Quỹ đầu tư chứng khoán và thực trạng của các quỹ đầu tư tại Việt Nam hiện nay - Pdf 96

LỜI MỞ ĐẦU
Trước xu thế phát triển và hội nhập kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ
như hiện nay thì nhu cầu về vốn để đẩy mạnh phát triển kinh tế , tránh tụt
hậu là vấn đề cần thiết đối với mỗi nước . Để huy động vốn một cách tối
đa , ngoài sự góp mặt của ngân hàng còn có một số tổ chức phi ngân hàng
khác điển hình là quỹ đầu tư (QĐT) , một định chế tài chính trung gian
tham gia hoạt động kinh doanh trên thị trường đặc biệt là trên thị trường
chứng khoán (TTCK) .
Tính đến nay thì thị trường chứng khoán ở Việt Nam đã hoạt động
được hơn 3 năm. Qua báo cáo tổng kết về sư hoạt động của TTCK, chúng
ta có thể nhận thấy sự không ổn định của TTCK, giá cả chứng khoán và
chỉ số chứng khoán luôn biến động. Và một trong những nguyên nhân đó
là thiếu vắng các tổ chức đầu tư chuyên nghiệp như các QĐT. Mặt khác,
các báo cáo, chuyên đề ít đề cập đến QĐT chứng khoán, khái niệm QĐT
chứng khoán vẫn còn xa lạ và mới mẻ với công chúng nói chung và các
nhà đầu tư nói riêng. Mặc dù, sự hiện diện của QĐT không những chỉ cần
thiết cho TTCK mà còn rất cần thiết cho sự phát triển của toàn bộ nền
kinh tế. Có thể coi QĐT là cầu nối hữu hiệu giữa người tiết kiệm và nhà
đầu tư, phổ cập đầu tư chứng khoán, phát huy nội lực, đẩy nhanh tốc độ
cổ phần hoá. Ngoài ra, thông qua QĐT, việc huy động vốn đầu tư nước
ngoài và tiếp cận thị trường vốn quốc tế trở nên dễ dàng hơn. QĐT là
phương tiện thuận lợi đơn giản và linh hoạt góp phần và tham gia vào sự
tăng trưởng trong tương lai của nền kinh tế Việt Nam .
Bởi những lý do đó em đã chọn đề tài này với tên gọi “Quỹ đầu tư
chứng khoán và thực trạng của các quỹ đầu tư tại Việt Nam hiện nay”.
Đề tài này được kết cấu như sau :
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về quỹ đầu tư chứng khoán
Chương 2: Khái quát về quỹ đầu tư tại một số nước trên thế giới.
Thực trạng các quỹ đầu tư tại Việt Nam .
1
Chương 3: Định hướng hình thành và phát triển quỹ đầu tư tại Việt Nam .

