KHOA KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO VÀ SỰ ẢNH
HƯỞNG ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN NGƯỜI
VIỆT NAM
Năm 2016
MỤC LỤC
1. Lý do chọn đề tài...........................................................................................................................................3
2. Đối tượng nghiên cứu của đề tài..................................................................................................................3
3. Phương pháp nghiên cứu của đề tài.............................................................................................................3
Chương 1: TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO.................................................................................................4
1.1 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển Phật giáo...............................................................................4
1.2 Nội dung tư tưởng triết học Phật giáo.......................................................................................................6
1.2.1 Thế giới quan Phật giáo.......................................................................................................................6
1.2.2 Nhận thức luận Phật giáo....................................................................................................................9
1.2.3 Nhân sinh quan Phật giáo..................................................................................................................13
Chương 2: ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN
NGƯỜI VIỆT NAM............................................................................................................................................16
2.1 Sơ lược sự hình thành và phát triển Phật giáo Việt Nam........................................................................16
2.2 Những ảnh hưởng của Phật giáo đến đời sống văn hóa tinh thần của người Việt Nam........................18
2.2.1 Những ảnh hưởng tích cực................................................................................................................18
2.2.2 Những ảnh hưởng tiêu cực................................................................................................................23
2.3 Kế thừa những gia trị tích cực của Phật giáo trong xây dựng đời sống văn hóa tinh thần người Việt
Nam..................................................................................................................................................................25
KẾT LUẬN.........................................................................................................................................................27
TÀI LIỆU THAM KHẢO......................................................................................................................................28
tích - tổng hợp, đối chiếu - so sánh, hệ thống hoá, diễn dịch, quy nạp...để nghiên cứu,
phân tích và trình bày đề tài.
Chương 1: TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO
1.1 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển Phật giáo
Phật giáo là một trào lưu triết học xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ VI trước Công
nguyên. Người sáng lập ra Phật giáo tên là Siddharta (Tất Đạt Đa), họ là Gôtama, dòng họ
này thuộc bộ tộc Sakya. Ông là thái tử - con vua Tịnh Phạn, vua một nước nhỏ ở Bắc Ấn
Độ lúc đó (nay thuộc đất Nepal) sáng lập.
Ông sống trong cung điện suốt thời thơ ấu, nhưng khi thành niên ông đã khám phá
những sự việc bên ngoài cung thành. Trên đường phố nọ, ông thấy một người bệnh, một
lão già, và một xác chết, khiến cho ông suy nghĩ về bản chất khổ đau của cuộc đời. Khi
nhìn thấy một vị khất sĩ thong dong tự tại, ông quán xét đến khả tính giải thoát khỏi vòng
luân hồi. Và vì vậy, năm hai mươi chín tuổi, ông rời hoàng cung, rũ bỏ trang phục hoàng
gia, và thực hành đời sống của một vị khất sĩ thong dong.
Ông đã tham học với các vị đạo sư lớn của thời đại ông và thông đạt những kỹ
thuật thiền định của họ nhưng khám phá ra rằng chúng không đưa tới giải thoát. Trải qua
6 năm ông thực hành khổ hạnh nghiêm khắc trong rừng, nhưng rồi nhận thấy rằng sự
hành hạ thân xác không thuần hóa được tâm, nên ông tu theo con đường trung đạo giữ gìn
thân thể khỏe mạnh cho lợi ích của việc tu tập tâm linh mà không phóng túng chạy theo
các tiện nghi không cần thiết.
Ngồi dưới gốc cây bồ đề nơi mà ngày nay là Bồ Đề Đạo Tràng (Bodhgaya) tại Ấn
Độ, ông nguyện không đứng dậy cho đến khi đạt thành giác ngộ viên mãn. Vào đêm trăng
tròn tháng tư âm lịch, ông đã hoàn thành tiến trình tẩy trừ tất cả vô minh và phát triển tất
cả thiện pháp, và ông đã trở thành đức Phật giác ngộ hoàn toàn. Lúc đó ông đã 35 tuổi, và
45 năm kế tiếp ông đi giảng dạy giáo pháp mà ông đã chứng ngộ qua kinh nghiệm tự thân
cho những người đến để nghe.
