ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA VẬT LÍ
TIỂU LUẬN
TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG
CỦA NÓ ĐẾN ĐỜI SỐNG CON NGƯỜI VIỆT NAM
Học viên
: Nguyễn Văn Ngọc
Đà Nẵng, tháng 06 năm 2017
1
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN ............................................................................... 4
1.1. Đặt vấn đề ................................................................................................. 4
1.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu........................................................... 5
1.3. Phương pháp nghiên cứu......................................................................... 5
CHƯƠNG 2. PHẬT GIÁO - SỰ RA ĐỜI VÀ NHỮNG TƯ TƯỞNG TRIẾT
HỌC CƠ BẢN ..................................................................................................... 6
2.1. Sự ra đời của Phật giáo ............................................................................ 6
2.1.1. Hoàn cảnh ra đời của Phật giáo ......................................................... 6
2.1.2. Thân thế và sự nghiệp của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ..................... 6
2.2. Những tư tưởng triết học cơ bản của Phật giáo .................................... 7
2.2.1. Quan điểm của Phật giáo về thế giới quan......................................... 7
2.2.1.1. Vô ngã .......................................................................................... 7
2.2.1.2. Vô thường ..................................................................................... 7
đến đời sống tinh thần của người Việt, bên cạnh đạo Nho, đạo Lão và đạo Thiên
chúa.
Tuy nhiên, tùy ở từng giai đoạn lịch sử của dân tộc mà học thuyết tư tưởng,
tôn giáo này hay học thuyết tư tưởng, tôn giáo khác nắm vai trò chủ đạo, có tác
động mạnh đến nếp sống, thói quen, suy nghĩ của người Việt, như Phật giáo ở thế
kỷ thứ X - XIV, Nho giáo thế kỷ thứ XV - XIX, học thuyết Mác - Lênin từ giữa
thập kỷ 40 của thế kỷ XX. Cho đến nay, những học thuyết này không giữ địa vị
độc tôn mà song song cùng tồn tại với các học thuyết, tôn giáo khác, tác động vào
đời sống xã hội.
Trong công cuộc xây dựng đất nước quá độ lên Chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa
Mác - Lênin là tư tưởng chủ đạo, là vũ khí lý luận soi đường cho chúng ta. Nhưng
bên cạnh đó, bộ phận kiến trúc thượng tầng của xã hội cũ vẫn có sức sống dai
dẳng, trong đó giáo lý nhà Phật đã ít nhiều in sâu vào tư tưởng, tình cảm của một
số bộ phận lớn dân cư Việt Nam. Việc xoá bỏ hoàn toàn ảnh hưởng của nó là
không thể, nên chúng ta cần vận dụng một cách phù hợp để góp phần đạt được
mục tiêu của thời kỳ quá độ cũng như sau này. Do đó, việc tìm hiểu nghiên cứu
Phật giáo đối với thế giới quan, nhân sinh quan của con người là hết sức cần thiết.
Việc đi sâu nghiên cứu, đánh giá những mặt tiến bộ cũng như hạn chế, Phật giáo
giúp ta hiểu rõ tâm lý người dân hơn và qua đó tìm ra được một phương cách để
hướng đạo cho con người một cách chân chính, đúng đắn. Theo đạo để làm điều
thiện, tránh cái ác.
Hơn nữa quá trình Phật giáo phát triển, truyền bá ở Việt Nam gắn liền với
quá trình hình thành, phát triển tư tưởng, đạo đức của con người. Vì vậy, khi
4
nghiên cứu lịch sử, tư tưởng, đạo đức Việt Nam không thể không đề cập đến Phật
giáo và những mối quan hệ, tác động qua lại giữa chúng.
Tóm lại, nghiên cứu Phật giáo và nhìn nhận, đánh giá nó là một nội dung
quan trọng nhằm tìm hiểu lịch sử cũng như định hướng cho sự phát triển nhân
những cuộc đấu tranh giai cấp giữa các đẳng cấp trong xã hội. Trong cuộc đấu
tranh ấy, nhiều tôn giáo và trường phái triết học ra đời, trong đó có Phật giáo.