đầu tư, giảm thiểu rủi ro. Đây chính là ý tưởng bỏ trứng vào nhiều giỏ.
Một danh mục đầu tư được phân tán rủi ro hợp lý tường bao gồm một số
lượng tối thiểu các laọi chứng khoán khác nhau để tránh rủi ro do đầu tư
tập trung vào một loại chứng khoán nào đó. Bởi vì theo thuyết đầu tư
hiện đại, rỉu ro của toàn bộ danh mục đầu tư có thể được giảm bằng việc
đa dạng hoá danh mục đầu tư vào một số lượng lớn cổ phiếu của các
nghành công nghiệp khác nhau với mức sinh lời tương đương với mức rủi
ro khác nhau. Quỹ đầu tư có thể tạo ra các sản phẩm khác nhau như
chứng chỉ tiền gửi ngân hàng vẫn đẩm bảo tiền gốc bằng việc giao dịch
tổng hợp các công cụ trên thị trường tiền tệ như chứng chỉ tiền gửi và
thương phiếu. Các quỹ cũng có thể tạo ra danh mục đầu tư chuyên ngành
bằng việc đầu tư vốn của quỹ vào các cổ phiếu của nhóm ngành công
nghiệp được mọi người ưa chuộng… Tuy nhiên các chứng khoán trong
danh mục đầu tư phải thường xuyên đánh giá để có những thay thế, điều
chỉnh cần thiết.
Một lợi thế khác phải kể đến, đó là dịch vụ đầu tư chuyên nghiệp. Các
tổ chức quản lý quỹ có các chuyên gia thực hiện việc phân tích kinh tế vi
mô, vĩ mô và phân tích thị trường, xây dựng các danh mục đầu tư phù
hợp để đạt được mục đích của quỹ đầu tư. Khả năng của các chuyên gia
này được đánh giá định kỳ dựa trên tổng giá trị lợi tức của các quỹ do họ
tạo ra. Với xu thế tự do hoá thị trường tài chính, thông qua việc bãi bỏ
dần các quy định pháp luật và việc xuất hiện tràn ngập các sản phẩm mới
như các công cụ tái sinh tài chính, đòi hỏi các kỹ năng tài chính và phân
tích toán học có tính nguỵ biện cao mà những người không có chuyên
môn sâu không thể hiểu thấu sự phức tạp của thị trường cung như áp
dụng vào thực tế những cách thức này dễ đạt được mục tiêu đầu tư của
3
họ. Sự bãi bỏ quy định mang lại những cơ hội lớn để thực hiện nhiều
phương thức đầu tư khác nhau mà chỉ các chuyên gia mới nắm được. Vì
vậy các chuyên gia luôn luôn phải trau dồi các kiến thức chuyên môn để

giá chứng khoán trên thị trường, nhưng xác suất bị tổn thất do gian lận,
bê bối hoặc phá sản liên quan dến công ty quản lý quỹ là rất nhỏ. Khuôn
khổ pháp lý và việc quản lý chặt chẽ của các cơ quan có them quyền đối
với quỹ đầu tư đem lại những đảm bảo cơ bản.
1.1.3.Vai trò của quỹ đầu tư chứng khoán.
1.1.3.1. Vai trò đối với các nhà đầu tư.
Lợi ích lớn nhát của nguồn vốn đầu tư là đa dạng hoá đầu tư, phân tán
rủi ro.Với quỹ đầu tư chứng khoán, ngay cả khi một cá nhân có lượng
vốn nhỏ vẫn có thể đa dạng hoá đầu tư vào nhiều loại chứng khoán khác
nhau. Người đầu tư được thu lợi từ việc đầu tư chuyên nghiệp với hiệu
quả cao và chi phí thấp.Từ những lý do trên người đầu tư sở hữu những
chứng chỉ đầu tư có tính thanh khoăn cao, họ có thể rút vốn nhanh chóng
bằng việc bán lại các chứng chỉ trên TTCK.
1.1.3.2. Vai trò đối với nhà quản lý vốn.
Những nhà quản lý vốn là những người có kiến hức chuyên môn có
trình độ dự đoán và phân tích thông tin cho nên họ được uỷ thác đầu tư .
Thông qua những hoạt động này họ thu được hoa hang và những khoản
thưởng.
1.1.3.3. Vai trò đối với nền kinh tế.
- Quỹ góp phần huy động vốn cho việc phát triển nền kinh tế nói
chung và sự phát triển của hị trường sơ cấp . Trên thị trường sơ cấp,quỹ
đầu tư đóng vai trò tích cực trong việc tham gia, thúc đẩy hoạt động bảo
lãnh phát hành, phân phối chứng khoán giúp các chủ thể, phát hành huy
động vốn mmột cách hiệu quả, tạo thêm hàng hoá cho thị trường.
- Quỹ góp phần ổn định thị trường thứ cấp.
5
Trên thị trường thứ cấp, với những kĩ năng phân tích đầu tư chuyên
nghiệp và nguồn vốn lớn, dài hạn người đầu tư có thể tiến hành kiểm soát
sự biến động giá chứng khoán do sự mất cân đối cung - cầu tạo sự ổn
định cần thiết trên thị trường thứ cấp.