Đạo Phật có hai nhánh chính. Tiểu thừa (Hinayana), hay Cỗ Xe Nhỏ, nhấn mạnh
đến sự giải thoát cá nhân, trong khi Đại thừa (Mahayana), hay Cỗ Xe Lớn, chú trọng đến
các vương quốc lân cận để chia sẻ sự hiểu biết sâu sắc của mình với những ai có lòng
quan tâm và muốn học hỏi. Tương tự như thế, ông chỉ thị các tăng sĩ của ông đi khắp nơi
để giải thích những giáo huấn của mình. Ông không kêu gọi người khác chỉ trích và từ bỏ
tôn giáo của họ hay cải đạo theo đạo mới, vì ông không tìm cách thiết lập tôn giáo riêng
của mình. Ông chỉ cố gắng giúp người khác vượt qua sự bất hạnh và khổ đau mà họ đang
tạo ra cho chính mình, vì thiếu sự hiểu biết. Các thế hệ môn đồ sau này nhận nguồn cảm
hứng từ tấm gương của đức Phật và họ chia sẻ với người khác các phương pháp của ông
mà họ thấy mang lại lợi lạc cho đời sống của họ. Đây là cách mà cái được gọi là “đạo
Phật” hiện nay đã lan rộng và xa như thế nào
1.2 Nội dung tư tưởng triết học Phật giáo
1.2.1 Thế giới quan Phật giáo
Quan điểm về thế giới quan của Phật giáo được thể hiện tập trung ở nội dung của
ba phạm trù là: vô thường, duyên và vô ngã.
Vô thường, tiếng Phạn là Anitya, hàm nghĩa sự biến chuyển, thay đổi, không cố
định. Tất cả mọi sự vật, hiện tượng trên thế gian đều vô thường. Nói cách khác, sự vật
không bao giờ đứng yên hoặc mang tính đồng nhất bất biến mà luôn vận động, lưu
chuyển. Từ sơn hà, đại địa cho đến cỏ cây, hạt bụi và cả thân tâm con người luôn biến đổi,
không bao giờ cố định và phải chịu sự tác động của vô thường. Không chỉ trong thế giới
vật chất mà ngay cả trong thế giới tâm thức, vô thường vẫn luôn hiện hữu.
Con người, theo Phật giáo, là hợp thể của năm uẩn. Trong đó, phần thân thể vật
chất tứ đại (sắc uẩn) thuộc về Sắc và phần tinh thần gồm cảm thọ, tri giác, tư duy và nhận
thức thuộc về Danh. Năm uẩn hay danh-sắc này luôn ở trong trạng thái biến đổi như một
dòng sông chảy mãi không ngừng trong đời sống con người.
Thân thể con người nếu nhìn thật sâu vào bản chất, nó chỉ là một trạm trung
chuyển của các yếu tố tứ đại. Đất nước gió lửa từ bên ngoài đi vào thân, sau đó lại đi ra và
vòng tròn đó luân chuyển bất tận. Nhờ sự vận hành ấy, thân này được nuôi dưỡng, lớn lên,
già đi rồi hoàn trả về cho tứ đại. Vì thế, khi các yếu tố tứ đại bị mất quân bình, bệnh tật
Nhân nào quả ấy. Con người do nhân duyên kết hợp và được tạo thành bởi hai thành
phần: thể xác và tinh thần. Hai thành phần ấy là kết quả hợp tan của Ngũ Uẩn. Hai thành
phần tạo nên Ngũ Uẩn, do nhân duyên hợp thành. Mỗi con người cụ thể có danh
sắc(nâma-suna), Duyên hợp Ngũ Uẩn thì là ta, duyên tan Ngũ Uẩn thì không còn ta, là
diệt. Nhưng không phải là mất đi mà trở lại với ngũ uẩn.Ngay các yếu tố của ngũ uẩn
cũng luôn biến hóa theo quy luât nhân quả không ngừng.
Vô ngã (Anatma) là giáo lý đặc thù của Phật giáo. Giáo lý này là hệ quả của quá
trình quan sát một cách sâu sắc nguyên lý duyên khởi. Với quan điểm vô thường, chúng ta
thấy được sự vận động trong tự thân của sự vật và toàn thể. Nếu nhìn sâu hơn
qua lăng kính duyên khởi, ngoài sự vận động thì bản chất của sự vật luôn mang tính
không đồng nhất. Mỗi sự vật, hiện tượng đều do các điều kiện, nhân duyên kết hợp, tương
tác lẫn nhau mà tạo thành, do vậy tuyệt nhiên không có tính chủ thể, đồng nhất, bất biến
trong nó. Vì thế, Phật dạy: “Các pháp vô ngã”.
Khi thấy một chiếc lá vàng rơi, bình thường ta chỉ biết đó là chiếc lá vàng nhưng
nếu nhìn sâu thì trong chiếc lá kia có những khoáng chất của đất, có ánh sáng mặt trời, có
nước từ những đám mây, có gió của bầu trời… và có cả một chút bâng khuâng của lòng
người. Như thế, chiếc lá kia được tạo thành từ những yếu tố không phải là chiếc lá, trong
nó có đầy đủ cả vũ trụ. Từ chiếc lá xanh, theo thời gian chuyển qua lá vàng, đó là sự vận
động vô thường, nhưng dù là lá xanh hay vàng thì trong bản chất của chúng cũng do
những yếu tố không phải lá tạo thành (duyên khởi), chiếc lá vốn Vô ngã.
