TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ THỰC TRẠNG
ĐỊNH GIÁ PHÁT HÀNH THÊM Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
I. Tổng quan về thị trường chứng khoán Việt Nam
1. Lịch sử hình thành và chức năng của thị trường chứng khoán Việt Nam
1.1. Lịch sử hình thành
Thị trường chứng khoán trong điều kiện của nền kinh tế hiện đại được quan
niệm là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua- bán chứng khoán trung và dài
hạn. Việc mua bán này được tiến hành ở 2 thị trường là thị trường thứ cấp khi
nhà phát hành bán ra lần đầu tiên cho các nhà đầu tư và thị trường sơ cấp khi
các nhà đầu tư mua đi bán lại cho nhau.
Xét về mặt hình thức thì thị trường chứng khoán là nơi trao đổi, mua bán,
chuyển nhượng chứng khoán, qua đó thay đổi chủ thể nắm giữ chứng khoán.
Để thực hiện mục tiêu đến năm 2020 phấn đấu đưa Việt Nam trở thành một
nước công nghiệp phát triển đòi hỏi trong nước phải có một nguồn vốn lớn để
đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nền kinh tế. Vì vậy, cần phải có chính sách
huy động tối đa mọi nguồn lực tài chính trong và ngoài nước để chuyển các
nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế thành nguồn vốn đầu tư và thị trường
chứng khoán tất yếu sẽ ra đời vì nó giữ vai trò quan trọng đối với việc huy động
vốn trung và dài hạn cho hoạt động kinh tế.
Nhận thức rõ việc xây dựng thị trường chứng khoán là một nhiệm vụ chiến
lược có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với tiến trình xây dựng và phát triển đất
nước, trước yêu cầu đổi mới và phát triển kinh tế, phù hợp với các điều kiện
kinh tế- chính trị và xã hội trong nước và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, trên
cơ sở tham khảo có chọn lọc các kinh nghiệm và mô hình thị trường chứng
khoán thế giới, thành lập ban nghiên cứu xây dựng và phát triển thị trường vốn
thuộc ngân hàng nhà nước (Quyết định số 207/ QĐ- TCCB ngày 6/11/1993 của
thống đốc ngân hàng nhà nước) với nhiệm vụ nghiên cứu xây dựng đề án và
chuẩn bị các điều kiện để thành lập TTCK theo bước đi thích hợp. Vì vậy, tháng
9/1994, chính phủ quyết định thành lập ban soạn thảo pháp lệnh về chứng khoán
và thị trường chứng khoán do đồng chí thứ trưởng bộ tài chính làm trưởng ban.
Ngày 29/6/1995 thủ tướng chính phủ đã có quyết định số 361/ QĐ-TTG thành
1.2.3. Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán
Nhờ có TTCK các nhà đầu tư có thể chuyển đổi các chứng khoán mà họ
đang sở hữu thành tiền hoặc các loại chứng khoán khác. Khả năng thanh khoản
là một trong những đặc tính hấp dẫn các nhà đầu tư, đây là yếu tố cho thấy tính
linh hoạt và an toàn của vốn đầu tư. TTCK hoạt động càng năng động thì tính
thanh khoản của chứng khán càng tăng.
1.3.4. Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp
Thông qua thị trường chứng khoán hoạt động của các doanh nghiệp được
phản ánh một cách tổng hợp và chính xác, từ đó môi trường cạnh tranh lành
mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích áp dụng công nghệ mới,
cải tiến sản phẩm nâng cao chất lượng.
1.3.5. Tạo môi trường giúp chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ
mô
Các chỉ số của TTCK phản ánh các động thái của nền kinh tế một cách nhạy
bén và chính xác. Giá các chứng khoán tăng nên cho thấy đầu tư đang mở rộng,
nền kinh tế tăng trưởng và ngược lại.
Vì thế TTCK được coi là phong vũ biểu của nền kinh tế. thông qua TTCK
chính phủ có thể mua bán trái phiếu để tạo ra nguồn thu bù đắp những thâm hụt
ngân sách và quản lý lạm phát. Ngoài ra, chính phủ cũng có thể sử dụng một số
các chính sách, biện pháp tác động vào TTCK nhằm định hướng đầu tư đảm bảo
cho sự phát triển cân đối của nền kinh tế.
2. Cơ cấu thị trường
Xét về sự lưu thông của chứng khoán trên thị trường, TTCK có hai loại
2.1. Thị trường sơ cấp
Là thị trường mua bán các chứng khoán mới phát hành. Trên thị trường này,
vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát hành thông qua việc nhà đầu tư
mua các loại chứng khoán mới phát hành.
Vai trò của thị trường sơ cấp
Chứng khoán hoá nguồn vốn cần huy động, vốn của các công ty được huy động
qua việc phát hành chứng khoán.
( ngưòi vay tiền) phải trả cho người nắm giữ chứng khoán ( người cho vay) một
khoản tiền xác định, thường là trong những khoảng thời gian cụ thể và phải
hoàn trả khoản cho vay ban đầu khi nó đáo hạn.
Trái phiếu công ty: là những trái phiếu do công ty phát hành để vay
vốn dài hạn
Trái phiếu chính phủ: là những trái phiếu do chính phủ phát hành
nhằm bù đắp thâm hụt ngân sách, tài trợ cho các công trình công ích hoặc làm
công cụ điều tiết tiền tệ.
Trái phiếu công trình: là những trái phiếu do chính quyền trung ương
hay địa phương phát hành để huy động vốn cho các mục đích cụ thể, thường để
xây các công trình cơ sở hạ tầng hoặc các công trình phúc lợi, công cộng
3.3. Chứng khoán phái sinh
Các công cụ phái sinh là những công cụ được phát hành trên cơ sở những
công cụ đã có như cổ phiếu, trái phiếu… ,nhằm nhiều mục tiêu khác nhau như
phân tán rủi ro, bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo lợi nhuận.
Quyền lựa chọn
Quyền mua trước
Chứng quyền
Hợp đồng kỳ hạn
Hợp đồng tương lai
3.4. Chứng khoán có thể chuyển đổi
Chứng khoán có thể chuyển đổi là chứng khoán cho phép người nắm giữ
chúng nó, tuỳ theo lựa chọn và trong những điều kiện nhất định, có thể đổi nó
lấy một chứng khoán khác.
Thông thường cổ phiếu ưu đãi được chuyển đổi thành cổ phiếu thường và
trái phiếu cũng được chuyển đổi thành cổ phiếu thường.
II. Thực trạng định giá phát hành thêm ở Việt Nam
1. Mục đích phát hành thêm của công ty
1.1. Trả cổ tức
Một số công ty trên thị trường Việt Nam hiện đang tiến hành phát hành