- Quỹ đầu tư tập thể
1.2.1.1.Quỹ đầu tư tư nhân: Là loại hình quỹ đầu tư được hình thành do
một số tổ chức và cá nhân góp vốn và thuê công ty quản lý quỹ nhămf
mục đích đầu tư vốn của mình một cách có lợi nhất và đảm bảo quản lý
chặt chẽ vốn đầu tư.
Xuất phát từ nguồn vốn huy động ở một số ít tổ chức và cá nhân có
quan hệ với nhau, nên các quỹ này có thể đầu tư vào các dự án dài hạn,
có tiềm năng phát triển cao và chịu đựng được mức rủi ro lớn. Các quỹ
này thường đầu tư vào chứng khoán của những công ty này phát triển đến
mức độ nhất định, họ có thể thu hồi vốn bằng cách bán lại phần vốn góp
hoặc những chứng khoán mà họ nắm giữ.
Có nhiều dạng quỹ đầu tư tư nhân trong đó có hai loại quỹ điển hình
và phổ biến trên thị trrường vốn thế giới là:
- Quỹ phòng ngừa rủi ro: Là hình thức chung vốn đầu tư, vốn của các
thành viên được góp lại với mục đích kinh doanh chứng khoán. Các quỹ
phòng ngừa rủi ro đều có chiến lược kinh doanh riêng và đầu tư vào rất
nhiều các công cụ tài chính khác nhau.
- Quỹ đầu tư mạo hiểm: Cũng là một trong các dạng quỹ đầu tư riêng
lẻ, xuất hiện từ những năm 70 tại các thị trường phát triển. Quỹ huy động
vốn chủ yếu từ các tổ hợp công nghiệp lớn và các định chế tài chính lớn.
Hình thức đầu tư chủ yếu ban đầu của quỹ là đầu tư trực tiếp. Tuy nhiên,
từ những năm 80 hình thức đầu tư đã thay đổi. Việc tiến hành đầu tư
được thực hiện thông qua các nhà quản lý đầu tư tư nhân chuyên nghiệp,
7
người đứng thay mặt cho các nhà đầu tư là các định chế tài chính tiến
hành việc đầu tư.
1.2.1.2. Quỹ đầu tư tập thể: Là loại quỹ mà số lượng đầu tư tham gia góp
vốn đông hơn quỹ đầu tư riêng lẻ, tất cả mọi người có thể tham gia. Đó là
những người tiết kiệm, những người đầu tư chuyên nghiệp, những người
đầu tư nhỏ và phần lớn là các cá nhân- những người không có kiến thức

Khác với quỹ đầu tư dạng đóng, các quỹ đầu tư dạng mở luôn phát hành
thêm những cổ phiếu mới để tăng thêm vốn và cũng sẵn lòng chuộc lại
những cổ phiếu đã phát hành. Các cổ phiếu của quỹ được bán trực tiếp
cho công chúng, không qua thị trường chứng khoán. Muốn mua cổ phiếu
của quỹ đầu tư dạng mở, không phải qua môi giới. Do đó tạo cơ hội cho
bất kỳ ai cũng có thể tham gia và trở thành chủ sở hữu của quỹ. Quỹ cho
phép các nhà đầu tư bán lại chứng chỉ đầu tư cho Quỹ bất cứ lúc nào
theo giá trị tài sản ròng cùng chứng chỉ(Net asset value pershare) chứ
không theo giá thị trường trong một thời gian luật định.
Vì quỹ mở liên tục mua bán cổ phần nên lượng tiền trong quỹ phục vụ
cho hoạt động đầu tư sẽ bị ảnh hưởng nặng nề nếu các nhà đầu tư rút vốn
đồng loạt dưới sự tác động của các yếu tố trên thị trường.
Bảng so sánh hai loại quỹ: Quỹ đóng và quỹ mở
Chỉ tiêu Quỹ đầu tư mở Quỹ đầu tư đóng
Số lượng chứng
khoán lưu hành
Luôn thay đổi Cố định
Chào bán cho công
chúng
Liên tục Một lần
Việc mua lại Có mua lại Không mua lại
Nơi mua bán chứng
chỉ của quỹ
Mua bán trực tiếp tại
quỹ qua công ty quản lý
quỹ
Cổ phiếu giao dịch
trên thị trường chứng
khoán tập trung và OTC
Mối quan hệ giữa giá

