Phân tích nguyên nhân và những ảnh hưởng của dòng vốn FDI tại việt nam - Pdf 10

Đề số 10: Phân tích nguyên nhân và những ảnh
hưởng của dòng vốn FDI tại Việt Nam.
LỜI NÓI ĐẦU
Trong cuộc đua tranh phát triền kinh tế hiện nay, vấn đề tăng trưởng nhanh và
lâu bền diễn ra gay gắt đối với tất cả các quốc gia. Đối với những nước đi sau, có
điểm xuất phát thấp về kinh tế, yêu cầu này đặt ra như một đòi hỏi sống còn; hoặc
là đuổi kịp vươn lên phía trước, hoặc là tụt lại sau và ngày càng xa rời các cơ hội
phát triển.
Trước những diễn biến phức tạp đó của thế giới, Việt Nam cũng có những cải
cách kinh tế quan trọng, đặc biệt là sau đại hội VI của Đảng. Một trong những nội
dung qua trọng của chính sách mới ở Việt Nam là mở cửa thu hút vốn đầu tư nước
ngoài. Trong những năm qua Việt Nam đã không ngừng cải thiện môi trường đầu
tư trong nước nhằn thu hút ngày càng nhiều vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và
những nỗ lực đó đã mang lại những kết quả đáng khích lệ. Nhiều dự án đầu tư trực
tiếp nước ngoài đã đi vào hoạt động và mang lại những hiệu quả thiết thực trong
việc nâng cấp hệ thống thông tin viễn thông, khách sạn hình thành một số ngành
công nghiệp mới như lắp ráp và sửa chữa ô tô, xác định trữ lượng dầu khí, hình
thành các khu công nghiệp…Còn các nhà kinh doanh nước ngoài qua thực tiễn
hoạt động ở Việt Nam đã ngày càng tin tưởng hơn vào hiệu quả các dự án đầu tư
của họ.
I. Giới thiệu chung về FDI:
1. Khái niệm FDI:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI: Foreign Direct Investment) là hình thức đầu
tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ
sở sản xuất, kinh doanh. Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý
cơ sở sản xuất kinh doanh này.
Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đưa ra định nghĩa về FDI như sau: FDI
xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở
một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương
diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần
lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các

nhằm mục đích khai thác các tài sản sẵn có thương hiệu ở nước tiếp nhận (như các
điểm du lịch nổi tiếng). Nó cũng còn nhằm khai thác các tài sản trí tuệ của nước
tiếp nhận. Ngoài ra, hình thức vốn này còn nhằm tranh giành các nguồn tài nguyên
chiến lược để khỏi lọt vào tay đối thủ cạnh tranh.
_Vốn tìm kiếm hiệu quả:
Đây là nguồn vốn nhằm tận dụng giá thành đầu vào kinh doanh thấp ở nước
tiếp nhận như giá nguyên liệu rẻ, giá nhân công rẻ, giá các yếu tố sản xuất như
điện nước, chi phí thông tin liên lạc, giao thông vận tải, mặt bằng sản xuất kinh
doanh rẻ, thuế suất ưu đãi…
_Vốn tìm kiếm thị trường:
Đây là hình thức đầu tư nhằm mở rộng thị trường hoặc giữ thị trường khỏi bị
đối thủ cạnh tranh giành mất. Ngoài ra, hình thức đầu tư này còn nhằm tận dụng
các hiệp định hợp tác kinh tế giữa nước tiếp nhận với các nước và khu vực khác,
lấy nước tiếp nhận làm bàn đạp để thâm nhập vào các thị trường khu vực và toàn
cầu.
II. Nguyên nhân có dòng vốn FDI tại Việt Nam:
Trong 10 năm qua Việt Nam đã cấp phép cho 9.445 dự án đầu tư trực tiếp
nước ngoài, tức FDI, và 3.945 dự án tăng vốn, nâng tổng số đầu tư FDI lên tới
mức 165,9 tỉ đô la, cao hơn gần 4 lần so với thập niên trước đó - Tân Hoa Xã
(Trung Quốc) trích thuật một báo cáo của Cục Đầu tư Nước ngoài thuộc Bộ Kế
hoạch và Đầu tư Việt Nam cho biết. Báo cáo nói rằng FDI của Việt Nam đã đạt
đỉnh 71,7 tỉ đô la trong năm 2008, mức cao nhất trong vòng 20 năm.
