gia đình,
dòng họ, làng xã Việt Nam truyền thống. Thông qua đó bồi dưỡng cho các em tinh
thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc. Đây là những điều kiện hết sức cần thiết để các
em có định hướng đúng đắn cho cách sống và sự lựa chọn nghề nghiệp của bản thân.
Chuyên đề cũng nhằm giúp các em bồi dưỡng năng lực tư duy phân tích, so
sánh, đối chiếu và bước đầu bồi dưỡng năng lực nghiên cứu khoa học trong sinh
viên.

4. Cấu trúc chương trình
Ngoài lời mở đầu, môn học được chia làm 6 chương với thời lượng giảng dạy 4
tín chỉ. Trong đó:
CHƯƠNG 1: GIA ĐÌNH, DÒNG HỌ, LÀNG XÃ VIỆT NAM CỔ TRUYỀN –
NHỮNG VẤN ĐỀ KHÁI QUÁT
CHƯƠNG 2: GIA ĐÌNH, DÒNG HỌ, LÀNG XÃ VIỆT NAM CỔ TRUYỀN -
NHỮNG VẤN ĐỀ VĂN HÓA XÃ HỘI
CHƯƠNG 3: GIA ĐÌNH, DÒNG HỌ, LÀNG XÃ VIỆT NAM CỔ TRUYỀN -
NHỮNG VẤN ĐỀ VĂN HÓA TINH THẦN
CHƯƠNG 4: GIA ĐÌNH, DÒNG HỌ, LÀNG XÃ VIỆT NAM CỔ TRUYỀN -
NHỮNG VẤN ĐỀ VĂN HÓA VẬT CHẤT
CHƯƠNG 5: GIA ĐÌNH, DÒNG HỌ, LÀNG XÃ VIỆT NAM CỔ TRUYỀN -
NHỮNG VẤN ĐỀ VĂN HÓA NGHỆ THUẬT
CHƯƠNG 6: VĂN HÓA LÀNG XÃ VIỆT NAM CỔ TRUYỀN - HỘI NHẬP
VÀ PHÁT TRIỂN
Ôn tập và kiểm tra 4 tiết
5. Tài liệu tham khảo chính
1. Toan Ánh (1992), Nếp cũ làng xóm Việt Nam, NXB Tp Hồ Chí Minh
2. Huỳnh Công Bá (2008), Lịch sử văn hóa Việt Nam, NXB Thuận Hóa
3. Huỳnh Công Bá (2008), Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB Thuận Hóa.
4. Vũ Ngọc Khánh (2004), Làng cổ truyền Việt Nam, NXB Thanh Niên, Hà
Nội.
5. Vũ Ngọc Khánh (2007), Nghiên cứu Văn hóa cổ truyền Việt Nam, NXB
Giáo dục, Hà Nội

Như vậy, Gia đình: là một tổ chức cơ sở gồm những người liên kết với nhau
bằng huyết thống và nghĩa tình. Hai vợ chồng tuy không cùng huyết thống nhưng
được liên kết với nhau bằng sợi dây tình nghĩa. Tổ chức ấy có mục đích thiêng liêng
là xây dựng cho cơ sở đất nước một tổ ấm cả về tinh thần và về vật chất để giáo dục
con cái, đóng góp và giữ gìn văn hóa dân tộc
1.1.2 Dòng họ
Dòng họ xét về mặt vật chất, là chỉ một tập hợp người cùng một huyết thống. Ở
xã hội loài người sự sinh sôi, nảy nở dùng để duy trì nòi giống được định hướng đến
sự ra đời những thế hệ sau khỏe mạnh, ưu tú và ngày càng phát huy được cao nhất trí
sáng tạo. Điều đó, được thể hiện như những nét văn hóa, chẳng hạn như việc cấm
kết hôn trong cùng dòng máu, cấm mọi hành vi loạn luân.

Nguyễn Thị Vĩnh Linh Năm 2012
6

Đối với mỗi dòng họ, chúng ta thấy được sự cố kết huyết thống được thể hiện
trong các cây phả hệ. Tất cả được duy trì một cách có quy tắc nghiêm ngặt trong các
xưng hô - ứng xử; và các dòng họ đã văn bản hóa cách thức ứng xử đó bằng cuốn
gia phả dòng họ. Cũng từ gia phả, các nhà thờ họ - từ đường ra đời nhằm duy trì tập
tục và truyền thống của từng họ.
Nhiệm vụ của dòng họ là làm sao duy trì và tạo lập cho các thế hệ tiếp sau có
cuộc sống lành mạnh, ổn định lâu dài. Vai trò của dòng họ đối với từng gia đình
cũng như đối với mỗi thành viên trong dòng tộc có ý nghĩa giáo dục quan trọng. Tự
hào về dòng họ sẽ góp phần nuôi dường lòng tự hào dân tộc. Cho nên có thể nói, văn
hóa dòng họ là vấn đề rất thiêng liên trong tâm thức mỗi người dân Việt Nam.
1.2 Thuật ngữ làng, xã, văn hóa làng
1.2.1 Làng (Nôm):
- “Làng”, như nhiều học giả đã xác nhận, đó là từ thuần Việt. Đây là điều thật
đáng lưu ý. Khác với xã, thôn là những từ Hán - Việt, làng có cội nguồn từ chính đời
sống Việt Nam và được biểu đạt trong ngôn ngữ thuần Việt.

