KHOA KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO VÀ SỰ ẢNH
HƯỞNG ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN
NGƯỜI VIỆT NAM
Năm 2016
MỤC LỤC
MỤC LỤC..........................................................................................................................................2
1. Lý do chọn đề tài..........................................................................................................................3
2. Đối tượng nghiên cứu của đề tài.................................................................................................3
3. Phương pháp nghiên cứu của đề tài...........................................................................................3
Chương 1: TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO.........................................................................4
1.1 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển Phật giáo...............................................................4
1.2 Nội dung tư tưởng triết học Phật giáo ......................................................................................6
1.2.1 Thế giới quan Phật giáo......................................................................................................6
1.2.2 Nhận thức luận Phật giáo....................................................................................................9
1.2.3 Nhân sinh quan Phật giáo.................................................................................................13
Chương 2: ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN
HÓA TINH THẦN NGƯỜI VIỆT NAM............................................................................................17
2.1 Sơ lược sự hình thành và phát triển Phật giáo Việt Nam.......................................................17
2.2 Những ảnh hưởng của Phật giáo đến đời sống văn hóa tinh thần của người Việt Nam.......19
2.2.1 Những ảnh hưởng tích cực...............................................................................................19
2.2.2 Những ảnh hưởng tiêu cực...............................................................................................25
2.3 Kế thừa những gia trị tích cực của Phật giáo trong xây dựng đời sống văn hóa tinh thần
người Việt Nam .............................................................................................................................27
KẾT LUẬN......................................................................................................................................29
phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử,
đồng thời kết hợp với một số phương pháp nghiên cứu khoa học khác như phương
pháp: Phân tích tổng hợp, đối chiếu so sánh, hệ thống hoá, diễn dịch, quy nạp...để
nghiên cứu, phân tích và trình bày đề tài.
Chương 1: TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO
1.1 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển Phật giáo
Phật giáo là một trào lưu triết học xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ VI trước
Công nguyên. Người sáng lập ra Phật giáo tên là Siddharta (Tất Đạt Đa), họ là Gôtama,
dòng họ này thuộc bộ tộc Sakya. Ông là thái tử con vua Tịnh Phạn, vua một nước
nhỏ ở Bắc Ấn Độ lúc đó (nay thuộc đất Nepal) sáng lập.
Ông sống trong cung điện suốt thời thơ ấu, nhưng khi thành niên ông đã khám
phá những sự việc bên ngoài cung thành. Trên đường phố nọ, ông thấy một người
bệnh, một lão già, và một xác chết, khiến cho ông suy nghĩ về bản chất khổ đau của
cuộc đời. Khi nhìn thấy một vị khất sĩ thong dong tự tại, ông quán xét đến khả tính
giải thoát khỏi vòng luân hồi. Và vì vậy, năm hai mươi chín tuổi, ông rời hoàng cung,
rũ bỏ trang phục hoàng gia, và thực hành đời sống của một vị khất sĩ thong dong.
Ông đã tham học với các vị đạo sư lớn của thời đại ông và thông đạt những kỹ
thuật thiền định của họ nhưng khám phá ra rằng chúng không đưa tới giải thoát. Trải
qua 6 năm ông thực hành khổ hạnh nghiêm khắc trong rừng, nhưng rồi nhận thấy rằng
sự hành hạ thân xác không thuần hóa được tâm, nên ông tu theo con đường trung đạo
giữ gìn thân thể khỏe mạnh cho lợi ích của việc tu tập tâm linh mà không phóng túng
chạy theo các tiện nghi không cần thiết.
Ngồi dưới gốc cây bồ đề nơi mà ngày nay là Bồ Đề Đạo Tràng (Bodhgaya) tại
Ấn Độ, ông nguyện không đứng dậy cho đến khi đạt thành giác ngộ viên mãn. Vào
đêm trăng tròn tháng tư âm lịch, ông đã hoàn thành tiến trình tẩy trừ tất cả vô minh và
phát triển tất cả thiện pháp, và ông đã trở thành đức Phật giác ngộ hoàn toàn. Lúc đó
Kyrgyzstan, Kazakhstan, phía Bắc Nội Trung Hoa, Mãn Châu, Siberia và vùng Kalmyk
thuộc Mông Cổ gần biển Caspian, thuộc phần Châu Âu của nước Nga.