Trong năm 2010, các nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục đưa ra dấu hiệu tin tưởng
vào triển vọng kinh tế Việt Nam qua việc giải ngân 11 tỉ đô la, tuy số vốn đăng ký
chỉ ở mức 18,59 tỉ đô la, tương đương với 82,2% của số FDI trong năm 2009.
Bản tin hôm thứ tư (30/03/2011) của báo điện tử của chính phủ Việt Nam cho
biết bức tranh FDI trong 3 tháng đầu năm nay đã có một điểm sáng đặc biệt là
nguồn vốn thực hiện cao hơn số đăng ký, ước tính đạt 2,54 tỉ đô la.
Theo TS Edmund Malesky, Việt Nam vẫn thường “tự giới thiệu” mình là một
quốc gia có dân số trẻ, chi phí lao động thấp, tốc độ tăng trưởng nhiều năm liền

“Đầu tư cao hay thấp phụ thuộc vào thủ tục hành chính”. Theo Bộ trưởng
Bộ KH-ĐT Võ Hồng Phúc, môi trường đầu tư nước ngoài của VN về mặt pháp
luật đã được cải thiện. Đây là một nhân tố rất cơ bản khiến con số đầu tư nước
ngoài năm nay khả quan như vậy. Khi Luật Đầu tư và Doanh nghiệp chung ban
hành sẽ còn cởi mở, cải thiện hơn nữa.
Hiện tại, băn khoăn lớn nhất của các nhà tài trợ và nhà đầu tư nước ngoài là thủ
tục hành chính còn nhiều điều chưa hợp lý, nhất là ở cấp dưới. Điều này đã thể
hiện rõ về tình hình thu hút đầu tư tại các địa phương. Cùng môi trường, mặt bằng
pháp lý, giá cả như nhau nhưng có những địa phương thu hút đầu tư nước ngoài
rất tốt như Vĩnh Phúc, Vĩnh Yên, Bắc Ninh, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng
Tàu. Ngược lại, nhiều địa phương cùng điều kiện, thậm chí còn thuận lợi hơn như
gần cảng, gần trung tâm kinh tế lớn, trục giao thông lớn nhưng vì phối hợp giữa
các sở, ban, ngành trong địa phương đó yếu, thủ tục hành chính phiền hà, chỉ đạo
chưa thống nhất nên thu hút đầu tư kém.
Đến nay, Bộ KH - ĐT đã nhiều lần khuyến cáo các địa phương về những rào
cản do thủ tục hành chính mang lại. Song điều cốt yếu vẫn nằm ở chính quyền địa
phương, bởi Bộ chỉ chủ trì, làm đầu mối xử lý vướng mắc tại các dự án đầu tư
nước ngoài có quy mô lớn, có tầm của quốc gia và vướng mắc của những nhà đầu
tư chiến lược, còn những dự án nhỏ vẫn do chính quyền địa phương giải quyết.
III. Ảnh hưởng của dòng vốn FDI tại Việt Nam:
Đối với bất kỳ một quốc nào, dù là nước phát triển hay đang phát triển thì để
phát triển đều cần có vốn để tiến hành các hoạt động đầu tư tạo ra tài sản mới cho
nền kinh tế. Nguồn vốn để phát triển kinh tế có thể được huy động ở trong nước
hoặc từ nước ngoài, tuy nhiên nguồn vốn trong nước thường có hạn, nhất là đối
với những nước đang phát triển như Việt Nam (có tỷ lệ tích luỹ thấp, nhu cầu đầu
tư cao nên cần có một số vốn lớn để phát triển kinh tế). Vì vậy, nguồn vốn đầu tư
nước ngoài ngày càng giữ vai trò quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc
gia. Hoạt động đầu tư nước ngoài là kênh huy động vốn lớn cho phát triển kinh tế,
trên cả giác độ vĩ mô và vi mô. Trên giác độ vĩ mô, FDI tác động đến quá trình
tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phúc lợi xã hội cho con người,

có vốn đầu tư nước ngoài là một thành phần kinh tế, là một bộ phận cấu thành của
nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, được khuyến khích phát triển, hướng
vào xuất khẩu, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội, gắn với thu hút công nghệ
hiện đại, tao thêm nhiều việc làm và đề ra nhiệm vụ cải thiện nhanh môi trường
kinh tế và pháp lý để thu hút mạnh nguồn vốn đầu tư nước ngoài(chủ yếu là FDI)
đối với chiến lược phát triển KT-XH của cả nước.