Con người cũng vậy, là hợp thể ngũ uẩn sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Bản chất
của ngũ uẩn là Không, không chủ thể, Vô ngã. Tuy nhiên, vì nghiệp lực con người luôn
lầm chấp thân năm uẩn này là một hữu thể đồng nhất, có một “linh hồn” trường cửu, bất
biến, không thay đổi. Từ mê mờ về một cái “ngã, tôi” giả tạo ấy nên con người dễ dàng
sanh ra tâm lý tham đắm, say mê, ôm ấp, bảo thủ và chấp chặt vào những gì thuộc về năm
uẩn (cái của tôi). Thế nhưng, mọi sự vật hiện tượng luôn sinh diệt, chuyển biến trong từng
sát na. Sự sinh thành và hoại diệt của năm uẩn là kết quả của các điều kiện nhân duyên và
quá trình sanh già bệnh chết, hay hình thành, tồn tại-thay đổi, hoại diệt, tiêu hủy luôn là
Phân biệt thuần tuý của năm thức ấy là một phân biệt bằng trực giác, nên không
phải là một phân biệt có tính cách suy tầm, đắn đo. Phân biệt suy tầm đắn đo là phân biệt
của thức thứ sáu tức ý thức rộng lớn vô cùng. Đối tượng của ý thức là Pháp trần sinh ra
các tư tưởng. Khi thức này hợp tác cùng năm thức trước thì đối tượng tổng hợp của nó là
ngũ trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc).
Nếu năm căn trước (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân) có quan năng phát sinh mang hình
chất thì năng lực thứ sáu (ý) có quan năng phát sinh không mang hình chất gọi là Mạt na
(Mạt na thức). Phân tích các tác dụng của Mạt na, Phật giáo chia ra, Mạt na sinh ra cái
biết (phân biệt) mang tính gián đoạn (biết khi tỉnh, không biết khi ngủ) gọi là Ý thức, Mạt
na có tác dụng chấp ngã, tức chấp có. Mạt na chấp cái biết của bảy năng lực trên đây và
trở thành kho chứa của bảy thức gọi là Alaya thức (Tàng thức).
Cái mà thức thứ bảy (Mạt na) chấp làm bản ngã là một phần của thức Alaya. Thức
này là tất cả, là chỗ chứa đựng tất cả các hình ảnh do bảy thức trước khảm nhập vào, do
đó dường như không để mất đi một hình ảnh nào.
Như vậy, khi bàn về lý tám thức sẽ là những căn cứ xuất phát để đi vào làm rõ các
quan điểm trong nhận thức luận của triết học Phật giáo. Cụ thể thuyết Tam lượng hình
thức cơ bản của nhận thức luận Phật giáo.
Lượng là lượng tính, là tính toán và so lường và cũng là sự phân biệt, cân nhắc vạn
pháp của Tâm thức để hiểu biết. Lượng còn gọi là năng phân biệt. Năng phân biệt có
nghĩa là tâm thức có sức, có lực phân biệt vạn pháp. Nói cách khác, lượng ở đây là chỉ
cho Tâm thức thuộc về chủ thể, có khả năng phân biệt vạn pháp và Tâm thức phân biệt có
tính cách so lường thiệt hơn, cân nhắc lợi hại, phân tích đúng sai để chọn lựa tinh tường,
sâu sắc cho sự hiểu biết. Tâm thức nhờ phân biệt mới có thể hiểu biết rõ tính chất, giá trị
và ý nghĩa của mọi vật nên gọi là Lượng.
Trong triết học Phật giáo Hiện lượng được xem là hình thái đầu tiên của quá trình
nhận thức. Hiện lượng nghĩa là hiểu biết trực tiếp những cảnh vật, đối tượng đã được hiện
bày đầu tiên và sự hiểu biết hiện lượng hoàn toàn không có ý niệm diễn dịch và suy luận.
Tác dụng nhận thức ở đây chỉ thuần tuý trực cảm, trực quan mà chưa có tính cách phán
đem so sánh này có phần không thực chất và cũng không giống những sự vật hiện tượng
có mặt trong thế gian.
Hình thái nhận thức thứ ba trong triết học Phật giáo gọi là Phi lượng. Thực ra, đây
không phải là một hình thái nhận thức độc lập với hai hình thái nhận thức trước. Hiện
lượng và Tỷ lượng có khi đúng và cũng có khi sai, mà mỗi khi sai thì đều là Phi lượng.