Phật giáo lí giải căn nguyên của nỗi khổ và tìm đường giải thoát cho con
người khỏi nỗi khổ triền miên trong xã hội nô lệ Ấn độ. Vì chống lại sự ngự trị
của đạo Bà-la-môn và kinh Véda nên Phật giáo được xem là dòng triết học không
chính thống.
2.1.2. Thân thế và sự nghiệp của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni
Người sáng lập ra Phật giáo là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, tên thật là Tất
Đạt Đa (Siddhattha), họ là Cù Đàm (Goutama), thuộc bộ tộc Sakya. Người sinh
ngày 15 tháng 4 năm 563 TCN, là thái tử của vua Tịnh Phạn, một nước nhỏ nằm
ở Bắc Ấn Độ.
6
Nhìn rõ nỗi khổ của chúng sinh, Tất Đạt Đa từ bỏ cuộc sống cao sang quyền
quý, dòng dõi Đế vương, quyết xuất gia tầm đạo để tìm đường giải thoát con người
khỏi nỗi khổ. Ròng rã suốt sáu năm tu hành, ở tuổi 35, Người đã giác ngộ tìm ra
chân lí “Tứ diệu đế” và “Thập nhị nhân duyên”, giúp giải thoát nỗi khổ cho chúng
sinh.Từ đó Người đi khắp nơi truyền bá tư tưởng của mình và trở thành người
sáng lập ra tôn giáo mới - Phật giáo.
Qua hơn 40 năm truyền đạt giáo lí khắp Ấn Độ, Người được suy tôn là Đức
Phật Thích Ca Mâu Ni. Người qua đời ở tuối 80 và để lại cho nhân loại những tư
tưởng triết học Phật giáo vô cùng quý giá.
2.2. Những tư tưởng triết học cơ bản của Phật giáo
Tư tưởng triết học Phật giáo thể hiện trên hai phương diện: thế giới quan và
nhân sinh quan, chứa đựng những tư tưởng duy vật và biện chứng chất phác.
2.2.1. Quan điểm của Phật giáo về thế giới quan
Quan điểm về thế giới quan của Phật giáo được thể hiện tập trung ở nội dung
của ba cặp phạm trù: vô ngã, vô thường và duyên.
Một Nhân không thể tự thành Quả nếu không có sự giúp đỡ của nhiều Nhân
khác vì vạn vật đều là sự tổ hợp của nhiều nhân duyên. Quả là sự vật đã chuyển
thành cái mà ta mong đợi, ước muốn. Vì thế mỗi vật đều có thể gọi là Nhân hay
Quả đều được. Đối với quá khứ nó là Quả, đối với tương lai thì nó là Nhân. Sự
biến chuyển từ Nhân thành Quả có khi nhanh, khi chậm, không phải bao giờ cũng
diễn ra trong một thời gian đồng nhất.
Tóm lại, Phật giáo bát bỏ quan niệm duy tâm cho rằng thần thánh sáng tạo
ra vạn vật. Phất giáo thừa nhận vạn vật được cấu thành từ các yếu tố vật chất và
tinh thành và chúng biến đổi không ngừng. Đó chính là quan điểm duy vật biện
chứng của Phật giáo.
2.2.2. Quan điểm của Phật giáo về nhân sinh quan
Quan điểm của Phật giáo về nhân sinh quan bao gồm: “Nghiệp”, thuyết “Tứ
Diệu Đế” và “Ngũ giới”.
8
a. Nghiệp
Phật giáo cho rằng một linh hồn không thể được tạo nên một cách ngẫu nhiên
và độc đoán từ sự toàn năng của thượng đế hay một Đức Phật nào. Phật giáo tin
rằng có một định luật tự nhiên chi phối vạn vật.
Theo lý nghiệp báo, chúng ta không bị trói buộc bởi một quy luật tiền định
nào, chúng ta có đủ năng lực để chuyển phần nào cái nghiệp của ta theo ý muốn.