- Là một thiết chế xã hội của nông thôn Việt, có cơ cấu tổ chức phong phú
nhưng chặt chẽ, có tính cộng đồng và tự trị cao, làng Việt ở mặt trái, mang tính khép
kín, bản vị. Song nó lại chính là nơi lưu giữ, bảo vệ một thứ văn hoá làng chống lại
sự xâm lăng, đồng hoá của văn hoá ngoại lai. Làng Việt và văn hoá làng Việt đang là
vấn đề rất thú vị cho những ai quan tâm, nghiên cứu nó.
- Tuy thế, ở nước ta, không phải bất kỳ đâu, làng Việt cũng có đặc điểm và tính
chất giống hệt nhau. Nhiều nhà nghiên cứu khảo cổ học, folklore học, tâm lý dân tộc
học… qua quá trình điền dã và thẩm định đã cho thấy rằng: làng Việt ở Bắc - Trung
- Nam bộ có những đặc điểm khác nhau trên cơ sở những cái giống, cái chung. Tính
chất và đặc điểm đại đồng, tiểu dị này ngày càng được khẳng định không chỉ về mặt
lý thuyết, mà còn ở thực tiễn nữa.
1.2.2 Xã
- Đây là từ gốc Hán - Việt, từ nguyên có nghĩa là “nền đất để tế thần (thời
thượng cổ, cư dân một vùng thường tập hợp lại hàng năm làm lễ tế thần đất trên một
cái nền). Lâu dần thuận tiện trong giao dịch, người ta gọi khu vực đó là “xã” [18;
752]. Qua quá trình phát triến, xã đã trở thành đơn vị hành chính thấp nhất và là đơn
vị hành chính cấp cơ sở của nhà nước phong kiến ở các vùng nông thôn Việt Nam
thời xưa. Trong khi làng là địa điểm tụ cư một cách tự nhiên của người dân Việt thì
xã lại là đơn vị hành chính do chính quyền phong kiến lập nên bao gồm nhiều làng
để tiện cho việc tổ chức, quản lý cư dân. Như vậy, làng là yếu tố cấu thành của xã.
Đối với những xã lớn gồm nhiều làng và trong xã người ta thường chia thành các
thôn và do đó làng ở đây được xem là tương đương với thôn. Cho nên, trong khi
làng thiên về làng xóm, tình cảm thì thôn mang tính chất hành chính nhiều hơn. Ở
những làng lớn khi chuyển sang hệ thống hành chính cơ sở của nhà nước phong kiến
thì làng được mang tên là xã. Trong trường hợp này thì làng tương đương với xã
nhưng cách thức sử dụng các từ ngữ này có sự khác nhau trong sắc thái ngữ nghĩa,
xã được dùng với ý nghiã hành chính và được ghi vào sổ sách nhà nước, còn làng
mang tính chất truyền thống thiên về khía cạnh tình cảm.
- Như vậy, về phương diện hành chính, xã là thiết chế có tính chất pháp lý. Còn
đối với người dân, người nông dân bình thường của hàng bao thế kỷ, thì người ta chỉ

khác nhau. Chính vì thế, văn hóa làng là cái gì đó rất riêng nhưng cũng rất chung
trong khuôn khổ của nền văn hóa dân tộc Việt Nam. Cái chung là hằng số nông
nghiệp lúa nước lâu đời, là hằng số văn hóa làng - nước, cái riêng trong văn hóa làng
thể hiện ở những tập tục riêng, những lễ hội riêng, cách thức ứng xử riêng. Nhưng
từng cái riêng ấy hòa vào kho tàng văn hóa dân tộc làm nên bản sắc văn hóa của dân
tộc Việt, cũng như tính phong phú và đa sắc thái của nền văn hóa ấy.
1. 3 Quá trình ra đời và phát triển gia đình, dòng họ, làng xã Việt Nam
1.3.1 Lịch sử gia đình Việt Nam
Cho đến hiện nay, chúng ta vẫn chưa có đầy đủ tài liệu để hình dung chính xác
về thời điểm xuất hiện gia đình trong lịch sử Việt Nam. Chúng ta chỉ có thể rút ra