Sự lan rộng của đạo Phật ở hầu hết Châu Á đã diễn ra một cách an hòa, theo
nhiều cách. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã lập ra tiền lệ. Trước tiên, là một vị thầy,
ông đã đến các vương quốc lân cận để chia sẻ sự hiểu biết sâu sắc của mình với
những ai có lòng quan tâm và muốn học hỏi. Tương tự như thế, ông chỉ thị các tăng sĩ
của ông đi khắp nơi để giải thích những giáo huấn của mình. Ông không kêu gọi
người khác chỉ trích và từ bỏ tôn giáo của họ hay cải đạo theo đạo mới, vì ông không
tìm cách thiết lập tôn giáo riêng của mình. Ông chỉ cố gắng giúp người khác vượt qua
sự bất hạnh và khổ đau mà họ đang tạo ra cho chính mình, vì thiếu sự hiểu biết. Các
thế hệ môn đồ sau này nhận nguồn cảm hứng từ tấm gương của đức Phật và họ chia
sẻ với người khác các phương pháp của ông mà họ thấy mang lại lợi lạc cho đời sống
của họ. Đây là cách mà cái được gọi là “đạo Phật” hiện nay đã lan rộng và xa như thế
nào
1.2 Nội dung tư tưởng triết học Phật giáo
1.2.1 Thế giới quan Phật giáo
Quan điểm về thế giới quan của Phật giáo được thể hiện tập trung ở nội dung
của ba phạm trù là: vô thường, duyên và vô ngã.
Vô thường, tiếng Phạn là Anitya, hàm nghĩa sự biến chuyển, thay đổi, không cố
định. Tất cả mọi sự vật, hiện tượng trên thế gian đều vô thường. Nói cách khác, sự
vật không bao giờ đứng yên hoặc mang tính đồng nhất bất biến mà luôn vận động, lưu
chuyển. Từ sơn hà, đại địa cho đến cỏ cây, hạt bụi và cả thân tâm con người luôn biến
đổi, không bao giờ cố định và phải chịu sự tác động của vô thường. Không chỉ trong
thế giới vật chất mà ngay cả trong thế giới tâm thức, vô thường vẫn luôn hiện hữu.
Con người, theo Phật giáo, là hợp thể của năm uẩn. Trong đó, phần thân thể vật
nhất đều không thoát khỏi sự chi phối của nhân duyên: cái nhân(hetu) nhờ có cái duyên
(prattiya) mới sinh ra mà thành quả (phla). Qủa lại do cái duyên mà thành ra nhân khác,
nhân khác lại nhờ có duyên mà thành ra quả mới… Cứ thế, nối tiếp nhau vô cùng, vô
tận mà thế giới, vạn vật muôn loài cứ sinh sinh hóa hóa mãi theo quy luật nhân quả.
Nhân là năng lực phát sinh, duyên là lực hỗ trợ cho nhân phát sinh. Như cây lúa thì hạt
lúa là nhân, nước, ánh sáng mặt trời, công cày bừa gieo trồng là duyên. Nhân duyên đó
hội họp sinh ra cây lúa. Tất cả mọi hiện tượng đều nương nhau mà hành động. Nói
nương nhau có nghĩa là sự vật tác động, kết hợp, chi phối, ảnh hưởng lẫn nhau mà
thành. Đó là nhân duyên. Nhân nào quả ấy. Con người do nhân duyên kết hợp và được
tạo thành bởi hai thành phần: thể xác và tinh thần. Hai thành phần ấy là kết quả hợp
tan của Ngũ Uẩn. Hai thành phần tạo nên Ngũ Uẩn, do nhân duyên hợp thành. Mỗi con
người cụ thể có danh sắc(nâmasuna), Duyên hợp Ngũ Uẩn thì là ta, duyên tan Ngũ
Uẩn thì không còn ta, là diệt. Nhưng không phải là mất đi mà trở lại với ngũ uẩn.Ngay
các yếu tố của ngũ uẩn cũng luôn biến hóa theo quy luât nhân quả không ngừng.