độ tín nhiệm được đánh giá ở mức độ khác nhau hoặc đầu tư vào những
chứng khoán nợ có rủi ro cao nhưng kỳ vọng lợi nhuận cao. Có thể phân
quỹ đầu tư trái phiếu thành các loại: Quỹ đầu tư trái phiếu chính phủ, quỹ
đầu tư vào trái phiếu doanh nghiệp, quỹ đầu tư từ trái phiếu nội địa, quỹ
đầu tư từ trái phiếu nước ngoài.
1.2.3.3. Quỹ đầu tư thị trường tiền tệ.
10
Quỹ đầu tư vào thị trường tiền tệ nhằm vào các công tcụ tài chính như:
Tín phiếu, thương phiếu, kỳ phiếu, hối phiếu. Sự ổn định của quỹ phụ
thuộc vào thái độ ứng xử của các nhà đầu tư, khi thị trường chứng khoán
phát triển mạnh, người đầu tư rút tiền trên thị trường tiền tệ để đầu tư vào
đầu tư trên thị trường chứng khoán.
1.2.3.4. Quỹ đầu tư kết hợp.
Quỹ đầu tư kết hợp có thể kết hợp giữa cổ phiếu, trái phiếu, và các
loại tài sản khác như bất động sản…
1.2.4.Căn cứ và mục đích đầu tư.
1.2.4.1. Quỹ tăng trưởng: Đầu tư vào cổ phiếu của các công ty kinh doanh
thành đạt. Mục tiêu chính là tăng giá trị của các khoản đầu tư chứ không
nhằm vào dòng cổ tức thu được. Người đầu tư vào các quỹ này quan tâm
đến việc giá cổ phiếu đang lên hơn là khoản thu từ cổ tức.
1.2.4.2. Quỹ tăng trưởng thu nhập: Quỹ này đầu tư chủ yếu vào cổ
phiếu thường có giá trị cao đồng thời có mức cổ tức ổn định. Kiểu quỹ
này muốn kết hợp cả hai yếu tố tăng vốn trung, dài hạn và dòng thu nhập
ổn định trong ngắn hạn.
1.2.4.3. Quỹ thu nhập: Để có được thu nhập ổn định, quỹ giành phần lớn
vốn để đầu tư vào trái phiếu và cổ phiếu ưu đãi lẫn công cụ đầu tư có thu
nhập thường xuyên ổn định.
1.2.5. Căn cứ vào cơ cấu tổ chức điều hành.
1.2.5.1. Quỹ đầu tư dạng công ty( Corporate fund ).
Theo mô hình này, quỹ đầu tư được xem là một pháp nhân đầy đủ,