Nguyễn Thị Vĩnh Linh Năm 2012
9

một số nhận định ban đầu như sau. Người Việt vào lúc khởi đầu chỉ biết mẹ mà
không biết cha, hoặc dấu ấn của cha rất mờ nhạt. Sách Lĩnh nam chích quái ghi lại
rằng khi dân chúng bị loài thủy quái phá phách cũng chỉ biết kêu lên: ”bố ơi về cứu
chúng con” (ở đây ám chỉ Lạc Long Quân). Vào những thế kỷ tiếp theo, quan niệm
về gia đình trở nên khá sâu sắc. Đặc biệt từ thế kỷ XV trở đi, cùng với việc xác lập
xã hội phong kiến tôn sùng nho học thì gia đình Việt Nam đã được ổn định và có
đầy đủ nề nếp, truyền thống gia đình với 3 loại gia đình chính: gia đình bình dân, gia
đình kẻ sĩ và gia đình quý tộc.
- Gia đình bình dân
Loại gia đình này chiếm số đông trong xã hội, là những người nông nghiệp, thủ
công và các ngành nghề, các tầng lớp khác. Trên lý thuyết, những gia đình này phải
tuân theo các phép tắc Nho gia, nhưng trong thực tế họ đã vận dụng chúng theo
phương thức riêng trên cơ sở lớp văn hóa bản địa và lịch sử hàng ngàn năm.
Trong gia đình này, mọi thành viên được phân công lao động nhịp nhàng,
không tán thành chế độ đa thê, sống hòa thuận và biết nhường nhịn lẫn nhau, dây
cũng là nét đẹp trong văn hóa gia đình Việt cổ truyền.

tịch từng cá nhân và gia đình. Rồi từ "sổ bộ", mỗi gia
đình lập một sổ riêng, ghi chú
tất cả những việc cưới hỏi, sinh đẻ và tang ma. Ðó là nguồn gốc của gia phả.

- Cách đặt tên họ của người Việt: "Họ" theo nghĩa gốc có liên hệ với nhà và
dưới chế độ phong kiến, nối kết con người với đất ruộng: một mái nhà, một gia đình,
một họ. Họ và tên của một người định vị trí của cá nhân người đó trong xã hội, xác
định cá thể trong một toàn thể.
Họ tên của người Việt thông thường gồm có theo thứ tự: họ, chữ lót hoặc tên
đệm, và tên gọi.
Số họ người Việt rất hạn chế, có khoảng 140 họ khác nhau. Do đó có thành ngữ
"trăm họ" (bách tính, còn đọc là "bá tánh") thời xưa thường dùng để chỉ dân chúng
cả nước. Những họ Việt Nam thường gặp nhất là Nguyễn, Phạm, Phan, Trần, Lê,
Vũ/Võ, Trương, Huỳnh/Hoàng. Nhiều người mang cùng một họ không có nghĩa là
họ có cùng một gốc gác. Thời xưa và nhất là ở nhà quê, người ta phân biệt nhau
bằng cách gọi "họ Nguyễn làng Tiên Ðiền", "họ Nguyễn làng Tây Sơn", v.v. Trong
nhiều làng thôn, tất cả mọi người cùng mang một họ. Có người cắt nghĩa là vì vào
thời lập quốc, người Việt chỉ có một tổ tiên chung là Lạc Long Quân và Âu Cơ. Ðến
thời hiện đại, những người Việt này chứng minh mỗi dòng họ một tổ tiên riêng.
Từ khi bị người phong kiến phương Bắc đô hộ, người Việt chính thức theo chế
độ phụ hệ, do đó con cái phải lấy họ cha. Theo dân luật, con phải lấy họ cha, không
có vấn đề tự do lựa chọn. Họ không thể cho người ngoài họ dùng và trên nguyên tắc
không thể thay đổi. Trong một số trường hợp có cả họ kép. Ða số người Việt mang
một họ trong số 16 dòng họ đã từng cai trị lẫy lừng trong lịch sử. Theo thứ tự niên
đại, đó là những họ Thục, Trưng, Triệu, Mai, Khúc, Lý, Phùng, Kiều, Ngô, Ðinh,
Lê, Trần, Hồ, Mạc, Trịnh và Nguyễn. Hoặc họ là con cháu thật sự của những dòng
họ kể trên, hoặc họ xử dụng như mượn họ hoặc bị bắt buộc mang những họ đó
nhưng khác họ thật.
- Một số trường hợp thay đổi họ: Có gia đình tự ý đổi lấy họ đương triều để
chứng tỏ sự trung thành. Có người do nhà vua ban cho như Nguyễn Trãi có lúc đổi

