Website: Email : Tel (: 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Một xã hội phát triển toàn diện đòi hỏi không chỉ tăng trưởng kinh tế đơn
thuần mà còn cần tới sự phân phối công bằng hơn. Tăng trưởng kinh tế và công bằng
xã hội là những vấn đề lớn mà bất cứ xã hội nào cũng đều phải quan tâm đến. Tăng
trưởng nhanh và thực hiện phân phối công bằng là những mục tiêu mà nhiều quốc gia
đều mong muốn đạt được. Giữa tăng trưởng kinh tế và phân phối thu nhập có sự liên
quan mật thiết với nhau. Tuy nhiên, cũng tồn tại nhiều cách nhìn nhận khác nhau đối
với mối liên hệ này. Do đó, cho đến nay chưa có một quốc gia nào xây dựng được
một mô hình giải quyết hoàn hảo mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng
xã hội.
Việt Nam là một nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi
phải kết hợp chặt chẽ tăng trưởng kinh tế với công bằng và tiến bộ xã hội. Qua hơn
20 năm đổi mới theo nền kinh tế thị trường, mở cửa và hội nhập vào khu vực và thế
giới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu rất ấn tượng. Đó là tăng trưởng kinh tế
cao so với một số nước trong khu vực và thế giới, trong khi tỷ lệ đói nghèo ngày càng
giảm. Việt Nam ngày càng được biết đến như một nền kinh tế năng động hàng đầu
trong các nước đang phát triển trên thế giới. Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế thị
trường sẽ tạo ra sự chênh lệch về trình độ và phát triển từ đó dẫn đến sự bất bình
đẳng và nếu vượt quá một giới hạn nào đó sẽ là một trong các nguyên nhân dẫn tới sự
mất ổn định. Và Việt Nam cũng không bị loại trừ khỏi quy luật đó, cùng với quá trình
tăng trưởng kinh tế, nhiều vấn đề của xã hội ngày càng trở nên bức xúc: khoảng cách
thu nhập giữa các tầng lớp dân cư ngày càng lớn, phân hoá giàu nghèo ngày càng gay
gắt… Chính vì vậy, yêu cầu của sự phát triển kinh tế Việt Nam hiện nay vẫn đòi hỏi
bức thiết trong việc thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội, đặc biệt là công bằng
trong phân phối thu nhập. Do đó việc nghiên cứu lý luận tăng trưởng kinh tế, phân
phối thu nhập trong nền kinh tế thị trường và vận dụng vào Việt Nam là hết sức cần
thiết, cấp bách và có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn. Nhận thức được
tầm quan trọng của vấn đề này, tôi quyết định chọn đề tài: “Mối quan hệ giữa tăng
trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập: thực trạng và giải pháp ở Việt
Nam.”
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về sản lượng hay thu nhập thực tế được tính
cho toàn bộ nền kinh tế (của một quốc gia, một vùng hay một ngành) trong một
khoảng thời gian nhất định (thường là một năm). Tăng trưởng kinh tế có thể biểu thị
bằng số tuyệt đối (quy mô tăng trưởng) hoặc số tương đối (tỷ lệ tăng trưởng). Trong
phân tích kinh tế, để phản ánh mức độ mở rộng quy mô của nền kinh tế, khái niệm
tốc độ tăng trưởng kinh tế thường được dùng. Đó là tỷ lệ phần trăm giữa sản lượng
tăng thêm của thời kỳ nghiên cứu so với mức sản lượng của thời kỳ trước đó hoặc
thời kỳ gốc.
1.1.2. Đo lường tăng trưởng kinh tế
Bản chất của tăng trưởng kinh tế là phản ánh sự thay đổi về lượng của nền
kinh tế. Do đó nhìn chung, tăng trưởng kinh tế được tính bằng phần trăm thay đổi của
mức sản lượng quốc dân.
%100
Y
YY
g
1t
1tt
t
×
−
=
−
−
trong đó:
g
t
là tốc độ tăng trưởng của thời kỳ t.
Y là GDP thực tế của thời kỳ t.
tài nguyên thiên nhiên, tiến bộ công nghệ.