Vô ngã (Anatma) là giáo lý đặc thù của Phật giáo. Giáo lý này là hệ quả của quá
trình quan sát một cách sâu sắc nguyên lý duyên khởi. Với quan điểm vô thường, chúng
ta thấy được sự vận động trong tự thân của sự vật và toàn thể. Nếu nhìn sâu hơn
qua lăng kính duyên khởi, ngoài sự vận động thì bản chất của sự vật luôn mang tính
không đồng nhất. Mỗi sự vật, hiện tượng đều do các điều kiện, nhân duyên kết hợp,
tương tác lẫn nhau mà tạo thành, do vậy tuyệt nhiên không có tính chủ thể, đồng nhất,
bất biến trong nó. Vì thế, Phật dạy: “Các pháp vô ngã”.
Khi thấy một chiếc lá vàng rơi, bình thường ta chỉ biết đó là chiếc lá vàng
nhưng nếu nhìn sâu thì trong chiếc lá kia có những khoáng chất của đất, có ánh sáng
mặt trời, có nước từ những đám mây, có gió của bầu trời… và có cả một chút bâng
khuâng của lòng người. Như thế, chiếc lá kia được tạo thành từ những yếu tố không
phải là chiếc lá, trong nó có đầy đủ cả vũ trụ. Từ chiếc lá xanh, theo thời gian chuyển
qua lá vàng, đó là sự vận động vô thường, nhưng dù là lá xanh hay vàng thì trong bản
chất của chúng cũng do những yếu tố không phải lá tạo thành (duyên khởi), chiếc lá
Lục căn là đối tượng trong khách thể nhận thức (gọi là Cảnh) gồm Lục trần: sắc,
thanh, hương, vị, xúc, pháp. Khi Lục căn gặp Lục trần trong quá trình nhận biết thì
Phật giáo gọi là Lục nhập. Sự gặp gỡ của Lục căn và Lục trần trong quá trình nhận
biết sinh ra cái biết, gọi là Thức, mà trước hết gồm có Lục thức: Nhãn thức, Nhĩ thức,
Tỷ thức, Thiệt thức, Thân thức và Ý thức. Theo đó:
Nhãn căn lấy sắc trần làm đối tượng, có thể phát sinh ra Nhãn thức.
Nhĩ căn lấy thính trần làm đối tượng, có thể phát sinh ra Nhĩ thức.
Tỷ căn lấy hương trần làm đối tượng, có thể phát sinh ra Tỷ thức.
Thiệt căn lấy vị trần làm đối tượng, có thể phát sinh ra Thiệt thức.
Thân căn lấy xúc trần làm đối tượng, có thể phát sinh ra Thân thức.
Mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi..., tác dụng thấy, nghe, ngửi ấy là Thức. Mỗi thức
có một tác dụng riêng, thức là một tác dụng vô hình, vô tướng. Thức ở đâu cũng có và
ở đâu có căn và có cảnh thì tác dụng ấy có thể được biểu hiện.
Phân biệt thuần tuý của năm thức ấy là một phân biệt bằng trực giác, nên không
phải là một phân biệt có tính cách suy tầm, đắn đo. Phân biệt suy tầm đắn đo là phân
biệt của thức thứ sáu tức ý thức rộng lớn vô cùng. Đối tượng của ý thức là Pháp trần
sinh ra các tư tưởng. Khi thức này hợp tác cùng năm thức trước thì đối tượng tổng hợp
của nó là ngũ trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc).
Nếu năm căn trước (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân) có quan năng phát sinh mang hình
chất thì năng lực thứ sáu (ý) có quan năng phát sinh không mang hình chất gọi là Mạt
na (Mạt na thức). Phân tích các tác dụng của Mạt na, Phật giáo chia ra, Mạt na sinh ra
cái biết (phân biệt) mang tính gián đoạn (biết khi tỉnh, không biết khi ngủ) gọi là Ý
thức, Mạt na có tác dụng chấp ngã, tức chấp có. Mạt na chấp cái biết của bảy năng
lực trên đây và trở thành kho chứa của bảy thức gọi là Alaya thức (Tàng thức).
Cái mà thức thứ bảy (Mạt na) chấp làm bản ngã là một phần của thức Alaya.
Thức này là tất cả, là chỗ chứa đựng tất cả các hình ảnh do bảy thức trước khảm
nhập vào, do đó dường như không để mất đi một hình ảnh nào.
Như vậy, khi bàn về lý tám thức sẽ là những căn cứ xuất phát để đi vào làm rõ
Nhận thức theo Tỷ lượng có hai loại, đó là Chân tỷ lượng và Tợ tỷ lượng.