FDI có thể ảnh hưởng tới nền kinh tế ở tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa và
xã hội. Tuy nhiên, đối với các nước đang phát triển, nhất là các nước nghèo, kỳ
vọng lớn nhất của việc thu hút FDI chủ yếu là nhằm mục tiêu tăng trưởng kinh tế.
Kỳ vọng này dường như được thể hiện trong tư tưởng của các nhà kinh tế và các
nhà hoạch định chính sách với ba lý do chính: Một là, FDI góp phần vào tăng
thặng dư của tài khoản vốn, góp phần cải thiện cán cân thanh toán nói chung và ổn
định kinh tế vĩ mô. Hai là, các nước đang phát triển thường có tỷ lệ tích lũy vốn
thấp và vì vậy, FDI được coi là một nguồn vốn quan trọng để bổ sung vốn đầu tư
trong nước nhằm mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Ba là, FDI tạo cơ hội cho các nước
nghèo tiếp cận công nghệ tiên tiến hơn, dễ dàng chuyển giao công nghệ hơn, thúc
đẩy quá trình phổ biến kiến thức, nâng cao kỹ năng quản lý và trình độ lao động
Tác động này được xem là các tác động tràn về năng suất của FDI, góp phần làm
tăng năng suất của các doanh nghiệp trong nước và cuối cùng là đóng góp vào
tăng trưởng kinh tế nói chung. Trên thực tế không phải nước nào cũng đạt được
cùng một lúc hai mục tiêu này. Một số nước thu hút được dòng vốn FDI khá lớn
nhưng tác động tràn hầu như không xảy ra. Ở một tình thế khác, vốn FDI đổ vào
một nước có thể làm tăng vốn đầu tư cho nền kinh tế nhưng đóng góp của nguồn
vốn này vào tăng trưởng là thấp. Cả hai trường hợp trên đều được coi là không
thành công với chính sách thu hút FDI hay chưa tận dụng triệt để và lãng phí
nguồn lực này dưới góc độ tăng trưởng kinh tế. Thực trạng này khiến cho các nhà
kinh tế ngày càng quan tâm nhiều hơn tới việc đánh giá tác động của FDI tới tăng
trưởng kinh tế, đặc biệt là của các nước đang phát triển, thông qua hai kênh tác
động đề cập ở trên.
FDI góp phần làm tăng tổng vốn đầu tư, tăng kim ngạch xuất khẩu, tạo thêm

phần kinh tế trong nước. Giai đoạn 1994-1995, tỷ trọng của FDI trong tổng đầu
tư xã hội lên tới 30-31 %, là mức cao nhất cho đến nay. Tỷ lệ này đã giảm dần
và năm 2004, FDI thực hiện ước còn chiếm 15,5 % trong tổng đầu tư toàn xã
hộiTrong suốt một thập kỷ qua, khu vực có vốn FDI chiếm tỷ trọng ngày càng
tăng trong GDP. Năm 2004, khu vực FDI đóng góp 15,2 % vào GDP so với tỷ
lệ đóng góp 6,4% của khu vực này năm 1994. Bên cạnh đó, khu vực có vốn FDI
luôn dẫn đầu về tốc độ tăng giá trị gia tăng so với các khu vực kinh tế khác và là
khu vực phát triển năng động nhất. Tốc độ tăng giá trị gia tăng của khu vực này
luôn cao hơn mức trung bình của cả nước.