Vốn: là yếu tố vật chất đầu vào quan trọng có tác động trực tiếp đến tăng
trưởng kinh tế. Ở các nước đang phát triển sự đóng góp của vốn sản xuất vào tăng
trưởng kinh tế thường chiếm tỷ trọng cao nhất.
Lao động: là yếu tố đầu vào không thể thiếu của sản xuất. Trước đây chỉ quan
niệm lao động là yếu tố vật chất đầu vào, được xác định bằng số lượng dân số nguồn
lao động mỗi quốc gia. Những mô hình tăng trưởng kinh tế hiện đại gần đây đã nhấn
mạnh đến khía cạnh phi vật chất của lao động gọi là vốn nhân lực, đó là các lao động
có kỹ năng sản xuất, có sáng kiến và phương pháp mới trong hoạt động kinh tế…
Hiện nay tăng trưởng kinh tế của các nước đang phát triển được đóng góp bởi quy
mô (số lượng) lao động, còn yếu tố vốn con người có vị trí chưa cao do trình độ và
chất lượng nguồn nhân lực của các nước này còn thấp.
Tài nguyên thiên nhiên: là một trong những yếu tố sản xuất cổ điển, được đưa
vào sử dụng để tạo ra sản phẩm cho xã hội càng nhiều càng tốt nhưng phải đảm bảo
chúng được sử dụng có hiệu quả, không lãng phí. Việc sử dụng tài nguyên là vấn đề
có tính chiến lược, lựa chọn công nghệ để có thể sử dụng hiệu quả và tiết kiệm tài
nguyên quốc gia là vấn đề sống còn của phát triển. Tài nguyên thiên nhiên có vai trò
quan trọng để phát triển kinh tế. Nó tạo điều kiện thuận lợi cho các nước được thiên
nhiên ưu đãi có được những lợi thế so sánh. Từ đó phát triển các mặt hàng là thế
mạnh của nước mình.
Tiến bộ công nghệ là nhân tố tác động này càng mạnh đến tăng trưởng ở các
nền kinh tế ngày nay. Yếu tố công nghệ cần được hiểu đầy đủ theo hai dạng: thứ
nhất, đó là những thành tựu kiến thức, tức là nắm bắt kiến thức khoa học, nghiên cứu
đưa ra những nguyên lý, thử nghiệm và cải tiến sản phẩm, quy trình công nghệ hay
thiết bị kỹ thuật; thứ hai, là sự áp dụng phổ biến các kết quả nghiên cứu, thử nghiệm
4
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
vào thực tế nhằm nâng cao trình độ phát triển chung của sản xuất. Công nghệ sản
xuất cho phép quá trình sản xuất có hiệu quả hơn. Công nghệ phát triển ngày càng
nhanh chóng và ngày nay công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật
chính phủ. Nói chung, một đất nước càng đa dạng về thành phần tôn giáo và sắc tộc
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
thì đất nước càng tiềm ẩn bất ổn về chính trị và xung đột, bạo lực trong nước, thậm
chí là các cuộc nội chiến, dẫn tới tình trạng lãng phí các nguồn lực quý giá đáng ra
phải sử dụng để thúc đẩy các mục tiêu phát triển khác.
1. 2. Những vấn đề lý luận về bất bình đẳng thu nhập
1. 2.1. Khái niệm về bất bình đẳng thu nhập
Bất bình đẳng xã hội là sự không ngang bằng nhau về các cơ hội hoặc lợi ích
đối với những cá nhân khác nhau trong nhóm hoặc nhiều nhóm xã hội. Từ đó ta có
thể hiểu bất bình đẳng thu nhập là sự không ngang bằng nhau về thu nhập, của cải
của những cá nhân khác nhau trong xã hội. Bất bình đẳng về thu nhập tức là người
giàu sẽ giàu hơn còn người nghèo sẽ lại nghèo thêm. Sự phân phối thu nhập cho
người giàu nhiều hơn người nghèo. Người nghèo sẽ ít được hưởng lợi từ sự phát triển
của xã hội và việc tiếp cận về giáo dục và y tế đối với người nghèo sẽ ngày càng khó
khăn.