Chân tỷ lượng có nghĩa là ý thức hiểu biết chính xác về tính chất, giá trị và ý
nghĩa của vạn pháp hiện có mặt trong thế gian bằng sự suy luận và diễn giải. Những
hiện tượng ảnh tử do năm thức đầu cung cấp đều phát sinh từ nơi những sự vật có
thực chất trong thế gian nên gọi là chân và ý thức hiểu biết đúng những hiện tượng
ảnh tử đó bằng sự suy luận và diễn giải nên gọi là Chân tỷ lượng.
Nếu Chân tỷ lượng là sự hiểu biết chính xác về tính chất, giá trị và ý nghĩa của
ý thức thứ sáu về vạn pháp hiện có mặt trong thế gian bằng sự suy luận và diễn dịch
thì Tợ tỷ lượng là việc ý thức nhớ lại (hồi tưởng) và so sánh những quá trình nghiệm
sống của mình để hiểu biết tính chất, ý nghĩa và giá trị từng loại trong cuộc đời.
Những quá trình nghiệm sống nói trên đã được đúc kết lại thành những hạt giống và
cũng đã được tàng trữ trong thể thức Alaya. Khi muốn nhớ lại thì ý thức phải nhờ thức
Mạt na mang những hình ảnh của hạt giống này từ trong thể thức Alaya đưa lên để
trình diện cho ý thức thứ sáu so sánh. Sự so sánh này của ý thức để hiểu biết được gọi
là Tợ tỷ lượng, vì những hình ảnh đem so sánh này có phần không thực chất và cũng
không giống những sự vật hiện tượng có mặt trong thế gian.
Hình thái nhận thức thứ ba trong triết học Phật giáo gọi là Phi lượng. Thực ra,
đây không phải là một hình thái nhận thức độc lập với hai hình thái nhận thức trước.
Hiện lượng và Tỷ lượng có khi đúng và cũng có khi sai, mà mỗi khi sai thì đều là Phi
lượng. Hiện lượng mà sai thì không phải là Chân hiện lượng mà là Tợ hiện lượng. Tỷ
lượng mà sai thì không phải là Chân tỷ lượng mà là Tợ tỷ lượng. Tợ ở đây là có vẻ
giống như cái đó nhưng thực ra không phải là cái đó. Chẳng hạn, khi ta đi trong đêm tối
mà nhận lầm sợi dây làm con rắn thì đó là Tợ hiện lượng; còn khi suy diễn sai một
điều gì chẳng hạn thì đó là Tợ tỷ lượng.
Như vậy, Phi lượng là sự xét đoán của Tỷ lượng và Hiện lượng nhưng sai lầm,
không đúng sự thật. Đây thường là sự hiểu biết của thức Mạt na, một sự nhận thức
bằng tưởng tượng, nhận biết mang tính chất so đo, chấp trước. Sự xét đoán, so lường
của Mạt na thức thường chấp trước những điều không đúng chân giá trị của hiện
với sự rèn luyện, tu dưỡng đời sống đạo đức của con người, đời sống mà trong đó con
người hoàn thiện và làm giàu sinh hoạt tinh thần của mình.
1.2.3 Nhân sinh quan Phật giáo
Từ một vũ trụ quan căn cứ trên những thuyết nhân duyên sinh, thuyết sự vật
duyên khởi,... chúng ta sẽ tìm hiểu về những quan niệm của đạo Phật về vấn đề nhân
sinh quan. Ở đây chúng ta sẽ lần lượt trả lời các câu hỏi:
Có phải cuộc sống chỉ toàn là đau khổ? Và vấn đề giải thoát trong đạo
Phật là gì?
Con người là gì? Từ đâu mà sinh ra? Chết rồi đi đâu? Vị trí của con người
trong đạo Phật.
Quan niệm của Phật về các vấn đề: bình đẳng, tự do, dân chủ....?