_FDI với việc nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp và xuất khẩu:
FDI vào Việt Nam chủ yếu tập trung vào lĩnh vực công nghiệp. Nhờ đó, trong
hơn một thập kỷ qua Việt Nam đã cải thiện được nhiều ngành kinh tế quan trọng
như thăm dò, khai thác dầu khí, bưu chính viễn thông, điện tử, xây dựng hạ
tầng… Năm 2004, khu vực có vốn FDI đóng góp tới 35,68% (giá so sánh năm
1994) tổng giá trị sản xuất công nghiệp cả nước, trong khi tỷ lệ này chỉ là
25,1% năm 1995. Đến nay, khu vực có vốn FDI đóng góp 100% sản lượng của
một số sản phẩm công nghiệp như dầu khí, ô tô, máy giặt, điều hoà, tủ lạnh, thiết
bị máy tính; 60% cán thép; 28% xi măng; 33% máy móc thiết bị điện, điện tử;
76% dụng cụ y tế chính xác; 55% sản lượng sợi; 49% sản lượng da giày; 25%
thực phẩm đồ uống Nhìn
chung,
tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp của
khu vực có vốn FDI luôn duy trì ở mức cao, cao hơn tốc độ tăng trưởng chung
toàn ngành trong suốt giai đoạn 1995-2003, trừ năm 2001. Năm 2004, giá trị
sản xuất công nghiệp của khu vực này tuy cao, đạt 15,7% nhưng thấp hơn mức
chung của toàn ngành, chủ yếu do tốc độ tăng rất cao của khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh trong nước (22,8%).
Trong một thập kỷ trở lại đây, tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu của khu vực
FDI luôn cao hơn so với tốc độ tăng trung bình của cả nước. Năm 1991, kim
ngạch xuất khẩu của Việt Nam đạt 2 tỷ USD,

Cùng với sự phát triển, khu vực có vốn FDI đóng góp ngày càng tăng vào
nguồn thu ngân sách của Nhà nước. Theo tính toán của Tổng cục Thuế, năm
2002, khu vực FDI đóng góp khoảng 480 triệu USD vào ngân sách Nhà nước,
tăng 4,2 lần so với năm 1994. Tính riêng giai đoạn 1996-2002, khu vực này
đóng góp (trực tiếp) vào ngân sách trung bình ở mức khoảng 6%. Tỷ trọng đóng
góp nhỏ là do các doanh nghiệp FDI được hưởng chính sách khuyến khích của
Chính phủ thông qua giảm thuế thu nhập trong những năm đầu hoạt động. Tuy
nhiên, nếu tính cả thu từ dầu thô thì tỷ trọng này ước khoảng 20%.
Bên cạnh đó, FDI đã góp phần quan trọng vào việc tăng thặng dư của tài
khoản
vốn, góp phần cải thiện cán cân thanh toán nói chung. Động thái của cán
cân vốn trong
thời kỳ 1994-2002 cho thấy có mối quan hệ khá rõ giữa số dư tài
khoản vốn và dòng vốn FDI đổ vào Việt Nam hàng năm.
III. Hoạt động của dòng vốn FDI tại Việt Nam trong 2010:
Tính đến 21/12/2010, cả nước có 12.213 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng
ký 192,9 tỷ USD.
Các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 18/21 ngành trong hệ thống phân
ngành kinh tế quốc dân, trong đó lĩnh vực công nghiệp chế biến và chế tạo vẫn là
lĩnh vực thu hút nhiều vốn đầu tư nước ngoài nhất, với 7.305 dự án, tổng vốn đăng
ký 93,97 tỷ USD, chiếm 59,8% số dự án và 49% vốn đăng ký tại Việt Nam. Đầu
tư vào kinh doanh bất động sản đứng thứ hai trong thu hút đầu tư nước ngoài với
348 dự án, tổng vốn đăng ký 47,99 tỷ USD, chiếm 2,8% số dự án và 25% tổng vốn
đăng ký tại Việt Nam. Tiếp theo là các lĩnh vực xây dựng, dịch vụ lưu trú và ăn
uống, sản xuất, phân phối điện, nước, khí, điều hòa.
Đến nay, 92 quốc gia và vùng lãnh thổ đã có đầu tư tại Việt Nam, trong đó Đài
Loan là nhà đầu tư số 1 với trên 2.146 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký 22,8
tỷ USD. Hàn Quốc đứng thứ 2 với trên 2.650 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký
22,1 tỷ USD. Tiếp theo là nhà đầu tư Singapore, Nhật Bản và Malaysia.