Tóm lại, nghiệp là năng lực cá biệt được chuyển từ kiếp này sang kiếp khác
và phụ thuộc vào sự biến đổi của tâm lực. Nghiệp giúp cấu thành nên tâm lí con
người và giải thích những hiện tượng thiên tài, vĩ nhân, thần đồng.
b. Thuyết tứ Diệu đế
Tứ Diệu đế là bốn chân lý của Phật giáo, gồm: khổ đế, tạo đế, diệt đế và đạo đế.
• Khổ đế
Khổ đế là thực trạng đau khổ của con người. Phật giáo cho rằng đời người là
một bể khổ, ràng buộc, hệ lụy và không tự do, có tám cái khổ gồm: sinh, lão, bệnh,
2. Hành: Hành, chính là cái tâm niệm sinh diệt chuyển biến không ngừng ấy,
nó làm cho chúng sanh nhận lầm có cái tâm riêng, cái ta riêng của mình, chủ
trương gây các nghiệp, rồi về sau chịu quả báo.
3. Thức: Tâm niệm sinh diệt tiếp tục ấy, theo nghiệp báo duyên ra cái thức
tâm của mỗi đời, chịu cái thân và cái cảnh của loài này hoặc loài khác.
4. Danh sắc: Các thức theo nghiệp báo duyên sinh ra danh sắc. Sắc, bao gồm
những cái có hình tướng, như thân và cảnh; Danh, bao gồm nhwnxgc ái không có
hình tướng, như cái sự hay biết, nói một cách khác, là thức tâm thuộc nghiệp nào,
thì hiện ra thâm tâm và cảnh giới của nghiệp ấy.
5. Lục nhập: Thân tâm đối với cảnh giới thì duyên khởi ra các sự lãnh nạp
nơi 6 giác quan, nhãn căn lãnh nạp sắc trần, nhĩ căn lãnh nạp thanh trần, tỷ căn
lãnh nạp hương trần, thiệt căn lãnh nạp vị trần, thân căn lãnh nạp xúc trần và ý
căn lãnh nạp pháp trần.
10
6. Xúc: Do những lãnh nạp như thế, mà các trần ảnh hưởng đến tâm hay biết
sinh ra quan hệ với nhau, nên gọi là xúc.
7. Thọ: Do những quan hệ giữa tâm và cảnh như thế, nên sinh ra các thọ là
khổ thọ, lạc thọ, hỷ thọ, ưu thọ và xả thọ.
8. Ái: Do các thọ đó, mà sinh lòng ưa ghét, đối với lạc thọ, hỷ thọ thì ưa, đối
với khổ thọ, ưu thọ thì ghét và đã có ưa ghét thì tâm gắn bó với thân, với cảnh,
hơn bao giờ hết.
9. Thủ: Do tâm gắn bó với thân, với cảnh nên không thấy được sự thật như
huyễn, như hóa, mà còn kết hợp được những ảnh tượng rời rạc đã nhận được nơi
hiện tại, thành những sự tướng có định, rồi từ đó chấp mọi sự vật đều có thật, sự
chấp trước như thế, gọi là thủ.
10. Hữu: Do tâm chấp trước, nên những sự vật như huyễn như hóa lại biến
thành thật có, có thân, có cảnh, có người, có ta, có gây nghiệp, có chịu báo, có
Chính tịnh tiến: Phải nỗ lực, siêng năng học tập, có ý thức vươn lên.
Chính niệm: Phải luôn luôn hướng về đạo lý chân chính.
Chính định: Kiên định tập trung tư tưởng vào con đường chân chính.
Muốn thực hiện được “ Bát chính đạo” thì phải có phương pháp để thực hiện
nhằm ngăn ngừa những điều gian ác gây thiệt hại cho mình và những người làm
điều thiện có lợi ích cho mình và cho người. Nội dung của các phương pháp đó là
thực hiện “ Ngũ giới” (năm điều răn) và “Lục độ” (Sáu phép tu).
Ngũ giới” gồm:
Bất sát: Không sát sinh
Bất đạo: Không làm điều phi nghĩa.
Bất dâm: Không dâm dục.
Bất vọng ngữ: Không bịa đặt, không vu oan cho người khác.