Trước khi trả lời các câu hỏi trên chúng ta sẽ tìm hiểu và phân tích Tứ diệu đế
vì đây là giáo lý kinh điển của Phật giáo bao quát toàn bộ các vấn đề trên
Đầu tiên, thể hiện trong thuyết Tứ diệu đế, tư tưởng giải thoát Phật giáo có
xuất phát điểm từ nỗi khổ của cuộc sống con người. Theo quan điểm của Phật giáo,
thì ngay việc con người sinh ra và tồn tại thì con người lại càng rơi vào vô minh, rơi
vào những ảo tưởng giả tạo. Chính vì thế nhiệm vụ và mục đích tối cao của sự giải
thoát chính là xóa bỏ sự vô minh của con người để đạt tới sự giác ngộ với cái tâm sáng
tỏ, có thể nhận ra chân bản tính của mình và thực tướng của vạn vật. Có vậy mới dập
tắt được ngọn lửa ái dục, thoát ra mọi khổ não của cuộc đời để đạt đến cõi Niết bàn
(Nirvana). Vì vậy, mà đức Phật đã đưa Khổ đế thành chân lý thứ nhất. Triết lý của
đạo Phật khẳng định thực tại nhân sinh là khổ. Phật đã nói trong kinh Chuyển Pháp
Luân rằng: Sinh là khổ, lão là khổ, bệnh là khổ, tử là khổ, oán tăng hội khổ, thụ biệt ly
khổ, thụ ngũ uẩn khổ, sở cầu bất đắc khổ.
1. Sinh khổ: đã có sinh là có khổ vì đã sinh nhất định có diệt, bị luật vô thường
chi phối nên khổ.
2. Lão khổ: người ta mong muốn trẻ mãi nhưng cái già theo thời gian vẫn cứ
nỗi khổ triền miên trong đời. Cùng với “Nhân duyên khởi”, đức Phật đưa ra thuyết
“Thập nhị nhân duyên” để giải thích căn nguyên nổi khổ ấy, cùng với đó cũng vạch ra
mối liên hệ của nghiệp từ quá khứ tới hiện tại, rồi từ hiện tại tới tương lai. Mười hai
duyên đó là: vô minh, hành, thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thụ, aí, thủ, hữu, sinh, lão tử.
Mười hai duyên này nối tiếp nhau, chúng liên hệ và chuyển hoá cho nhau, chúng vừa là
“nhân” vừa lại là “quả” của nhân.
Thứ ba, để con người có thể được giải thoát khỏi bể khổ thì phải diệt khổ, đó
chính là mục đích tối cao của sự giải thoát. Chân lý tối cao mà đức Phật đưa ra đó là
diệt đế. Phật Tổ nói rằng: “Đó là sự xa lánh trọn vẹn, là sự tận diệt chính cái ái dục
ấy. Đó là sự rời bỏ, sự khước từ, sự thoát ly và sự tách rời ra khỏi tâm ái dục. Đó là
chân lý cao thượng về sự diệt khổ” , để đạt tới trạng thái Niết bàn; Niết bàn được
xem là trạng thái tuyệt đối: trạng thái không tịch, diệt trừ mọi danh sắc, cảm giác, ý
thức, trạng thái diệt mọi ái dục, vô vi, thanh tịnh, là hoàn thiện, vĩnh hằng, bất tử…
Chính vì thế mà Long Thọ Bồ Tát đã viết: “Niết bàn là ngừng định, ngừng hết tư
tưởng vô và hữu, sắc và không” .
Thứ tư, để thực hiện được mục đích và lý tưởng giải thoát, để đạt tới trí tuệ bát
nhã, Phật giáo đưa ra thuyết về Đạo Đế. Đạo đế là quan điểm về con đường, cách
thức hay phương pháp giải thoát của đạo Phật. Trong đó, con đường trung đạo như đã
nói ở trên với thuyết tiêu biểu là “Bát chính đạo”. Tám con đường đó là:
