MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 3
I: Tổng quan chung về bất bình đẳng thu nhập 3
1.Khái niệm 3
2.Cơ sở và thước đo bất bình đẳng thu nhập trong xã hội 4
II. Thực trạng bất bình đẳng thu nhập tại Việt Nam 6
1.Tình trạng bất bình đẳng thu nhập có xu hướng ngày càng tăng 6
2.Chênh lệch về thu nhập giữa nông thôn và thành thị ngày càng tăng 9
3.Chênh lệch thu nhập giữa người Kinh, Hoa và các dân tộc thiểu số càng ngày càng
gia tăng 10
III. Nguyên nhân thực trạng bất bình đẳng tại Việt Nam 15
1. Sự khác nhau về sở hữu các yếu tố sản xuất cũng như khác nhau về cơ hội vươn
lên. 15
2. Về các thể chế chính sách của Nhà nước 17
3. Bất bình đẳng thu nhập tăng do lạm phát cao 20
IV. Một số kiến nghị giải pháp 20
KẾT LUẬN 23
TÀI LIỆU THAM KHẢO 24
1
LỜI MỞ ĐẦU
Song song với sự tồn tại và phát triển của xã hội thì vấn đề bất bình
đẳng trong thu nhập cũng hình thành và phát triển. Đặc biệt là trong xu thế
toàn cầu hóa kinh tế quốc tế như hiện nay thì vấn đề này được thể hiện ngày
càng rõ nét ở tất cả các quốc gia trên thế giới, vì vậy nó thu hút được sự
quan tâm nghiên cứu và tìm kiếm các giải pháp không chỉ của các chuyên
gia mà còn của các nhà hoạch định chính sách vì nó ảnh trực tiếp đến sự
phát triển kinh tế và sự ổn định chính trị xã hội của các quốc gia.
Việt Nam cũng không năm ngoài xu thế trên và bất bình đẳng trong thu
nhập vẫn còn đang là một bài toán khó giải . Để hiểu rõ hơn về bất bình
đẳng trong thu nhập và thực trạng của vấn đề này ở Việt Nam như thế nào
hiểu này hàm ý phán đoán đạo đức, theo nghĩa bất bình đẳng kinh tế ít
(nhiều) là điều tốt (xấu). Dưới các tiền đề về công bình xã hội, một nhà kinh
tế chuẩn tắc sẽ tìm hiểu nguyên nhân và hậu quả của bất bình đẳng kinh tế,
và đưa ra một vài đề xuất để làm giảm mức độ bất bình đẳng kinh tế với mục
đích làm tăng phúc lợi xã hội.
3
Trong bài tiểu luận này sẽ hiểu bất bình đẳng theo cách thứ nhất,
nghĩa là sự chênh lệch về thu nhập giữa các cá nhân trong xã hội. Như đã nói
ở phần trên, sự chênh lệch này là điều không thể tránh khỏi trong nền kinh tế
thị trường. Nhưng nếu khoảng cách chênh lệch quá cao sẽ dẫn tới bất ổn xã
hội và những hậu quả của nó sẽ là khôn lường khi xã hội bị phân cực và
nghèo đói di truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
2. Cơ sở và thước đo bất bình đẳng thu nhập trong xã hội
a) Thước đo bất bình đẳng thu nhập
Một thước đo bất bình đẳng thu nhập hay được sử dụng là hệ số Gini.
Hệ số Gini nhận giá trị từ 0 đến 1. Số 0 tượng trưng cho sự bình đẳng thu
nhập tuyệt đối (mọi người đều có cùng một mức thu nhập), số 1 tượng trưng
cho sự bất bình đẳng thu nhập tuyệt đối. Hệ số Gini của một nước càng cao
thì sự bất bình đẳng về thu nhập của nước đó càng lớn.
b) Cơ sở tạo nên bất bình đẳng thu nhập
Để trả lời câu hỏi tại sao lại có bất bình đẳng thu nhập, chúng ta cần
nghiên cứu hình thức phân phối thu nhập để biết được các cá nhân có thu
nhập là bao nhiêu và nguồn gốc nào tạo ra thu nhập. Phân phối thu nhập bao
gồm hai giai đoạn: phân phối theo chức năng (phân phối lần đầu) và phân
phối lại thu nhập.