1.2.2. Nguyên nhân gây ra sự bất bình đẳng thu nhập
1. 2.2.1. Bất bình đẳng trong phân phối thu nhập từ tài sản
Trong nền kinh tế thị trường, một bộ phận thu nhập của các cá nhân được
phân phối theo sở hữu các nguồn lực. Tuỳ theo các yếu tố sản xuất mà mỗi người có
được cũng như việc định giá các yếu tố đó trên thị trường cạnh tranh mà chúng có
ảnh hưởng đến mức thu nhập của mỗi cá nhân. Cách phân phối như vậy gọi là phân
phối theo sở hữu các nguồn lực hay còn gọi là phân phối thu nhập từ tài sản. Tài sản
của mỗi cá nhân có được là do nhiều nguồn hình thành khác nhau.
Thứ nhất, bất bình đẳng thu nhập do được thừa kế tài sản. Nhiều cá nhân sinh ra
đã là người giàu vì họ được thừa kế một tài sản lớn. Sự bất công về thu nhập do của
cải thừa kế tập trung vào tay một số ít người đã gây nhiều sự phản đối và một cách
được Chính phủ áp dụng để hạn chế sự bất bình đẳng này là đánh thuế cao vào tài sản
thừa kế và quà tặng.
Thứ hai, bất bình đẳng thu nhập do hành vi tiêu dùng và tiết kiệm khác nhau của
sự phân biệt đối xử trong xã hội, xuất phát điểm của các cá nhân hay sự không hoàn
hảo của thị trường lao động, ảnh hưởng của thiên tai và các rủi ro khác đều có liên
quan đến sự khác biệt về tiền lương của các cá nhân, gây nên tình trạng chênh lệch
thu nhập.
1.2.3. Đo lường bất bình đẳng trong phân phối thu nhập
Các thước đo bất bình đẳng phụ thuộc vào mức thu nhập/tiêu dùng trung bình
trong một nước và sự phân phối thu nhập/tiêu dùng trung bình đó. Một số thước đo
bất bình đẳng thu nhập điển hình:
1.2.3.1. Đường Lorenz và hệ số Gini
Đường Lorenz và hệ số Gini là thước đo bất bình đẳng được sử dụng phổ biến
nhất. Đường Lorenz phản ánh tỷ lệ phần trăm của tổng thu nhập quốc dân cộng dồn
được phân phối tương ứng với tỷ lệ phần trăm cộng dồn của các nhóm dân số đã biết.
7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Còn hệ số Gini (g) được xác định bằng cách lấy diện tích hình A (hình 1), được xác
định bởi đường Lorenz và đường chéo 0A, chia cho diện tích nửa hình vuông có chứa
đường Lorenz đó (A+B).
g=A/ (A+B)
Từ đó: 0≤ g ≤ 1
Hình 1. Đường Lorenz và hệ số Gini
100%
A
100% Trong trường hợp thu nhập được phân phối tuyệt đối bình đẳng thì bao nhiêu phần
trăm dân số sẽ có tương ứng với bấy nhiêu phần trăm thu nhập. Khi đó, đường
Lorenz sẽ trùng với đường chéo OA của hình vuông, ứng với hệ số Gini g= 1. Còn
nếu toàn bộ thu nhập được phân phối cho một người và những người khác không có
bình đẳng thu nhập
Tăng trưởng kinh tế và phân phối thu nhập luôn là một chủ đề gây nhiều tranh
cãi của các nhà nghiên cứu ở các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển.
Trong sự phát triển kinh tế xã hội, giữa tăng tưởng kinh tế và phân phối thu nhập có
mối quan hệ tương tác với nhau. Tăng trưởng kinh tế tạo ra của cải cho xã hội chính
là điều kiện thực hiện công bằng xã hội. Tăng trưởng càng cao, kinh tế càng phát
triển, càng có điều kiện để thực thi các chính sách công bằng xã hội. Ngược lại, phân
phối thu nhập công bằng sẽ có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế. Nó kích
thích tính tích cực, sáng tạo của mọi người nhờ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và
tạo ra một xã hội hài hoà giữa lợi ích cá nhân và công cộng. Như vậy, phân phối thu
nhập công bằng vừa là tiền đề để tạo ra ổn định xã hội, vừa là động lực lớn cho tăng
trưởng kinh tế bền vững.