định cư để tiến hành các hoạt động trồng trọt và chăn nuôi thì do quá trình định cư
đó dần dần ra đời các địa điểm cư trú của người nông dân cùng khai thác đất đai tại
một địa phương để sinh sống. Cũng từ đó mà xóm và làng được hình thành. Từng
nhóm cư nông đã quần tụ thành từng cư điểm ngoài trời. Những cư điểm này thường
được thiết lập trên những gò, đồi thấp, chân núi, doi đất giữa vùng đất trũng, bên
những dòng sông và đầm hồ…Các cư điểm này có quy mô rất khác nhau, có cư
điểm rộng hàng vạn mét vuông và tồn tại hàng ngàn năm. Do nhu cầu hợp tác để tiến
hành các hoạt động trị thủy, thủy lợi mà mà các xóm làng ở phương Đông cũng như
ở Việt Nam đã liên kết với nhau hình thành nên một tổ chức đứng bên trên điều
khiển các công việc chung là nhà nước. Từ khi nhà nước ra đời thì làng xóm vốn là
những đơn vị tụ cư làm nông nghiệp của người nông dân đã biến thành những đơn vị

Nguyễn Thị Vĩnh Linh Năm 2012
12
hành chính cơ sở của nhà nước mà ở Việt Nam đó là các kẻ, chiềng, chạ… Sang thời
Bắc thuộc, các kẻ, chiềng, chạ tiếp tục là những đơn vị tụ cư của người dân. Thế
nhưng, để có thể quản lý chặt chẽ hơn và dễ dàng thực hiện chính sách đồng hóa,
phong kiến Hán tộc đã đặt bộ máy cai trị cấp cơ sở là xã. Nhà Đường còn chủ trương
phân loại xã thành tiểu xã có từ 10 đến 30 hộ và đại xã từ 40 đến 60 hộ. Như vậy, xã
là đơn vị hành chính cơ sở do giai cấp phong kiến phương Bắc du nhập vào xã hội
nước ta nhưng thực tế đã cho thấy nhà Đường đã không thể biến các kẻ, chạ của
người Việt thành những đơn vị xã của chúng. Nhưng đến khoảng cuối thời Bắc
thuộc, một tên gọi mới dùng để gọi những đơn vị tụ cư cơ bản của người Việt Nam
là làng đã ra đời thay thế cho các tên kẻ, chiềng, chạ.
- Sau ngày đất nước giành được độc lập, trong cải cách hành chính của mình
Khúc Hạo cho đặt đơn vị xã làm đơn vị hành chính cơ sở của Tĩnh hải quân tiết trấn
và cũng từ đó trở đi xã trở thành đơn vị hành chính cơ sở chủ yếu của nhà nước
phong kiến. Bên cạnh đơn vị hành chính cơ sở - xã, thì triều đại còn quy định về tên
gọi của đơn vị hành chính cơ sở ở những khu vực đặc biệt với các tên: sách, động,
nguyên, trường, sương…Dưới thời Minh thuộc nhà Minh cho đổi tên gọi là lý.

Lâu dần, ngữ nghĩa được mở rộng, có thể gọi là kẻ biển, kẻ rừng, kẻ quê và cũng có
khi được ghép vào với tên riêng để trở thành làng.
- Những địa điểm tụ cư như vậy, dần dần có thêm nhiều biến đổi: có thể do chỗ
ở dần dần được mở rộng mà các làng có vị trí cách xa nhau, do môi trường thiên
nhiên ở mỗi làng không giống nhau; do khả năng nghề nghiệp và thói quen sinh hoạt
mà có thêm nhiều đơn vị khác nằm trong vùng quê ấy, hoặc sẽ tách riêng ra. Trường
hợp này làm xuất hiện các phường. Những vùng đất còn giữ được tên phường hiện
nay đều cho thấy chúng ở ven sông, ven biển, hoặc gần nơi đô hội, hoặc là chỗ có
nghề thủ công. Phường như vậy cũng là một kiểu làng: nơi kinh đô có phố phường,
vùng biển có vạn, phường. Bên cạnh đó, phường còn có nghĩa hẹp chỉ một nhóm
người cùng làm chung một công việc. Ví dụ như phường cấy, phường bát âm…
- Hoặc là những đơn vị, do một người khởi xướng, tìm được đất để làm ăn, sinh
sống, kéo thêm cả họ vào. Cũng có thể là một liên minh gia tộc cùng quây quần lại
để gắn bó và bảo vệ lẫn nhau. Trường hợp này làm xuất hiện các xá, các làng thôn.
Loại xá này có trường hợp thành lập muộn, có trường hợp không do sự khai khẩn
ban đầu mà do những nguyên nhân chiếm lĩnh khác. Tiếp đó, có thể có nhiều họ
khác đến cộng cư, nhưng vẫn thừa nhận cái tên do dòng họ khai khẩn đầu tiên đặt ra.
- Hoặc là những vùng đất do nhà vua lấy để ban cho những người trong hoàng
tộc hay những quan lại có công với đất nước như thái ấp, lộc điền theo chế độ ân
sủng của triều đình phong kiến. Có vùng, người được hưởng lộc chỉ lấy hoa lợi, vì
đã có dân cư rồi (La Sơn Phu Tử nhận lộc thuế làng Nguyệt Ao do vua Quang Trung
ban). Có vùng, viên quan chỉ cắm ruộng (Lê Phụng Hiểu thời nhà Lý được hưởng
ruộng Thác đao điền). Nhưng nhiều người nhất là dưới thời Lý - Trần, đã thành lập
các trang trại, thái ấp đưa họ hàng, gia nhân, binh lính đến sinh sống lâu dài. Những
địa điểm như vậy gọi là điền trang hay trang trại. Hết thời hạn ban thưởng, những
điền trang trên được trả về quyền quản lý của các phủ, huyện và trở thành làng. Như
vậy, trang và làng ban đầu khác nhau, nhưng sau đó thì đồng nhất thành một.