Phân phối lần đầu được coi là nguyên nhân chính dẫn đến sự chênh
lệch về thu nhập giữa các nhóm dân. Điều này là do phân phối được xác
định chủ yếu dựa vào quyền sở hữu các yếu tố sản xuất như nhân công, đất
đai, vốn… và vai trò của từng yếu tố trong quá trình sản xuất. Mỗi cá nhân
sở hữu lượng các yếu tố sản xuất khác nhau. Số lượng các yếu tố này một
được trình bày trong các phần tiếp theo đây.
II. Thực trạng bất bình đẳng thu nhập tại Việt Nam
1.Tình trạng bất bình đẳng thu nhập có xu hướng ngày càng tăng
Hiện nay, Việt Nam đang trên đà phát triển và ngày càng được biết đến như
một nền kinh tế năng động hàng đầu trong danh sách các nước đang phát
triển trên thế giới. Đặc biệt là sau khi gia nhập tổ chức kinh tế thế giới WTO
thì dòng vốn FDI ồ ạt chảy vào Việt Nam càng làm cho nền kinh tế có
những khởi sắc đáng tự hào. Thu nhập thực tế trên đầu người tăng khoảng
7%/năm. Tỷ lệ nghèo đói giảm nhanh chóng và liên tục. Khoảng 30 triệu
người, tương đương một phần ba dân số, đã thoát khỏi cảnh nghèo đói. Song
bên cạnh đó một vấn đề nan giải đang được đặt ra là chênh lệch thu nhập
đang có xu hướng tăng lên và tăng nhanh hơn người ta tưởng.
Dưới đây là hệ số Gini tính từ thu nhập của Việt nam từ 1993 đến nay:
Bảng số liệu 1: Hệ số Gini tính từ thu nhập của Việt Nam từ 1993 đến nay
Năm 1993 1998 2002 2006 2007 2008
Hệ số
Gini
0.35 0.39 0.42 0.43 0.432 0.435
( Nguồn: Số liệu của Ngân hàng Thế Giới WB)
6
Qua bảng số liệu này cho ta thấy hệ số Gini của Việt Nam không
ngừng tăng với mức tăng tương đối đồng đều từ những năm 1993 trở lại đây,
từ đó nó phản ánh tình trạng bất bình đẳng thu nhập ở Việt Nam ngày càng
tăng lên theo thời gian. Nghiên cứu hệ số Gini một mặt cho phép ta kết luận
về tình trạng bất bình đẳng thu nhập ở Việt Nam, mặt khác từ những số liệu
đó liệu chúng ta có thể dự đoán được rằng trong tương lai hệ số đó sẽ biến
động như thế nào? Tình trạng bất bình đẳng thu nhập ở Việt Nam sẽ còn
tiếp tục tăng hay không?
Bên cạnh việc đánh giá bất bình đẳng thu nhập thông qua hệ số Gini
thì chênh lệch giàu nghèo ngày càng tăng cũng là một biểu hiện khá sâu sắc
+) Năm 1993, chi cho tiêu dùng bình quân đầu người của gia đình
giàu nhất cao gấp 5 lần so với gia đình nghèo nhất, năm 2004 tỷ lệ này tăng
lên 6,3 lần. Do vậy, tỷ lệ chi tiêu bình quân đầu người của nhóm giàu nhất
trong tổng chi tiêu dùng xã hội tăng từ 41,8% lên 44,7%, trong khi đó nhóm
nghèo nhất lại giảm từ 8,4% xuống còn 7,1% ở cùng thời kỳ.
+) Năm 2006 người giàu ở Việt Nam chi tiêu cho sinh hoạt-mua sắm
cao gấp 8 lần, và cho vui chơi-giải trí cao hơn 70 lần, so với người nghèo.
Đi đôi với sự chênh lệch về thu nhập là sự chênh lệch trong việc
hưởng các phúc lợi xã hội, các dịch vụ y tế, giáo dục giữa người giàu và
người nghèo ngày càng tăng. Những hộ thuộc nhóm giàu nhất có điều kiện
nhà ở, phương tiện đi lại, đồ dùng trong sinh hoạt tốt hơn, có nhiều cơ hội
tiếp cận với các dịch vụ xã hội chất lượng cao và có mức hưởng thụ văn hóa
tinh thần, mức sống cao hơn so với nhóm hộ nghèo.