Trên thế giới có rất nhiều lý thuyết xem xét mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế
và bất bình đẳng.
1.3.1. Lý thuyết chữ “U ngược” của Simon Kuznets (1955)
Lý thuyết bàn về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng, nghĩa là
“mức độ bất bình đẳng về thu nhập có hướng gia tăng trong các giai đoạn đầu của
phát triển kinh tế, sau đó sẽ giảm bớt đi khi nền kinh tế đã đạt tới một trình độ phát
triển cao hơn”. Bigsten và Levin, 2001 đã nghiên cứu lý thuyết này và cho rằng nếu
bất bình đẳng có thể làm động lực cho tăng trưởng tốt hơn, rồi từ đó tạo ra cơ hội và
điều kiện để xoá đói giảm nghèo nhanh hơn thì bất bình đẳng là điều kiện chấp nhận
được. Với quan điểm này, trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế của các nước kém
9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
phát triển, tình trạng bất bình đẳng sẽ gia tăng mạnh. Nhà nghiên cứu Ahlwalia
(1976) đã sử dụng số liệu phân phối thu nhập của hơn 60 quốc gia, đã đi đến một kết
luận tương tự một cách cụ thể hơn và kết quả điều tra bằng các số liệu đã cho thấy
bất bình đẳng đã gia tăng mạnh ở giai đoạn phát triển ban đầu rồi sau đó bị đảo
ngược lại ở giai đoạn phát triển cao hơn. Nguyên nhân của tình trạng đảo ngược này
là do sự chuyển dịch cơ cấu ngành trong sản xuất, tăng cường giáo dục, đào tạo tay
trường vốn- không hoàn hảo trong những nền kinh tế còn nghèo sẽ quan trọng hơn
trong những nền kinh tế giàu có. Vì vậy, dự báo các tác động của bất bình đẳng đến
tăng trưởng kinh tế trong những nền kinh tế còn yếu kém sẽ lớn hơn nhiều so với
những nền kinh tế giàu có. Lưu ý rằng thị trường tín dụng đối số hoàn hảo thực sự
phù hợp hơn để giải thích mối quan hệ giữa cộng đồng cũng như tỷ lệ đói nghèo và
tăng trưởng kinh tế. Trong khi sự bất bình đẳng cao không phải luôn luôn hàm ý rằng
một phần lớn dân số là quá nghèo để được tiếp cận đến tín dụng, tỷ lệ đói nghèo cao
đồng nghĩa với việc có nhiều người hơn bị hạn chế tín dụng. Ví dụ, tình trạng bất
bình đẳng trong một nền kinh tế có thể rất cao, cho dù tất cả mọi người trong nền
kinh tế tương đối thỏa mãn đi chăng nữa. Vì vậy, chúng ta nên mong đợi một mối
quan hệ tiêu cực giữa tỷ lệ đói nghèo và tăng trưởng kinh tế.
1.3.4. Lý thuyết liên kết của Benabou (1996)
Mô hình này cung cấp một khuôn khổ tích hợp trong đó các tác động của việc tái
phân phối đến sự tăng trưởng không nhất thiết là tuyến tính. Có tác động hai chiều:
Tái phân phối là tốt nếu công khai chi tiêu cho tài chính giáo dục trong một thế giới
với thị trường vốn không hoàn hảo, và sẽ là xấu nếu như nó chỉ chuyển khoản thu
nhập từ người giàu sang người nghèo vì nó làm giảm lợi nhuận ròng để đầu tư của
những người giàu. Do đó, tốc độ tăng trưởng là hình chữ “U ngược’ đối với tái phân
phối và phân phối là hình chữ U đối với bất bình đẳng.