các thị trường chứng khoán mới nổi. Đặc biệt là các TTCK đang phát
triển ở Châu á.
Mô hình tín thác
Công ty quản lý
quỹ
Ngân hàng giám sát
bảo quản
Quỹ đầu tư
Người đầu tư 1
Nguồn đầu tư 2
Người đầu tư 3
13
CHƯƠNG II: KHÁI QUÁT VỀ CÁC QUỸ ĐẦU TƯ TẠI MỘT
SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA
CÁC QUỸ ĐẦU TƯ TẠI VIỆT NAM.
2.1. Khái quát về các quỹ đầu tư tại một số nước trên thế giới.
2.1.1. Quỹ đầu tư tại Mỹ.
Thị trường chứng khoán Mỹ là nơi có ngành quỹ đầu tư rất phát triển.
Các quỹ đầu tư hoạt động theo cả hai mô hình quỹ đầu tư dạng công ty và
dạng tín thác đầu tư, trong đó quỹ đầu tư dạng công ty đặc biệt là các quỹ
đầu tư dạng mở chiếm ưu thế trong ngành quỹ đầu tư tại Mỹ.
Theo luật công ty đầu tư 1940, quỹ đầu tư tập thể tại Mỹ bao gồm các
loại hình chính sau:
- Công ty phát hành chứng chỉ ghi mệnh giá(Face amunt
Certificate).
Đến nay loại hình công ty này hầu như không còn tồn tại nữa. Các nhà
đầu tư vào công ty phát hành chứng chỉ ghi mệnh giá phải trả một khoản
cố định hàng tháng cho công ty đầu tư để đầu tư số tiền đó vào các công
cụ nợ có chất lượng cao nhất như các công cụ nợ của chính phủ Mỹ và
các trái phiếu công ty, trái phiếu chính phủ xếp hạng AAA.

tư tại Mỹ. Quỹ dạng đóng trở nên ít thông dụng hơn và chỉ chiếm chưa
tới 5% tổng giá trị tài sản của ngành.
Các quỹ đầu tư tập thể tại Mỹ ra đời trước khi có luật điều chỉnh chính
thức. Bộ luật công ty đầu tư 1940 và luật song hành với nó là luật các nhà
tư vấn đầu tư 1940 là các văn bản pháp luật chính điều chỉnh tổ chức và
hoạt động của quỹ đầu tư và được uỷ ban giao dịch và chứng khoán Hoa
Kỳ ban hành sau khi nghiên cứu thực tiễn hoạt động của các công ty đầu
tư. Các công ty đầu tư tại Mỹ cũng thuộc điều chỉnh của các luật khác
như luật chứng khoán 1933 và luật giao dịch và chứng khoán 1934 về yêu
cầu công bố thông tin và các chế độ báo cáo. Uỷ ban giao dịch và chứng
15
khoán Mỹ có thêm quyền thanh tra và giám sát hoạt động của các công ty
đầu tư cũng như các nhà tư vấn đầu tư.
2.1.2. Quỹ đầu tư tại Nhật.
Hai loại hình quỹ đầu tư tại Nhật là quỹ tín thác kiểu hợp đồng
(Secrities Investment Fruit) và quỹ tín thác kiểu côngty(Secrities
Investment Corporation) được lần lượt gọi là các quỹ tín thác đầu tư
chứng khoán và công ty đầu tư chứng khoán.
Quỹ tín thác kiểu hợp đồng là quỹ mà quản lý tài sản của quỹ theo hợp
đồng được ký kết giữa một công ty quản lý và những người đầu tư tham
gia quỹ và không thành lập pháp nhân. Quỹ tín thác kiểu công ty là một
công tyđược thành lập vì mục đích đầu tư của quỹ. Về mặt kỹ thuật, quỹ
tín thác kiểu hợp đồng được goi là “quỹ tín thác đầu tư chứng khoán”,
và quỹ kiểu công ty gọi là “công ty đầu tư chứng khoán”.
Quỹ tín thác đầu tư theo cả hai kiểu là kiểu hợp đồng và kiểu công ty
được chia ra thành kiểu quỹ mở và kiểu quỹ đóng phụ thuộc vào việc nhà
đầu tư có hay không có quyền yêu cầu mua lại chứng chỉ hưởng lợi hoặc
chứng chỉ đầu tư. Hầu hết tất cả các quỹ tín thác đầu tư kiểu hợp đồng
hiện có ở Nhật Bản là kiểu quỹ mở. Tuy nhiên, theo nghĩa mà các chứng
chỉ hưởng lợi được niêm yết và giao dịch trên sở giao dịch chứng khoán


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status