Trên đây là đánh giá chung về tình trạng bất bình đẳng thu nhập ở
nước ta hiện nay. Các phần tiếp theo dưới đây sẽ đi vào phân tích cụ thể sự
chênh lệch trong thu nhập giữa nông thôn và thành thị, giữa dân tộc Kinh,
thành phần chiếm đa số trong tổng lượng dân cả nước, và người sắc tộc thiểu
8
số thường sống ở vùng cao nguyên, vùng sâu vùng xa; chênh lệch trong thu
nhập về giới, chênh lệch trong thu nhập giữa lao động trong và ngoài khu
vực FDI và ngay giữa các lao động trong khu vực FDI.
2. Chênh lệch về thu nhập giữa nông thôn và thành thị ngày càng
tăng
Tỉ lệ nghèo đói ở cả hai khu vực nông thôn và đô thị đều giảm dần
trong những năm gần đây, nhưng ở nông thôn không giảm nhanh bằng đô
thị. Điều này đã làm cho sự chênh lệch về tỉ lệ nghèo giữa nông thôn và đô
thị ngày càng doãng ra từ 2,65 lần (1993) lên 4,95 lần (1998), 5,4 lần (2002)
và lên đến 6,94 lần (2004).
Việt Nam là nước nông nghiệp có 75% dân số là nông dân nghèo sinh
sống ở nông thôn. Nông thôn chiếm 80% dân số và thu nhập thì chỉ khoảng
người Kinh và người Hoa; tỷ lệ nghèo của đồng bào dân tộc thiểu số từ
86,4% năm 1993 giảm xuống còn 52,3% vào năm 2006 (trên 7 triệu người),
trung bình mỗi năm giảm 2,4%, trong khí đó tỷ lệ nghèo của người Kinh và
Hoa là 53,9% năm 1993 giảm còn 10,36% vào năm 2006 trung bình mỗi
năm giảm 3,15%.
- Khoảng cách nghèo (chỉ số nghèo) giữa các nhóm người dân tộc
thiểu số và người Kinh, người Hoa cũng có sự chênh lệnh đáng kể (chỉ số
nghèo là khoảng cách chênh lệch trung bình giữa chi tiêu của nhóm nghèo
10
với chuẩn nghèo tính theo chi tiêu); khoảng cách nghèo của nhóm dân tộc
thiểu số là 34,7% năm 1993 xuống còn 15,4% năm 2006, trong khi đó
khoảng cách nghèo của người Kinh và Hoa là 10% năm 1993 giảm xuống
còn 2% năm 2006 (sát chuẩn nghèo)
- Tỷ lệ nghèo của đồng bào dân tộc thiểu số giữa các vùng khó khăn
nhất cũng có sự khác nhau; Tỷ lệ nghèo của đồng bào dân tộc thiểu số vùng
Tây Bắc từ gần 90% năm 1993 giảm xuống còn dưới 60% năm 2006; trong
khi đó tỷ lệ nghèo của đồng bào dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên giảm từ
trên 90% xuống còn 70% trong cùng thời gian trên.
- Tỷ lệ nghèo giữa các nhóm dân tộc thiểu số cũng khác nhau. Nhóm
dân tộc Tày, Thái, Mường, Nùng tỷ lệ nghèo năm 1993 là 82% xuống còn
khoảng 42% năm 2006. Các nhóm dân tộc thiểu số khác từ 84% (1995) giảm
xuống còn 50%. Trong khi đó người Kinh từ 52% (năm 1993) xuống còn
10% (2006); người Hoa từ 15% (1993) xuống còn 7% (2006).
Nhóm các dân tộc thiểu số ít người ở Tây Nguyên từ 96% giảm xuống còn
khoảng 73% cùng trong khoảng thời gian trên ( Eđê, Raglai ). Nhóm dân
tộc thiểu số ít người khác ở miền núi phía Bắc từ 85% (năm 1993) giảm
xuống còn trên 70% (năm 2006). Nhìn chung nhóm dân tộc thiểu số có tỷ lệ
nghèo cao gấp nhiều lần tỷ lệ nghèo chung của cả nước, nhất là nhóm dân
tộc thiểu số ít người; tập trung ở vùng Tây Nguyên, Tây Bắc, Đông Bắc,
miền Tây Bắc Trung Bộ, và Nam Trung Bộ.
nhà của nam giới bình quân là 1,6h/ngày, trong khi của phụ nữ là 2,2h/ngày.