Nguyễn Thị Vĩnh Linh Năm 2012
14

hình vành khăn từ chân đồi lên lưng chừng đồi và phân bố lẻ tẻ, tản mác, xen kẽ với
ruộng đồng… Mỗi làng, xóm, ngõ có cuộc sống tương đối riêng.
+ Tổ chức làng theo huyết thống (gia đình), dòng họ. Ngoài các gia đình nhỏ,
gia đình hạt nhân, dòng họ có vị trí và vai trò quan trọng trong làng Việt, là chỗ dựa
vật chất, và chủ yếu là tinh thần cho gia đình; có tác dụng trong định canh và xây
dựng làng mới, như là trung tâm của sự cộng cảm trong các gia đình đồng huyết…

Nguyễn Thị Vĩnh Linh Năm 2012
15
Có làng gồm nhiều dòng họ, có làng chỉ một dòng họ và khi ấy làng và dòng họ (gia
tộc) đồng nhất với nhau. Điều đáng lưu ý là mức độ liên kết huyết thống trong phạm
vi làng Việt là hết sức rạch ròi, chi li với những tên gọi cụ thể (cố - cụ - ông - cha -
bản thân - con - cháu - chắt - chút…)
+ Tổ chức làng theo nghề nghiệp, theo sở thích và lòng tự nguyện (Phe - Hội,
Phường nghề…). Mỗi làng có thể có nhiều Phe (một tổ chức tự quản dưới nhiều
hình thức câu lạc bộ): Phe tư văn quan trọng hơn; nhiều Hội: hiếu hỷ, mua bán,
luyện võ, tập chèo, đấu vật… các Phường nghề: mộc, nề, sơn, thêu, chèo, rối…
+ Tổ chức làng theo lớp tuổi (truyền thống nam giới): tổ chức giáp, hiện rất mờ
nhạt. Đây là môi trường tiến thân theo tuổi tác, tổ chức dành riêng cho nam giới, phụ
nữ không được vào. Bé trai mới lọt lòng được vào giáp ngay, được lên đinh, ngồi
chiếu giữa làng, được nâng dần địa vị, được lên lão… Nói chung, giáp gắn chặt với
làng.
+ Tổ chức làng theo cơ cấu hành chính: Làng có khi gọi là xã (có xã gồm nhiều
làng), có khi gọi là thôn (khi nhất xã nhất thôn). Tiêu chuẩn để phân định rõ nhất là
chính cư và ngụ cư (nội tịch và ngoại tịch) một cách rất rành mạch, nhiều khi cực
đoan. Tuy nhiên, có một điều mở là dân ngụ cư có thể chuyển thành chính cư khi có
điền có điền sản và sống (cư trú) ở làng 3 đời trở lên. Dân cư trong làng được phân
thành nhiều hạng, cơ bản là các hạng: chức sắc (đỗ đạt hoặc có phẩm hàm vua ban);
chức dịch (có chức vụ trong bộ máy hành chính); lão, đinh, ty ấu, người già, trai
đinh, trẻ con (trong các giáp)…