1. Hiểu biết nhận thức đúng đắn (Chính kiến).
2. Suy nghĩ chân chính (Chính tư duy).
3. Hành động , làm việc chân chính (Chính nghiệp).
4. Chỉ nói những điều hay, đúng (Chính ngữ).
5. Sống một cách trung thực (Chính mệnh).
6. Cố gắng vươn lên theo con đường chân chính (Chính tịnh tiến).
7. Suy nghĩ chính pháp, gạt mọi tà niệm (Chính niệm).
8. Chuyên chú vào con đường chân chính để giác ngộ (Chính định).
Cùng với tám con đường này, đức Phật đưa ra những phương pháp thực hành tu
Cũng do Phật giáo đã được truyền trực tiếp từ Ấn Độ vào Việt Nam ngay từ
đầu công nguyên nên từ Buddha tiếng Phạn đã được phiên âm trực tiếp sang tiếng
Việt thành Bụt. Phật giáo lúc này mang màu sắc Tiểu thừa Nam tông. Và trong con mắt
của người Việt Nam nông nghiệp, Bụt như một vị thần luôn có mặt ở khắp nơi, sẵn
sàng xuất hiện cứu giúp người tốt và trừng trị kẻ xấu. Sau này, sang thế kỷ IV – V, lại
có thêm luồng Phật giáo Đại thừa Bắc tông từ Trung Hoa tràn vào. Chẳng mấy chốc,
nó đã lấn át và thay thế luồng Nam tông có từ trước đó. Từ Buddha vào tiếng Hán
phiên âm thành Phật; từ đây từ Phật dần dần thay thế cho từ Bụt: Bụt chỉ còn trong các
quán ngữ với nghĩa ban đầu (ví dụ: Gần chùa gọi Bụt bằng anh), hoặc chuyển thành
nghĩa ông tiên trong các truyện dân gian (như Tấm Cám).
Từ Trung Hoa, có ba tông phái Phật giáo được truyền vào Việt Nam: Thiền
tông, Tịnh Đồ tông, Mật tông.
Thiền tông là tông phái phật giáo do nhà sư Ấn Độ Bồđềđạtma
(Bodhidharma) sáng lập ra ở Trung Quốc vào đầu thế kỷ VI. “Thiền” (rút gọn của
Thiềnna, phiên âm Hán – Việt từ Dhiana tiếng Sanscrit nghĩa là “tĩnh tâm”) chủ trương
tập trung trí tuệ suy nghĩ (thiền) để tự mình tìm ra chân lý. Thiền tông Việt Nam luôn
đề cao cái Tâm. Phật tại tâm, tâm là niết bàn, là Phật. Quốc sư Yên Tử nói với Trần
Thái Tông: “Núi vốn không có Phật, Phật ở tại tâm, tâm lặng lẽ sáng suốt ấy là chân
Phật”. Tu theo Thiền tông đòi hỏi nhiều công phu và khả năng trí tuệ, do vậy chỉ phổ
biến ở giới trí thức thượng lưu, cũng nhờ họ ghi chép lại mà nay ta được biết về lịch
sử Thiền tông Việt Nam khá rõ
Khác với Thiền tông, Tịnh Độ tông chủ trương dựa vào sự giúp đỡ từ bên ngoài
để cứu chúng sinh thoát khổ. Đó là việc họ hướng đến một cõi niếtbàn cụ thể gọi là
cõi Tịnh Độ (=yên tĩnh, trong sáng), được hình dung như một nơi Cực Lạc do đức Phật
Adiđà (Amitabha = vô lượng quang) cai quản. Đó còn là việc bản thân họ cần thường
xuyên đi chùa lễ Phật, thường xuyên tụng niệm danh hiệu Phật Adiđà. Hình dung cụ
thể về niết bàn là để có đích mà hướng tới; còn tượng Phật và niệm danh Phật là để
thường xuyên nhớ đến những lời dạy của Người mà ráng làm theo. Nhờ cách tu đơn
học thức và đạo đức cho coi chùa, song vì vua mất sớm nên việc này ít thu được kết
quả.
Đến thế kỷ XX, đứng trước trào lưu Âu hóa và những biến động do sự giao lưu
với phương Tây mang lại, phong trào chấn hưng Phật giáo được dấy lên, khởi đầu từ
các đô thị miền Nam. Những năm 30, các hội Phật giáo ở Nam Kỳ, Trung Kỳ và Bắc
Kỳ lần lượt ra đời với những cơ quan ngôn luận riêng. Cho đến nay, Phật giáo là tôn
giáo có số lượng tín đồ đông nhất ở Việt Nam
2.2 Những ảnh hưởng của Phật giáo đến đời sống văn hóa tinh
thần của người Việt Nam
2.2.1 Những ảnh hưởng tích cực
2.2.1.1 Ảnh hưởng của Phật giáo đến đạo đức lối sống của người Việt
Nam
Đạo Phật đồng hành với dân tộc Việt Nam, từ khi du nhập vào Việt Nam đến
nay đã 2000 năm lịch sử, nên có thể xem nó như một phần tài sản văn hóa dân tộc.