12
Tuy nhiên, đóng góp về thu nhập tiền mặt của họ lại ít hơn, và họ cũng ít có
quyền pháp lý hơn đối với tài sản - những tài sản có được nhờ nỗ lực của họ
hay phụ nữ có ít quyền cở hữu đất đai hơn nam giới cũng làm cho thu nhập
của họ thấp hơn
5. Bất bình đẳng thu nhập trong khu và ngoài khu vực FDI
Trong những năm gần đây khi làn sóng FDI đầu tư vào Việt Nam một cách
mạnh mẽ thì nó cũng trở thành một nhân tố làm sâu sắc hơn sự bất bình đẳng
trong thu nhập giữa lao động trong và ngoài khu vực FDI và bất bình đẳng
ngay giữa các lao động trong khu vực FDI.
a. Bất bình đẳng trong thu nhập giữa lao động trong và ngoài khu vực
FDI
Nếu tính bình quân lương tháng của toàn bộ lao động trong doanh nghiệp
qua các cuộc khảo sát tiền lương do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
tiến hành từ đầu thập kỷ này thì người lao động trong doanh nghiệp FDI vẫn
được hưởng mức lương cao hơn so với ở các doanh nghiệp trong các khu
vực khác khoảng 2 lần và còn có xu hướng gia tăng vì theo thống kê tiền
lương DN FDI thực trả cho người lao động có xu hướng gia tăng, với mức
tăng bình quân 25%/năm. Theo số liệu thống kê được cho thấy:
+ Tiền lương của khối DN nhà nước thấp nhất là 800 nghìn
đồng/người/tháng; bình quân khoảng 2,5 triệu đồng/tháng. Cá biệt có người
làm việc trong DN Nhà nước thu nhập 20 triệu đồng/tháng.
+ Tiền lương thấp nhất ở khối DN dân doanh còn thấp hơn khối DN nhà
nước, vỏn vẹn 700 nghìn đồng/tháng; cao nhất là 8 triệu đồng/người/tháng
(trung bình chỉ được gần 1,6 triệu đồng/tháng).
13
+ Khối DN có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) vẫn có mức tiền lương khá nhất:
thấp nhất là 1 triệu đồng và cao nhất 32 triệu đồng/người/tháng
Số liệu công bố qua các cuộc điều tra gần đây về tiền lương còn cho thấy các
trong doanh nghiệp hiện có mức thu nhập bình quân 10, 231 triệu
đồng/người/tháng, gấp 9,86 lần so với mức thu nhập trung bình của lao động
phổ thông và gấp 2,29 lần so với lao động quản lý bậc trung.
Như vậy, qua các phân tích và số liệu trên đây, chúng ta có thể thấy
mức độ bất bình đẳng thu nhập ở Việt Nam hiện nay không phải là chấp
nhận được và chưa đáng lo ngại như cách nhìn từ trước đến nay. Tuy tình
trạng này chưa đến mức báo động, nhưng nó đang gia tăng và không có dấu
hiệu giảm xuống. Nếu như mức chênh lệch này quá cao sẽ mang lại hậu quả
nguy hại nghiêm trọng, nhất là khi xã hội bị phân cực và nghèo đói di truyền
từ thế hệ này sang thế hệ khác.
III. Nguyên nhân thực trạng bất bình đẳng tại Việt Nam
1. Sự khác nhau về sở hữu các yếu tố sản xuất cũng như khác
nhau về cơ hội vươn lên.