tằm hoặc có khá nhiều trường hợp tên làng được đặt theo niềm ước vọng của cư dân
về một cuộc sống ấm no, hạnh phúc… như Bình, An, Lộc, Phú, Thọ…
Thông qua việc nghiên cứu tên làng có thể phát hiện nhiều thông tin cần thiết
về nguồn gốc, đặc điểm, chế độ sở hữu ruộng đất…Tên làng đã gắn bó chặt chẽ với
đời sống vật chất, tinh thần, tâm tư tình cảm, niềm kiêu hãnh, tự hào của người dân
địa phương.
1.3.3.5 Phân loại làng xã
- Phân loại về mặt hình thể:
+ Loại làng ăn theo chiều dài: đây là những làng nằm dọc sông hoặc dọc trục lộ.
+ Loại làng nằm rải rác: đây là những làng cư trú thành từng cụm nhỏ.
+ Loại làng tựa ven đồi: Đây là những làng nằm tựa theo chân các đồi núi.
+ Loại làng hình vành khăn: phân bố quanh chân một ngọn đồi.
+ Loại hình thủy cơ: sống cư trú trên mặt nước không có hình thể cố định.
- Phân loại dựa trên tiêu chí về địa hình, lịch sử, văn hóa:
+ Loại làng ở đồng bằng Bắc bộ và Bắc Trung bộ.
+ Loại làng ở đồng bằng duyên hải Trung bộ.
+ Loại làng ở đồng bằng Nam bộ.
+ Loại làng ở miền núi.
+ Loại làng thủy cơ.
- Dựa trên tiêu chí về nghề nghiệp kinh tế:
+ Loại làng thuần nông.
+ Loại làng nghề.
+Loại làng buôn.
- Dựa trên tiêu chí về văn hóa:

Nguyễn Thị Vĩnh Linh Năm 2012
17
+Loại làng cổ.
+ Loại làng văn hiến: ra đời từ lâu, có nề nếp, truyền thống, có nhiều thiết chế
văn hóa về mặt vật thể. Hiện nay vẫn còn có những thiết chế trở thành những di sản,

chừng.
- Cây đa đầu làng:

Nguyễn Thị Vĩnh Linh Năm 2012
18
+ Từ bao đời nay, mỗi người Việt đều coi mái đình, cây đa như một biểu tượng
của làng quê truyền thống. Ý nghĩa biểu tượng đầu tiên của cây đa là sự trường tồn,
sức sống dẻo dai. Không phải ngẫu nhiên mà những bậc cao niên, những người có
vai vế trong làng được xem là "cây đa, cây đề", biểu tượng cho sức làm việc quên
mình, dẻo dai, cho sự tích lũy kiến thức phong phú.
+ Cũng với ý nghĩa trường tồn ấy, cây đa xuất hiện trong ca dao như một nhân
chứng của thời gian, chứng kiến những sự đổi thay của con người, của đất trời, đôi
khi là cả một vòng đời người.
“Trǎm nǎm dầu lỗi hẹn hò
Cây đa bến cũ con đò khác đưa.
Cây đa cũ, bến đò xưa
Bộ hành có nghĩa nắng mưa cũng chờ”
Như vậy, cây đa luôn là biểu tượng đẹp với hầu hết các ý nghĩa chuẩn mực của
biểu tượng: vừa hiện hữu, vừa tiềm ẩn, huyền bí, vừa mang hơi thở cuộc sống, vừa
mang đậm yếu tố tâm linh. Phải chǎng chính sự kết hợp này đã tạo nên biểu tượng
cây đa có sức sống bền lâu trong vǎn học dân gian, vǎn thơ bác học và trong tâm hồn
mỗi con người Việt Nam.
- Đường làng( Đường công hương):
- Cổng phụ:
- Xóm: Đó là những tập hợp gia đình cư trú, nhỏ hơn và nằm bên trong làng xã,
xóm chính là phân thể của làng nhưng xóm vẫn có một đời sống riêng dựa trên quan
hệ cộng cảm giữa những người sống gần nhau và được bảo hộ bởi thần xóm. Người
ta xây dựng miếu xóm làm nơi thờ tự thần xóm.
- Ngõ: Là một đơn vị của xóm, một xóm có thể bao gồm nhiều ngõ, mỗi ngõ
tính theo một con đường nhỏ ăn từ đường lối xóm đi vào. Ngõ cũng được tổ chức