Trong quá trình phát triển tại Việt Nam, đạo Phật không chỉ đơn thuần chuyển tải
niềm tin của con người mà còn có vai trò góp phần duy trì đạo đức xã hội nơi trần thế.
Ngoài những điểm phù hợp với tình cảm đạo đức lối sống của con người, Phật giáo
còn được thể hiện thông qua tình cảm, tín ngưỡng, niềm tin và giáo lý. Do đó, tình cảm
đạo đức Phật giáo được người Việt tiếp thu, tạo thành đức tin thiêng liêng bên trong và
chi phối hành vi ứng xử của họ trong các quan hệ cộng đồng. Do tuân thủ những điều
răn dạy về đạo đức của Phật giáo, người Việt đã sống và ứng xử đúng đạo lý, góp
phần làm cho xã hội ngày thêm tốt đẹp. Đạo đức Phật giáo thông qua những giáo luật,
giáo lý và các giá trị, chuẩn mực đã đi vào cuộc sống của người dân Việt Nam. Sự ảnh
hưởng của Phật giáo đến đời sống của người Việt Nam không chỉ là giáo lý qua kinh
kệ, sách vở mà đã trở thành phong tục, cách sống của dân tộc, của mọi gia đình. Triết
lý của Phật giáo về Từ bi, về tình thương yêu rất phù hợp với truyền thống giàu lòng
nhân ái vốn có của người Việt: “Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ”; “Một miếng khi đói
được hưởng cảm giác an toàn do có của cải và cơ sở kinh tế có được bằng phương
pháp chính đáng; Hai là có thể khảng khái sử dụng của cải ấy cho mình, cho người nhà
và cho bạn hữu, đồng thời dùng nó để làm nhiều việc từ thiện; Ba là không bị khổ sở
vì nợ nần; Bốn là có thể sống cuộc đời thanh tịnh, không lỗi lầm.
Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, chúng ta cần coi trọng việc xây
dựng hoàn thiện đạo đức nhằm phát triển con người một cách toàn diện. Nền đạo đức
mà chúng ta đang xây dựng là sự kết tinh, kế thừa những giá trị đạo đức truyền thống
của nhân loại, của dân tộc, trong đó có những giá trị đạo đức Phật giáo.
2.2.1.3 Ảnh hưởng của Phật giáo đến văn học nghệ thuật
Thật vậy, những buổi trưa hè nóng bức, vẳng bên tai ta nghe những lời ca dao
tục ngữ của người mẹ hát ru con, cho đến các cụ già vừa ngâm thơ, vừa làm các công
việc tỉ mỉ vụn vặt của vườn tược hay đồng áng. “Linh đinh qua cửa thần phù, Khéo tu
thì nổi, vụng tu thì chìm”. (Thuyết của đạo Phật) Rồi đến các truyện dân gian xa xưa
mà người Việt Nam ai nấy đều biết như truyện Tấm Cám, truyện Con Muỗi... đều có
nội dung Phật giáo rõ rệt: Tấm, con người lành, dù bị hại nhưng vẫn không chết, khi
thì làm trái thị, khi thì làm chim hoàng anh, và cuối cùng nhờ sự che chở của ông Bụt từ
bi, vẫn đoàn tụ được với hoàng tử người yêu, còn bà mẹ ghẻ ác độc phải ăn mắm xác
chết
con
mình.
Đó
bắt đầu truyền bá Phật giáo Thời kỳ sau bộ thuật ngữ Phật giáo Trung Quốc đọc theo
âm
Hán
Việt
là
Phật
– Sư – Tự mới phổ biến. Nhưng đến nay dân gian vẫn quên gọi thầy chùa hơn là Sư
ông. Chính Phật giáo đã mở đầu cho sự hình thành chữ Nôm ở bắc Đại Việt, chữ
Chăm, chữ khmer ở nam Đại Việt. Ba loại văn tự này giúp bảo tồn ngôn ngữ Việt
Chăm, Khmer.