Như đã đề cập tới trong phần I, bất bình đẳng thu nhập là do sự khác
nhau về việc sở hữu các yếu tố sản xuất như lao động, vốn, đất đai… cũng
như khác nhau về cơ hội vươn lên. Trong quá trình cải cách kinh tế thời kì
15
đổi mới và mở cửa hội nhập kinh tế thế giới, kinh tế nước ta đã và đang tăng
trưởng nhanh chóng, mức sống người dân được cải thiện đáng kể. Nhiều
người giàu lên nhanh chóng nhưng nhiều người nghèo lại nghèo đi vì bị gạt
ra ngoài rìa công cuộc phát triển kinh tế, và những lợi ích mà họ thu được từ
toàn cầu hoá còn quá ít. Thực tế hiện nay ở Việt Nam, trong khi toàn xã hội
nói chung đều được hưởng lợi từ tăng trưởng kinh tế, thì những người nghèo
được hưởng lợi ít hơn: những người nghèo chỉ được hưởng lợi bằng 75,6%
của mức bình quân, trong khi người giàu được hưởng lợi nhiều hơn hẳn,
bằng 115% so với mức tăng trưởng kinh tế. Tại sao lại như vậy? Về nguyên
tắc thì tăng trưởng kinh tế mang lại cơ hội cho tất cả mọi người, nhưng thực
chất, chỉ một số ít người, đặc biệt là ngay từ thời điểm ban đầu, lanh lợi và
có đủ khả năng tiếp cận và nắm bắt được những cơ hội này. Và dĩ nhiên là
người giàu thì nắm được nhiều cơ hội hơn. Người giàu có nhiều thông tin,
mục tiêu quốc gia và các cơ chế bảo trợ xã hội khác đều căn cứ vào hộ tịch.
Một điểm khác nữa là từ các số liệu được trình bày trong phần thực
trạng, có thể thấy trong ngắn hạn, làn sóng FDI sau khi VN gia nhập WTO
cũng là một nguyên nhân làm tăng sự bất bình đẳng về thu nhập không chỉ ở
khu vực thành thị, mà cả giữa khu vực thành thị và nông thôn do mức lương
cao hơn ở khu vực thành thị sẽ kích thích làn sóng nhập cư từ nông thôn,
trong khi thu nhập của lao động ở nông thôn không được cải thiện.
2. Về các thể chế chính sách của Nhà nước
17
Nguyên nhân thứ hai là các thể chế chính sách của Nhà nước nhằm tái
phân phối thu nhập chưa thực sự hiệu quả. Nhà nước có thể thông qua hệ
thống thuế và chuyển giao luỹ tiến, các chương trình trợ cấp và chi tiêu, cải
cách ruộng đất, chính sách nhằm tăng cường cơ hội tiếp cận giáo dục cho
nhiều người, từ đó giảm bớt mức thu nhập của người giàu và nâng cao thu
nhập của người nghèo. Nhìn vào kế họach của nhà nước người ta thấy có
những bước rất tích cực. Nhằm giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 15% vào
năm 2010, Thủ tướng Chính phủ đã thông qua khoản đầu tư từ 60.000 đến
62.000 tỷ đồng Chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo giai
đoạn 2006-2010. Các bộ, ngành nghiên cứu chủ động áp dụng các hình thức
hỗ trợ cần thiết phù hợp với quy định trong WTO đối với người nghèo, vùng
nghèo, đối với những bộ phận xã hội ít được hưởng lợi hoặc bị thiệt thòi
trong quá trình hội nhập, đặc biệt quan tâm tới nông nghiệp, nông thôn và
nông dân. Tuy nhiên kinh nghiệm lịch sử cho thấy, đối với các quốc gia có
mức thu nhập đầu người thấp như VN, mỗi thay đổi nhỏ về chính sách chi
tiêu công cộng thường đem lại nhiều lợi ích hơn cho người giàu. Theo Báo
cáo Phát triển thế giới 2004 của WB, công bố cuối tháng 9/2003, nhóm 1/5
nghèo nhất của dân cư nhận được ít hơn 1/5 chi tiêu cho giáo dục hoặc y tế,
trong khi nhóm 1/5 giàu nhất lại nhận được nhiều hơn. Lý do cơ bản là chi
tiêu công cộng đã nghiêng lệch về những dịch vụ được người giàu tiêu dùng
nhiều hơn, cho dù ban đầu nó có xu hướng vươn tới người nghèo. Đối với
Căn cứ vào những thực trạng và nguyên nhân đã đề cập ở phần trên,
dưới đây là một số kiến nghị giải pháp nhằm hạn chế bất bình đẳng thu nhập
tại Việt Nam:
20
Trong thời gian trước mắt, cần phải kiểm soát lạm phát một cách hiệu
quả, đồng thời đảm bảo cho người nghèo, kể cả người mới bị nghèo, được
trợ giúp. Đặc biệt, Chính phủ cần có biện pháp khẩn cấp để giảm bớt tình
cảnh khó khăn của những người dân di cư nghèo hiện đang sinh sống và làm
việc tại các thành phố mà không đăng ký cư trú và đang phải hứng chịu tác
động tiêu cực của tình trạng khó khăn về kinh tế trong thời gian gần đây.