Ngôi đình làng Việt Nam cổ kính, trang nghiêm, ẩn mình sau luỹ tre xanh mướt
là một tác phẩm nghệ thuật của con người hoà nhập trong làng quê.
- Chùa làng: Cũng là một yếu tố có mặt trong hầu hết các làng xã được phản
ánh qua câu nói cửa miệng của người dân: “đất của vua, chùa của làng”. Đó là nơi
thờ Phật cũng là nơi sinh hoạt hội hè của dân làng. Chùa làng thường được xây dựng
ở nơi phong cảnh thanh tịnh, nơi gò cao trong làng.
- Các cơ sở nghè, đền, miếu: Là nơi thờ chính thức các vị thần trong làng, được
xây dựng gần đình làng, cũng có khi được đặt rải rác trong làng.
- Chợ làng: Nhắc đến văn hoá làng xã người ta không thể không nhắc tới chợ
làng. Quả thật một phần đời sống của những người dân quê được khắc hoạ qua sự
phát triển của chợ làng. Ngoài ý nghĩa trao đổi mua bán, chợ làng còn là nơi để thăm
hỏi, mời gọi, nói chuyện con trâu, cái cày, chuyện ruộng, vườn, đồi núi Tất cả cứ
ồn ã, xôn xao và đậm đà tình làng, nghĩa xóm. Bởi thế, người xưa đã từng ao ước:
"Muốn cho gần chợ mà chơi
Gần sông tắm mát, gần nơi đi về".
- Cánh đồng làng: từ những cánh cổng phụ của làng nhìn ra, người ta thấy cánh
đồng làng rộng bát ngát với những thửa ruộng nối liền bờ, tùy theo từng tháng trong

Nguyễn Thị Vĩnh Linh Năm 2012
20
năm mà đây là những ruộng lúa chín vàng hay những ruộng mạ. Đây chính là nguồn
sống chủ yếu của dân làng.
Ngày nay, do tình hình biến đổi và nhất là tác động của công cuộc công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nên diện mạo các làng xã đã có những đổi thay không còn đầy đủ
các diện mạo như trên.

CÂU HỎI THẢO LUẬN VÀ ÔN TẬP
1. So sánh nét tương đồng và dị biệt trong hai khái niệm “làng”, “xã”?
2. Chế độ quân điền thời nhà Lê tác động như thế nào đến quá trình thành lập
làng xã ?

đề một cách nhanh chóng và chính xác.
Tổ chức thảo luận, cho SV phát huy tối đa năng lực và khả năng dẫn dắt, giải
quyết vấn đề.
2.1 Gia phong
2.1.1 Nguồn gốc triết lý gia phong
- Tâm lý cội nguồn: Dân tộc nào trên thế giới cũng đều mang trong mình
những đặc trưng văn hóa riêng đáng tự hào. Người Việt từ khi mới lập quốc, trải qua
hàng ngàn năm lịch sử đã tự tạo dựng cho mình bản sắc không thể hòa lẫn – bản sắc
văn hóa Việt Nam. Trong đó, người Việt luôn tự hào về truyền thống gia đình, gia
tộc và làng xã đều cùng chung một gốc. câu truyện Lạc Long Quân và Âu Cơ cho
thấy cách nhìn nhận của người Việt cổ về nguồn gốc dân tộc mình. “Đồng bào” –
cùng chung một bọc. Chình vì thế, nước non cũng chính là một đại gia đình mà
trong đó mọi thành viên cùng sinh sống hoàn thuận, cùng giúp đỡ và yêu thương lẫn
nhau.
- Xuất phát từ quan niệm về gia đình như thế, mà trong văn hóa người Việt, có
những đặc điểm mà không có bất kỳ một dân tộc nào khác trên thế giới có. “Rồng”
một linh vật siêu thực là cha. Vì thế khắp nơi trên đất nước Việt Nam đâu đâu cũng
có rồng: Rồng bay ở Thăng Long, rồng xuống ở Quảng Ninh, rồng xanh ở Nghệ An,
rồng vàng ở Phủ Lý,…Để rồi từ đó, khi tiếp nhận văn hóa Trung Hoa, vua – người
đứng đầu nhà nước lấy biểu tượng của rồng.
- Từ tâm lý tự hào về nguồn gốc dân tộc Việt, mà người Việt luôn có ý thức về
sự tồn tại của bản thân mình và dòng giống mình. Cho nên, quan niệm “con đàn,

Nguyễn Thị Vĩnh Linh Năm 2012
22
cháu đống” tượng trưng cho sự xum tụ, yên vui. Và người Việt luôn muốn dòng tộc
của mình được duy trì mãi mãi và trường cữu với thời gian.
- Cuộc sống tâm linh: nằm trong khuôn khổ của văn minh phương Đông với
hằng số là nền văn minh nông nghiệp lúa nước, người Việt có đời sống tín ngưỡng
vô cùng phong phú. Trên cơ sở tín ngưỡng bản địa đa thần, người Việt đã tiếp nhận

+ Đạo cũng chỉ vào nghề nghiệp của gia đình.