1.3.5. Lý thuyết bất ổn định về chính trị xã hội của Alesina (1996);
Benhabib và Rustichini (1996); Grossman và Kim (1996); Fay (1993)
Mô hình này nhấn mạnh những hệ quả của sự bất bình đẳng đến sự bất ổn định
chính trị và tình trạng bất ổn định xã hội. Theo mô hình bất ổn kinh tế chính trị, bất
bình đẳng là một yếu tố quan trọng quyết định sự bất ổn của chính trị- xã hội. Và
điều này đã tác động tiêu cực đến tăng trưởng thấp hơn dự kiến thông qua đầu tư trở
lại. Cụ thể, mâu thuẫn bất bình đẳng xã hội trầm trọng thêm và lần lượt làm cho
quyền sở hữu trở nên ít an toàn hơn và làm giảm tăng trưởng. Hơn nữa, sự tham gia
của người nghèo trong công tác chống tội phạm và các hành động chống lại xã hội đã
cho thấy sự lãng phí trực tiếp các nguồn lực. Vì thời gian và năng lượng của bọn tội
phạm này không dành cho những nỗ lực sản xuất. Nỗ lực phòng ngự của những nạn
PHẦN II
THỰC TRẠNG VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH
TẾ VÀ BẤT BÌNH ĐẲNG THU NHẬP Ở VIỆT NAM
12
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
2.1. Thực trạng tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập ở Việt
Nam
2.1.1. Thực trạng tăng trưởng kinh tế
2.1.1.1. Thành tựu tăng trưởng kinh tế
Tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng Một trong những thành quả nổi bật của nền
kinh tế Việt Nam trong thời kỳ đổi mới đến nay chính là tốc độ tăng trưởng kinh tế
cao khá ổn định. So với các nước trên thế giới, Việt Nam là một trong những nước có
tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất, chỉ sau Trung Quốc. Tốc độ tăng trưởng kinh tế
bình quân giai đoạn 1991- 2009 là 7,45%/ năm.
Biểu đồ tốc độ tăng trưởng kinh tế qua các năm
Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam từ 1985 đến 2009
Trong giai đoạn 1986-1990 nền kinh tế nước ta có nhiều chuyển biến mạnh mẽ.
GDP tăng bình quân 3,9% năm chủ yếu dựa vào sự tăng trưởng của nông nghiệp và
dịch vụ. Năm 1990, nguồn việc trợ nước ngoài giảm đột ngột đã làm cho ngành công
nghiệp đình đốn. Trong khi đó, tốc độ tăng trưởng của nông nghiệp giảm xuống chỉ
còn 1,5%, khu vực dịch vụ đã tăng tốc do được bung ra sau nhiều năm bị dồn nén và
trói buộc bởi cơ chế kế hoạch hoá tập trung. Kinh tế tư nhân đã đáp ứng hầu hết các
loại dịch vụ này. Kết quả là đà tăng trưởng chỉ giảm nhẹ xuống 3,9%.
Giai đoạn 1991-1996 thể hiện những bước chuyển đầu tiên của nền kinh tế sang
cơ chế thị trường. Khu vực kinh tế ngoài nhà nước phát triển mạnh mẽ, đạt đỉnh điểm
vào năm 1995 (9,54%).Sự tăng trưởng nhanh trong giai đoạn này là do tác động của
nhiều cải cách lớn trong nước như đầu tư, tín dụng, ngân hàng … và do sự gia tăng
mạnh mẽ của thương mại và đầu tư nước ngoài từ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế,
13
sự bứt phá trở lại về tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp. Dịch vụ: Thành công
trong ổn định môi trường kinh tế vĩ mô cùng với tác động của các chính sách tự do
hóa giá cả, tự do hóa thương mại nội địa và các biện pháp cải cách khác định hướng
thị trường, ngành dịch vụ đã có giai đoạn tăng trưởng cao từ 1991- 1995, nhịp tăng
14
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
cao nhất vào 1995 và cao hơn mức tăng GDP; từ 1996-2000 là giai đoạn tăng trưởng
giảm sút nhanh, nhất là giai đoạn 1996- 1999 giảm tới 7,8 điểm phần trăm. Sự hồi
phục tăng trưởng bắt đầu từ năm 2000 và năm 2003 tăng trưởng ở khu vực dịch vụ
luôn cao hơn xu hướng tăng trưởng trung hạn.