“Lục độ” gồm:
12
Bố thí: Đem công sức, tài trí, của cải để giúp người một cách thành thực chứ
không để cầu lợi hoặc ban ơn.
Trí giới: Trung thành với điều răn, kiên trì tu luyện.
Nhẫn nhục: Phải biết kiên nhẫn, nhường nhịn, chịu đựng.
Tịnh tiến: Cố gắng nỗ lực vươn lên.
Thiền định: Tư tưởng phải tập trung vào điều ngay, không để cho cái xấu che
lấp.
Bát nhã: Trí tuệ hiểu thấu hết mọi chuyện trên thế gian.
Tóm lại: Phật giáo cho rằng chỉ có bằng sự kiên định để thực hiện “Bát hành
đạo”, “Ngũ giới”, “Lục độ” thì chúng sinh mới có thể giải thoát mình ra khỏi nỗi
khổ. Phật giáo không chủ trương giải phóng bằng cách mạng xã hội. Mặc dù Phật
giáo lên án rất gay gắt chế độ người bóc lột người, chống lại chủ nghĩa duy tâm
cua Bàlamôn giáo. Đó là một trong những nhược điểm đồng thời cũng là ưu điểm
cửa từ bi không hề nghiêm ngặt như chốn sân Trình cửa Khổng. Phật chứng nhận
cho cuộc sống hồn nhiên của làng xã.
Tâm lý dân gian Việt Nam ta thiên về sự cân bằng, sự bù đắp. Nỗi khổ hôm
nay phải được đền bù bằng sự sung sướng ngày mai. Cô Tấm trong cổ tích trải
qua bao gian nan cuối cùng vẫn được hưởng hạnh phúc. Phật giáo cũng hứa hẹn
với con người sự đền bù không do quyền phép nào, chỗ dựa nào của nho giáo,
cũng không do cán cân phúc tội của đạo gia, mà do chính nỗ lực của bản thân
mình. Tâm lý người Việt Nam ta phần nhiều cũng quan niệm nhận thức như vậy,
mà chăc chắn không phải vì do họ quán triệt thuyết bát chánh đạo của nhà thiền.
14
Tuy nhiên, không phải phật giáo đi được vào quần chúng, và có một sự gắn
bó sâu sa nhất định mà không một sự thẩm định, lựa chọn nào. Dân gian xưa
không có điều kiện hay trình độ để làm việc ấy, song khi họ chấp nhận, chối bỏ
hoặc biến hóa những giáo lý để thích nghi với trình độ tư duy, với các sinh hoạt
của họ tức là họ đã “lộ” cái ý đồng hay không đồng. Có thể nói rằng, văn hoá Việt
Nam hoá phật hơn là phật hoá. Phật giáo đến Việt Nam dù là phật giáo nguyên
thuỷ hay đa dạng sau này bởi tiểu thừa hay đại thừa thì vẫn phải nhập với tín
ngưỡng bản địa. để biến Man Nương thành Phật Mẫu, Ỷ Lan thành Quan Âm mà
không cần phải tạo ra xung quanh nhân vật ấy những gì huyền bí thần kỳ cho lắm.
Trong mấy chục năm lại đây, Phật tử Việt Nam rất chăm lo đến việc thực
hiện các nghi lễ của đạo mình. Họ hay lên chùa trong các ngày lễ, họ trân trọng
thành kính trong khi thi hành lễ, họ siêng năng trong việc thiền định, giữ giới, làm
việc thiện. Việc ăn chay hàng tháng trở thành thói quen không thể thiếu của người
theo Đạo Phật. Mặt khác, nhà chùa sẵn sàng thực hiện các yêu cầu của họ như cầu
siêu, giản oan,... Tất cả những điều này củng cố niềm tin vào giáo lý, vừa qui định
tư duy và hành động của họ, tạo cơ sở để hình thành những nhân cách riêng biệt.