Về trung và dài hạn, Chính phủ cần tiếp tục :
+ Duy trì tăng trưởng kinh tế cao, mang lại lợi ích cho người nghèo
cũng như mọi đối tượng dân cư khác, tuy nhiên cùng với nó phải thiết lập cơ
chế phân phối thu nhập và phi thu nhập qua hệ thống thuế và chuyển giao
luỹ tiến. Xử lý những thất bại của thị trường một cách hiệu quả.
+ Để hạn chế lực lựơng lao động nông thôn di chuyển đến thành thị,
cần phải di chuyển nguồn vốn phân bổ về nông thôn, công nghiệp hoá nông
thôn, tạo công ăn việc làm, mở thêm trường dạy chữ và dạy nghề cho nông
dân, giúp nông dân tăng năng suất và thu hoạch (trồng hoa màu gì, trồng như
thế nào, tìm kiếm và phát triển thị trường khách mua ra sao, vv), cũng như
nâng cấp cơ sở hạ tầng nông thôn. Ngoài ra, cũng cần thiết phải có một
mạng lứơi ngân hàng tín dụng ưu đãi hoặc hỗ trợ người nông dân trong cuộc
sống và sản xuất.
+ Rà soát và cải thiện chính sách cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản
cũng như các dịch vụ bảo trợ xã hội theo nguyên tắc bình đẳng và phục vụ
cho mọi đối tượng dân cư. Chấn chỉnh quản lý tốt các chương trình trọng
điểm quốc gia về xóa đói, giảm nghèo
21
+ Tiếp tục xây dựng một hệ thống an sinh xã hội mang tính toàn diện,
phục vụ cho mọi đối tượng dân cư và dựa trên các chế độ/chính sách về
không còn cảnh “người giàu giàu mãi còn người nghèo vẫn cứ nghèo mãi”.
23
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Phùng, Vũ Thị Ngọc (2006). Giáo trình kinh tế phát triển, Nhà xuất bản Lao
động và xã hội.
Trần Nam Bình (2008), “ Vai trò của bất bình đẳng kinh tế, ghen tị và thiếu
thốn tương đối trong phát triển bền vững tại Việt Nam”, Thời đại mới 14
(tháng 7)
Đoan Trang. (2008, 24/7). VN: Số ít người giàu hưởng phần nhiều quyền lợi.
Được lấy về từ: http://www.tuanvietnam.net/news/
Hồng Loan. (2008. 14/6). Chênh lệch giàu-nghèo tại Việt Nam. Được lấy về từ:
http://www.nguoidaibieu.com.vn/Trangchu/VN/tabid/66/CatID/2/ContentID/
Thông tấn xã Việt Nam. (2007. 31/3). Chênh lệch giàu nghèo ở Việt Nam đang
nới rộng. Được lấy từ: http://www.download.onboom.com/GL/Kinh-doanh
Tư Giang. (2008. 19/11). Người giàu nhận phúc lợi xã hội cao gần gấp sáu lần
người nghèo. Được lấy từ: http://www.sgtt.com.vn/Detail23.aspx?
ColumnId=23&NewsId=43564&fld
Nguyễn Nữ Thắng (2008. 06/12). Giàu nghèo và hệ luỵ của sự phát triển.
Được lấy về từ: http://www.download.onboom.com/GL/Kinh-
doanh/2004/01/3B9CF6FD/
Lê Bạch Dương (2008. 26/10). Khi người nghèo thiếu cơ hội vươn lên. Được
lấy về từ: http://www.vnn.vn/chinhtri/doimoi/2004/05/107296/
Ts Đỗ Thiên Kính (2008. 20/5). Cái nhìn khác về bất bình đẳng tại Việt Nam.
Được lấy về từ:
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/specials/170_viet_studies/page12.shtml
Mai Thanh Tú (2007. 27/12). Bất bình đẳng ở Việt Nam - Khoảng cách lớn
như thế nào? Được lấy về từ:
http://www.ipsard.gov.vn/news/forumdetail.asp?targetID=2244
Phước Hà. (2007, 10/11). Giá cả tăng: Phân hóa giàu nghèo sẽ nhanh và mạnh
hơn. Được lấy về từ : http://www.vnn.vn/chinhtri/doimoi/