Chuyển dịch cơ cấu ngành trong những năm qua có sự chuyển biến tích cực. Tỷ
trọng của nhóm ngành nông, lâm, ngư nghiệp trong GDP Việt Nam giảm dần theo
thời gian; từ 38,74% năm 1990 xuống còn 24,53% năm 2000; 20,97% năm 2005 và
đến năm 2008 còn khoảng 20,6%; trong khi nhóm ngành công nghiệp và xây dựng
đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế, từ 22,67% năm 1990 tăng lên
36,73% năm 2000; 41,02% năm 2005 và đến năm 2008 tăng đến khoảng 41,6%.
Khu vực dịch vụ đã có bước phát triển nhảy vọt cả về chất và lượng, chiếm tỷ trọng
cao nhất trong ba khối ngành; tỷ trọng của ngành dịch vụ trong GDP sau khi tăng
tương đối mạnh trong thời kỳ 1990- 1995 (năm 1995 đạt 44,06%) đã liên tục bị giảm;
năm 1996 còn 42,51%; năm 1997 còn 42,15% ; năm 1999 còn 40,08% và năm 2005
còn 38,01% nhưng đã có sự phục hồi nhanh chóng trong các năm tiếp theo, đến năm
2008 khoảng 38,8%. Điều này phù hợp với xu hướng chuyển dịch cơ cấu trong quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao chất lượng tăng trưởng và phát triển
kinh tế đất nước; làm tăng tiềm lực đất nước, đặc biệt là tiềm lực công nghiệp và kết
cấu hạ tầng.
Cơ cấu kinh tế theo hình thức sở hữu cũng có những chuyển biến tích cực
thể hiện sự tham gia ngày càng sâu rộng của khu vực ngoài quốc doanh, đặc biệt là
khu vực có vốn đầu tư nước ngoài vào các hoạt động kinh tế. Tỷ trọng của khu vực
nhà nước có xu hướng giảm, từ 38,52% năm 2000 xuống còn 38,40% năm 2005 và
đến năm 2008 còn 34,35%. Tỷ trọng của khu vực ngoài nhà nước có những chuyển
Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư của nước ta trong giai đoạn đầu mở cửa khá cao
nhưng đang có chiều hướng giảm thấp đến mức báo động trong những năm gần đây,
với chỉ số ICOR có xu hướng tăng lên và cao hơn nhiều so với các nước khác trong
khu vực và trên thế giới, năm 2005 là 4,6; năm 2006 là 5,01; năm 2007 là 5,20; năm
2008 là 6,66. Nguyên nhân chủ yếu là do đầu tư dàn trải, thiếu trọng tâm, trọng điểm;
chi phí giải phóng mặt bằng lớn, thi công chậm; tình trạng thất thoát, lãng phí trong
sử dụng vốn nhà nước vẫn còn xảy ra; công tác cải cách hành chính được thúc đẩy
nhưng còn nhiều bất cập.
Hệ số ICOR của một số nước
Nước và vùng lãnh thổ Đầu tư/ GDP
(%)
Tăng trưởng
GDP (%)
ICOR
Việt Nam (2000- 2007) 38,0 7,6 5,0
16
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Trung Quốc (1991- 2003) 39,1 9,5 4,1
Đài Loan (1981- 1990) 21,9 8,0 2,7
Hàn Quốc (1981- 1990) 29,6 9,2 3,2
Nhật Bản (1961- 1970) 32,6 10,2 3,2
Nguồn: Bộ kế hoạch và đầu tư
Năng suất lao động thấp
Năng suất lao động thấp do cơ cấu lao động theo ngành kinh tế chuyển dịch
chậm và chất lượng lao động còn thấp. Lực lượng lao động tuy đông về số lượng
nhưng chủ yếu là lao động phổ thong, ít qua đào tạo. Hiện tỷ lệ lao động qua đào tạo
nghề mới chỉ chiếm khoảng gần 30%. Cơ cấu lao động mất cân đối, nhiều lao động
trẻ được đào tạo có trình độ kỹ thuật, có sức khỏe vẫn bị thất nghiệp. Chương trình
đào tạo chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động, cơ cấu đào tạo thừa thầy
thiếu thợ. Học sinh học lý thuyết nhiều nhưng khả năng vận dụng thực tiễn rất yếu.