Nguyễn Thị Vĩnh Linh Năm 2012
23
+ Đạo cũng là danh dự, nề nếp, truyền thống của một gia đình.
+ Đạo cũng là bổn phận, trách nhiệm của từng thành viên trong gia đình. Nhà
có gia đạo, nghĩa là những người trong gia đình cần nhận thức về vị trí, trách nhiệm
của mình trong gia đình để sống và ững xử sao cho có tình, có nghĩa, có trước, có
sau.
- Gia đạo cũng đồng thời là đạo của dân tộc, của Tổ quốc Việt Nam như nhà thơ
Nguyễn Đình Chiểu đã viết “Dù đui mà giữa đạo nhà
Còn hơn có mắt ông cha không thờ
Dù đui mà khỏi danh nhơ
Còn hơn có mắt ăn nhơ tanh rình”
(Ngư tiều vấn đáp)
2.1.2.3 Gia pháp
- Gia pháp là những quy tắt, lề luật quy định mà những thành viên trong gia
đình phải tuân thủ và thực hiện để tôn trọng sự tôn ty trật tự trong gia đình, giữ gìn
sao cho gia đình được nghiêm minh, vững bền và tiến bộ.
- Người phạm vào gia pháp có thể phải chịu các hình phạt sau đây:
Bị trách cứ: phải đứng nghiêm trước bàn thờ gia tiên để sám hối, quỳ lạy các
bậc tôn trưởng để xin thứ lỗi
Đánh đòn
Đuổi ra khởi nhà, khỏi họ…
- Gia pháp là những quy tắt đặc biệt vì dù không thành văn nhưng hoàn toàn
nhận được sự nhất trí chung của tất cả mọi người trong gia đình. Giữ gìn gia pháp là
giữ gìn nếp nhà, đạo nhà, lệ làng, luật nước.
2.1.2.4 Gia lễ
* Cần hiểu rõ gia lễ trên hai khía cạnh:
- Sự gìn giữ lễ nghĩa của một gia đình: Đó là vấn đề giáo dục, nhắc nhở con cái

vì nước quên thân, xông pha chống giặc. Đó là những nhà có gia phong tốt.
2.2 Tộc phả
2.2.1 Quá trình hình thành
- Tộc phả (gia phả) là một cuốn lịch sử chung của gia tộc. Nó không những ghi
chép lại nguồn gốc của gia tộc, quỹ đạo di chuyển, còn bao gồm toàn bộ quá trình
lịch sử văn hóa như: kế tục nòi giống, văn hóa, quy tắc, quy ước của gia tộc…oại xâ
- Phả hệ truyền miệng chính là hình thức tồn tại đầu tiên của gia phả. Chức
năng đầu tiên của nó là xác định quan hệ thân sơ, tập hợp họ hàng, ưu hóa sự sinh để
được gọi là thân thân dĩ tương cập.
- Gia phả viết của từng tộc họ có thể cho ta biết nguồn gốc tộc họ, nguyên nhân
di dời, nguồn gốc phả hệ. Thông qua đó, tìm hiểu tổ tiên, nhận tổ tông, gắn bó họ
hàng và gia đình làm thành quần thể xã hội. Vậy gia phả viết được hình thành từ khi
nào?
- Theo phỏng đoán của các nhà sử học thì việc ghi chép sổ điền để nhà vua
kiểm ra nhân khẩu có thể là nguồn gốc dẫn đến sự ra đời của gia phả. Ý kiến khác lại
cho rằng, gia phả có nguồn gốc ở Trung Quốc chỉ xuất hiện tại Việt Nam thời kỳ Sĩ
Nhiếp làm thái thú ở Giao Chỉ hoặc gần hơn thời Lý Nam Đế (476 – 545), nhưng
phải đến thời Lý – Trần cùng với hàng loạt chiến công hiển hách của cha ông trong

Nguyễn Thị Vĩnh Linh Năm 2012
25
chống giặc ngoại xâm đem lại cho đất nước thời kỳ ổn định tương đối lâu dài thì gia
phả mới có điều kiện xuất hiện.
- Lúc đầu, chỉ có gia phả trong hoàng tộc và các gia tộc quan lại. Nhà Lý có
Hoàng Triều ngọc điệp, nhà Trần có Hoàng tông ngọc điệp, nhà lê có Hoàng Lê
ngọc phả….Bên cạnh đó là gia phả của các danh gia vọng tộc, sau đó lan rộng ra
tầng lớp bình dân. Đại thể có thể chi làm 3 thời kỳ: quý tộc, sĩ tộc và bình dân
2.2.2 Nội dung của gia phả
- Nguồn gốc và quá trình phát triển của họ: chúng ta biết rằng nguồn gốc họ của
người Việt Nam có từ rất lâu đời, nếu không có sự ghi chép từ các sách cổ hoặc gia


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status