Đầu tư nước ngoài đã có mặt ở 63 tỉnh, thành phố trong cả nước, trong đó

Thứ trưởng Đặng Huy Đông cho rằng, đầu tư FDI đã diễn ra sự chuyển dịch từ
công nghệ thấp sang công nghệ cao. Việt Nam đã có những nhà máy sản xuất các
thiết bị tiên tiến “Made in Viet Nam”, ví dụ những thiết bị lọc nước biển thành
nước ngọt cho các đô thị hàng vạn dân, dàn cần cẩu tải trọng cao… Samsung Việt
Nam đã trở thành một trong những nhà máy sản xuất điện thoại di động và linh
kiện lớn của thể giới với khoảng 1 tỷ USD xuất khẩu.
Nhìn rộng hơn, dòng FDI đổ vào các lĩnh vực chế biến, chế tạo duy trì ở mức
cao, đều đặn trong nhiều năm trở lại đây và xu hướng này sẽ tiếp tục trong thời
gian tới.
Sẽ không chạy theo số lượng:
Để đạt được mục tiêu vốn FDI thực hiện trong năm 2011 đạt 11-12,5 tỷ USD,
vốn FDI đăng ký năm 2011 đạt khoảng 20 tỷ USD, công tác chỉ đạo điều hành của
Chính phủ và các Bộ, ngành Trung ương sẽ chú trọng và nâng cao chất lượng các
dự án FDI mà không chạy theo số lượng.
Theo đó, sẽ theo hướng chọn lọc hơn với trọng tâm là thu hút các dự án cơ sở
hạ tầng, dự án sử dụng công nghệ cao, công nghệ sạch và có khả năng tạo ra các
sản phẩm có sức cạnh tranh; các dự án sản xuất hàng xuất khẩu; các dự án phát
triển ngành công nghiệp hỗ trợ; các dự án có khả năng tham gia vào chuỗi giá trị
toàn cầu.
Về việc nhiều doanh nghiệp FDI sử dụng biện pháp “chuyển giá”, báo lỗ
nhưng vẫn mở rộng sản xuất, Thứ trưởng Đặng Huy Đông nhìn nhận đây là hiện
tượng đã diễn ra ở nhiều quốc gia trên thế giới, song hoàn toàn có thể ứng phó
được.
Tại phiên chất vấn Quốc hội hôm 23/11, Bộ trưởng Tài chính Vũ Văn Ninh
cũng giải trình về vấn đề này. Trong 3 năm gần đây, Bộ đã thực hiện thanh tra 127
doanh nghiệp FDI kêu lỗ và đã thực hiện truy thu 1.450 tỷ đồng tiền thuế đối với
các doanh nghiệp này.
Bộ KH-ĐT tin tưởng thời gian tới sẽ xử lý được vấn đề này với sự phối hợp
với các cơ quan chức năng, các cơ quan kiểm toán, thẩm định quốc tế. Đồng thời,
sau khi một số doanh nghiệp bị xử lý, bản thân cộng đồng cách doanh nghiệp quốc

hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch lãnh thổ, quy hoạch sử dụng
đất chi tiết, quy hoạch ngành và các sản phẩm chủ yếu; rà soát điều chỉnh cho phù
hợp và kịp thời đối với các quy hoạch đã lạc hậu; có kế hoạch cụ thể để thực hiện
các quy hoạch đã được duyệt.
- Công bố rộng rãi các quy hoạch đã được phê duyệt, đẩy nhanh tiến độ giải
phóng mặt bằng cho các dự án đầu tư; rà soát, kiểm tra, điều chỉnh quy hoạch sử
dụng đất một cách hiệu quả, nhất là đối với các địa phương ven biển nhằm đảm
bảo phát triển kinh tế và môi trường bền vững.
- Quán triệt và thực hiện thống nhất các quy định của Luật Đầu tư trong công
tác quy hoạch, đảm bảo việc xây dựng các quy hoạch ngành, lĩnh vực, sản phẩm
phù hợp với các cam kết quốc tế, bảo đảm quốc phòng, an ninh.
3. Nhóm giải pháp về cải thiện cơ sở hạ tầng:
- Tiến hành tổng rà soát, điểu chỉnh, phê duyệt và công bố các quy hoạch về
kết cấu hạ tầng đến năm 2020 làm cơ sở thu hút đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng.