Các tượng Phật, Bồ Tát, La Hán, Kim Cương, Thiên Vương còn giữ lại được
trong các chùa tháp cho chúng ta biết về trình độ nghệ thuật điêu khắc tạo hình cao của
các nghệ sĩ và nghệ thuật tôn giáo bị gò bó trong những công thức nhất định. Thí dụ,
không thể tạc tượng Phật, vẽ tranh chân dung Phật như thế nào cũng được. Dáng mặt
Phật phải lộ vẻ từ bi, nhưng lại phải bình thản, siêu thoát. Đôi mắt Phật phải là đôi
nào
xa
lạ,
mà
là rất gần gũi với mọi người, với con người. Tượng, tranh nữ Bồ Tát Quan Âm là
tượng tranh của bà mẹ hiền Việt Nam, đẹp, siêu thoát, nhưng lại rất gần gũi, mang
bản sắc dân tộc.
2.2.1.4 Ảnh hưởng của Phật giáo đến kiến trúc xây dựng
Một ảnh hưởng khác của Phật giáo chính là về kiến trúc. Kiến trúc là sản phẩm
nhân tạo cho nên cũng chính là văn hóa và sự phát triển của nó đánh dấu bước tiến của
văn minh. Khởi thủy nơi trú ẩn đầu tiên của con người là ngôi nhà tự nhiên. Đó chính
là những hang động những vòm đá. Để chống chọi với những hiểm nguy trong cuộc
sống, con người phải làm nhà để ở, chống lại tất cả sức mạnh tự nhiên đó. Ban đầu
người Việt làm nhà sàn bằng gỗ rồi làm nhà đất bằng tre. Tuy nhiên dù là nhà sàn hay
nhà đất thì cho đến trước năm 1945, những ngôi nhà tranh tre của người Việt vẫn còn
tồn tại như nguyên mẫu xa xưa (nhà tranh ba gian, thấp lè tè, mái rạ vàng). Thế nhưng,
một khi Phật giáo du nhập vào thì hai loại hình kiến trúc mới đã xuất hiện đó là chùa
và tháp. Cho đến khi ngôi chùa xuất hiện, dù thuộc niên đại muộn hơn buổi đầu Phật
ngôi
chùa khang trang. Nếu chùa cao thành ba bậc tượng trưng tam giới. Những chư vị Phật
ngồi trên những tầng bậc từ thấp đến cao là một cách bài trí hoàn toàn khác bàn thờ
trong nghè, trong nhà của họ. Cảnh quan xóm làng nông thôn đổi sắc với sự xuất hiện
của ngôi chùa. Bên cạnh đó, hệ thống tượng Phật vô cùng phong phú trong đóng góp
về vật chất của Phật giáo ở Việt Nam như những pho tượng Thích Ca, Phổ Hiền, Văn
Thù, những pho Di Lặc, A Di Đà, Quán Thế Âm; những bộ tượng Cửu Long, tượng
Quan Thế Âm....
Ngày nay, do mô hình kiến trúc đã hiện đại hóa xuất hiện chùa dạng nhà lầu với
phác đồ theo chiều thẳng đứng: tầng dưới là nơi thuyết pháp cho tín đồ mang tính chất
Tiền đường, tầng trên là Phật Điện mang tính chất Thiêu Hương, Thượng Điện. Chùa
thuộc loại này có thể kể tới những ngôi chùa nổi tiếng ở thành phố Hồ Chí Minh như
chùa Xá Lợi, chùa Vĩnh Nghiêm. Trên đây ta nói đến là kiến trúc chùa. Còn kiến trúc
tháp thì sao?
Có thể khẳng định ngay rằng, loại hình kiến trúc tháp cũng cực kỳ phong phú.
Phật tử cũng như ngoại đạo đều biết đến tên tuổi của chùa Báo Thiên vòi vọi, tháp
Sùng Thiện Diên Linh gắn với tấm bia về múa rối, chùa tháp Chương Sơn với nét kiến
trúc đặc trưng của hai tay vịn vũ nữ tạc theo tư thế tribhanga mang dấu ấn Chăm rõ
rệt.
2.2.2 Những ảnh hưởng tiêu cực
Tuy vậy Phật giáo cũng có những hạn chế, ảnh hưởng tiêu cực nhất định đến
đời sống văn hóa tinh thần của người Việt Nam chúng ta.
Về bản chất, chúng ta không thể quên rằng, thế giới quan tôn giáo là thế giới
quan tiêu cực. Một khi đã thâm nhập vào ý thức con người (các tín đồ, các giáo dân và