3.2. Phật giáo và tư tưởng, đạo lý người Việt
3.2.1. Ảnh hưởng của Phật giáo về tư tưởng
Ăn chay xuất phát từ quan niệm từ bi của Phật giáo. Đạo Phật không muốn
sát sinh hại vật mà trái lại là phải thương yêu muôn loài. Ăn chay, thờ Phật là việc
đi đôi với nhau của người Việt. Cùng với thờ Phật, tục thờ cũng tổ tiên của người
Việt có từ lâu đời. Tục này xuất phát từ lòng hiếu kính đối với ông bà, cha mẹ, tổ
tiên. Tín ngưỡng này được một số bình dân nhập làm một với Đạo Phật, Phật giáo
có nhiều kinh đề cập đến vấn đề này như Kinh Vu Lan, Báo Phụ Mẫu Ân,…
Cũng xuất phát từ tinh thần từ bi của đạo Phật, tục lệ bố thí, phóng sinh đã
ăn sâu vào đời sống sinh hoạt của quần chúng nhân dân lao động. Người dân thích
làm phước bố thhí và sẵn sàng giúp đỡ kẻ nghèo khó, hoạn nạn.
3.3.2. Ảnh hưởng của Phật giáo qua tập tục cúng rằm, mồng một và lễ chùa
Những ngày lễ lớn như lễ Phật Đãn, Vu Lan, tắm Phật, thật sự đã trở thành
ngày hội văn hóa của người Việt. Điều này phù hợp với nét sinh hoạt cộng đồng
16
truyền thống. Những ngày lễ này giúp gắn bó người Việt với nhau, nâng cao yêu
thương đồng loại và nảy nở lòng hy sinh, tính vị tha, củng cố lòng hiếu kính với
ông bà, cha mẹ. Ảnh hưởng đó ngày càng sâu rộng trong quần chúng nhân dân.
Tóm lại, Phật giáo đóng một vai trò quan trọng trong việc định hình và duy
trì các tập tục dân gian người Việt.
3.4. Phật giáo và lối sống của thanh niên hiện nay
Tư tưởng Phật giáo có ảnh hưởng ít nhiều đến đời sống của thanh thiếu niên
hiện nay. Ở các trường phổ thông, tổ chức đoàn, đội luôn phát động các phong
trào nhân đạo như “ Lá lành đùm lá rách”, “quỹ giúp bạn nghèo vượt khó”, “quỹ
viên gạch hồng”,… Ngay từ nhỏ các em học sinh đã được giáo dục tư tưởng nhân
đạo, bác ái, giúp đỡ người khác mà cơ sở của nền tảng ấy là tư tưởng giáo lý nhà
Phật đã hoà tan với giá trị truyền thống của con người Việt Nam. Lên đến cấp III
và vào Đại học, những thanh thiếu niên có những hoạt động thiết thực hơn. Việc
giúp đỡ người khác không phải hạn chế ở việc xin bố mẹ tiền để đóng góp mà có
thể bằng chính kiến thức, sức lực của mình. Sự đồng cảm với những con người
Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, mọi lĩnh vực trong đời
sống con người đều có bước nhảy vọt. Xu thế toàn cầu hoá thể hiện ngày càng rõ
nét. Điều kiện đó đòi hỏi con người phải hết sức năng động, nhanh nhạy nắm bắt
vấn đề trong cuộc sống. Trong khi đó, theo giáo lý nhà Phật con người trở nên
không có tham vọng tiến thân, bằng lòng với những gì mình đã có, sống nhẫn
nhục, không đấu tranh, hướng tới cõi niết bàn khi cuộc sống trần gian đã chấm
dứt. Như vậy đạo đức Phật giáo đã tách con người ra khỏi điều kiện thực tiễn của
xã hội, làm cho con người có thái độ chấp nhận chứ không phải là cải tạo thế giới.