Tranh thủ tối đa các nguồn lực để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, đặc biệt là
nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước; ưu tiên các lĩnh vực cấp, thoát nước, vệ sinh
môi trường; hệ thống đường bộ cao tốc; nâng cao chất lượng dịch vụ đường sắt;
sản xuất và sử dụng điện từ các loại năng lượng mới như sức gió, thủy triều, nhiệt
năng từ mặt trời; các dự án lĩnh vực bưu chính viễn thông, công nghệ thông tin.
- Mở rộng hình thức cho thuê cảng biển, mở rộng đối tượng cho phép đầu tư
dịch vụ cảng biển, đặc biệt dịch vụ hậu cần để tăng cường năng lực cạnh tranh của
hệ thống cảng biển Việt Nam; kêu gọi vốn đầu tư các cảng lớn của các khu vực
kinh tế như hệ thống cảng Hiệp Phước-Thị Vải, Lạch Huyện
- Xem xét việc ban hành một số giải pháp mở cửa sớm hơn mức độ cam kết
của ta với WTO đối với một số lĩnh vực dịch vụ mà nước ta có nhu cầu về văn
hóa-y tế-giáo dục, bưu chính - viễn thông, hàng hải, hàng không.
4. Nhóm giải pháp về nguồn nhân lực:
- Việc nâng cấp đầu tư hệ thống các trường đào tạo nghề hiện có lên ngang tầm
khu vực và thế giới, sẽ phát triển thêm các trường đào tạo nghề và trung tâm đào
tạo từ các nguồn vốn khác nhau.

đoạn III; tiếp tục hợp tác tích cực với các cơ quan, tổ chức nước ngoài trong việc
xúc tiến đầu tư và hỗ trợ doanh nghiệp triển khai dự án.
_Duy trì cơ chế đối thoại thường xuyên giữa lãnh đạo Chính phủ, các Bộ,
ngành với các nhà đầu tư, đặc biệt là Diễn đàn doanh nghiệp hàng năm để xử lý
kịp thời các khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện chính sách và phát luật
hiện hành, đảm bảo các dự án hoạt động hiệu quả, nhằm tiếp tục củng cố lòng tin
của các nhà đầu tư đối với môi trường đầu tư kinh doanh tại Việt Nam, tạo hiệu
ứng lan tỏa và tác động tích cực tới nhà đầu tư mới.
_Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra: theo chức năng và nhiệm vụ của
mình, Thanh tra Chính phủ, các Bộ, ngành, địa phương có kế hoạch tăng cường
thanh tra, kiểm tra việc tuân thủ các quy định của chính sách, pháp luật về đầu tư
nước ngoài nói chung và việc thực hiện Nghị quyết này của Chính phủ.
V. Kết luận và ý kiến cá nhân về vốn FDI tai Việt Nam:
Phải nói rằng dòng vốn FDI đã đóng góp vào quá trình tăng trưởng kinh tế tại
Việt Nam, góp phần thúc đẩy xuất khẩu các hàng hóa sản xuất tại Việt Nam ra
nước ngoài, và tạo được thặng dư trong cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam.
Tuy nhiên, những tác động tiêu cực của dòng vốn FDI cần phải được nhận diện.
Trong khoảng gần 20 năm kể từ khi Luật Đầu tư nước ngoài được ban hành Việt
Nam đó thu được những kết quả khá ấn tượng về thu hút FDI . Cùng với sự tăng
trưởng nhanh về GDP chung của cả nền kinh tế, khu vực có vốn FDI chiếm tỷ
trọng ngày càng tăng trong GDP. Thành quả trên được đánh giá là kết quả của cải
cách chính sách kinh tế ở Việt Nam thực hiện trong giai đoạn vừa qua, đồng thời
kết quả đó cũng gợi mở về quan hệ hai chiều giữa tăng trưởng kinh tế và đầu tư
trực tiếp nước ngoài.
Trong thời gian qua chính sách đầu tư nước ngoài của Việt Nam không kém
hấp dẫn so với một số nước trong khu vực và trên thế giới, nhưng hiệu lực và tính
thực thi chính sách thấp làm giảm dũng vốn FDI đăng ký và gây khó khăn cho giải
ngân nguồn vốn này. Dù xét dưới góc độ nào, biến động thất thường về FDI đăng
ký sẽ bất lợi cho tăng trưởng kinh tế, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế và
cạnh tranh trong khu vực về thu hút FDI ngày càng gay gắt hơn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status