Đạo đức xuất thể của Phật giáo là chạy trốn nhu cầu bản năng chứ không phải chế
ngự thiên nhiên, bắt nó phục vụ cho mình. Các chương trình xã hội của Phật giáo
không phải cải tạo lại điều kiện sống mà chỉ để cố san bằng xã hội bằng đạo đức,
trong xã hội đó ai cũng từ bi, bác ái, hỉ xả, nhẫn nhục,... Đạo đức nhà Phật mất
dần giá trị cũng chính thái độ yếu thế này, với nhà Phật những nhu cầu về thể xác
thì bị coi là trần tục, kém đạo đức, nhất là trong cuộc sống ngày nay, khi mà con
người đã đạt được một trình độ nhất định, quan niệm trên càng không thể chấp
nhận được. Do đó, ảnh hưởng của Phật giáo càng xa rời thế hệ trẻ.
18
3.6. Phật giáo trong xã hội Việt Nam hiện nay
Chúng ta cũng nhận thấy rằng, ngày nay trong số những người đi chùa, nhiều
người không có đủ tri thức về Phật giáo cho nên khó có thể giáo dục đạo Phật một
cách tự giác, tích cực trong xã hội và gia đình. Người dân lên chùa thường quá
chú trọng đến lễ vật, đến các ham muốn tầm thường. Do không được giáo dục đầy
đủ, đúng đắn giáo lý nhà Phật, số đông thanh thiếu niên đã đua theo thị hiếu của
mọi người. Họ đến chùa cúng bái, thắp hương vái xin Phật, Bồ Tát, La Hán phù
hộ độ trì cho họ đạt được mong muốn của mình. Những mong muốn ấy thường là
chuyện học hành, tình cảm, sức khoẻ, vật chất... hoặc hơn nữa, họ coi đến chùa
chỉ là hình thức đi chơi, giải trí với bạn bè kèm theo đó là sự thiếu nghiêm túc
trong ăn mặc, đi đứng, nói năng. Số lượng học sinh, sinh viên nói riêng cũng như
ra đau khổ bất hạnh cho người khác. Nó giúp con người sống thân ái, yêu thương
nhau, xã hội yên bình. Tuy nhiên, để giáo dục nhân cách đạo đức của thế hệ trẻ
thì như thế vẫn chưa đủ. Bước sang thế kỷ XXI, chuẩn mực nhân cách mà một
thanh niên cần có đòi hỏi phải hoàn thiện cả về mặt thể xác lẫn tinh thần, phải có
đủ khả năng chinh phục cả thế giới khách quan lẫn thế giới nội tâm. Đạo đức thế
kỷ XXI do vậy có thể khai thác sự đóng góp tích cực của Phật giáo để xây dựng
đạo đức nhân văn toàn thiện hơn, tự giác cao hơn vì sang thế kỷ XXI, bên cạnh
sự phát triển kỳ diệu của khoa học, những mâu thuẫn, chiến tranh giành quyền lực
rất có thể sẽ nổ ra dưới sự hậu thuẫn của khoa học, các loại vũ khí sẽ được chế tạo
hiện đại, tàn nhẫn hơn, dễ dàng thoả mãn cái ác của vài cá nhân và nguy cơ gây
ra sự huỷ diệt sẽ khủng khiếp hơn. Khi đó đòi hỏi con người phải có đạo đức,
nhân cách cao hơn để nhận ra được cái ác dưới một lớp vỏ tinh vi hơn, “sạch sẽ”
hơn.
Như vậy trong cả quá khứ, hiện tại và tương lai, Phật giáo luôn luôn tồn tại
và gắn liền với cuộc sống của con người Việt Nam. Việc khai thác hạt nhân tích
cực hợp lý của Đạo Phật nhằm xây dựng nhân cách con người Việt Nam, đặc biệt
là thế hệ trẻ, là một mục tiêu chiến lược đòi hỏi sự kết hợp giáo dục tổng hợp của
xã hội - gia đình - nhà trường - bản thân cá nhân, một sự kết hợp tự giác tích cực
20
cả truyền thống và hiện đại. Chúng ta tin tưởng vào một thế hệ trẻ hôm nay và
mai sau cường tráng về thể chất, phát triển về trí tuệ, phong phú về tinh thần, đạo
đức tác phong trong sáng, kế thừa truyền thống cha ông cũng như những giá trị
nhân bản Phật giáo sẽ góp phần bảo vệ và xây dựng xã hội ngày càng ổn định,
phát triển.
21