Hiện lượng mà sai thì không phải là Chân hiện lượng mà là Tợ hiện lượng. Tỷ lượng mà
sai thì không phải là Chân tỷ lượng mà là Tợ tỷ lượng. Tợ ở đây là có vẻ giống như cái đó
nhưng thực ra không phải là cái đó. Chẳng hạn, khi ta đi trong đêm tối mà nhận lầm sợi
dây làm con rắn thì đó là Tợ hiện lượng; còn khi suy diễn sai một điều gì chẳng hạn thì đó
là Tợ tỷ lượng.
Như vậy, Phi lượng là sự xét đoán của Tỷ lượng và Hiện lượng nhưng sai lầm,
không đúng sự thật. Đây thường là sự hiểu biết của thức Mạt na, một sự nhận thức bằng
tưởng tượng, nhận biết mang tính chất so đo, chấp trước. Sự xét đoán, so lường của Mạt
na thức thường chấp trước những điều không đúng chân giá trị của hiện tượng thực tại
nên gọi là Phi lượng. Thức Mạt na luôn chấp trước nên khống chế và điều khiển ý thức
nhận xét mọi việc và thường bóp méo sự thật. Sự hiểu biết vạn pháp của Mạt na thức
không được vô tư mà lại hay sai lệch nên gọi là Phi lượng.
Việc nêu ra và làm rõ các hình thái của quá trình nhận thức, có thể xem là một
trong những đóng góp có ý nghĩa tích cực của triết học Phật giáo đối với sự phát triển của
nhận thức luận nói chung. Với ba hình thái của quá trình nhận thức bao gồm: Hiện lượng,
Tỷ lượng và Phi lượng; trong đó Hiện lượng đã có phần nào giống với các hình thức nhận
thức đầu tiên (cảm giác và tri giác) của nhận thức cảm tính, còn Tỷ lượng lại bao hàm các
hình thức nhận thức lý tính (biểu tượng, khái niệm, phán đoán, suy luận), trong đó biểu
tượng là hình thức giao thoa giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính. Còn Phi lượng,
không có gì khác hơn, đó chính là sự sai lầm của Hiện lượng và Tỷ lượng, tức sai lầm của
cả nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính.
Mỗi hình thái nhận thức nói trên cũng mang những sắc thái và những chức năng
riêng. Hiện lượng nhận thức một cách trực tiếp, đúng thật; Tỷ lượng nhận thức một cách
phát điểm từ nỗi khổ của cuộc sống con người. Theo quan điểm của Phật giáo, thì ngay
việc con người sinh ra và tồn tại thì con người lại càng rơi vào vô minh, rơi vào những ảo
tưởng giả tạo. Chính vì thế nhiệm vụ và mục đích tối cao của sự giải thoát chính là xóa bỏ
sự vô minh của con người để đạt tới sự giác ngộ với cái tâm sáng tỏ, có thể nhận ra chân
bản tính của mình và thực tướng của vạn vật. Có vậy mới dập tắt được ngọn lửa ái dục,
thoát ra mọi khổ não của cuộc đời để đạt đến cõi Niết bàn (Nirvana). Vì vậy, mà đức Phật
đã đưa Khổ đế thành chân lý thứ nhất. Triết lý của đạo Phật khẳng định thực tại nhân sinh
là khổ. Phật đã nói trong kinh Chuyển Pháp Luân rằng: Sinh là khổ, lão là khổ, bệnh là
khổ, tử là khổ, oán tăng hội khổ, thụ biệt ly khổ, thụ ngũ uẩn khổ, sở cầu bất đắc khổ.
1. Sinh khổ: đã có sinh là có khổ vì đã sinh nhất định có diệt, bị
luật vô thường chi phối nên khổ.
2. Lão khổ: người ta mong muốn trẻ mãi nhưng cái già theo thời
gian vẫn cứ đến. Cái già vào mắt thì mắt bị mờ đi, cái già vào lỗ tai thì
tai bị điếc, vào da, xương tủy thì da nhăn nheo, xương tủy mệt mỏi. Cái
già tiến đến đâu thì suy yếu đến ấy làm cho người ta phiền não.
3. Bệnh khổ: trong cuộc sống, thân thể thường ốm đau, nhất là
khi già yếu, thân thể suy nhược, bệnh tật dễ hoành hành làm cho người
ta đau khổ
.4. Tử khổ: là cái khổ khi người ta chết. Chứng sinh do nghiệp báo
chịu cái thân nào thì gắn bó với cái thân ấy coi như cái thân duy nhất
của mình thì khi chết thì phiền não vô cùng.
5. Cầu bất đắc khổ (thất vọng): người ta thường chạy theo những
điều mình ưa thích, mong cầu hết cái này đến cái khác. Khi chưa cầu
được thì phiền não, khi cầu được rồi thì phải lo giữ nó, nếu nó mất đi thì
lại luyến tiếc.
6. Ái biệt ly khổ: nỗi khổ khi phải chia ly.
7. Oán tắng hội khổ: những điều mình chán ghét thì nó cứ tiến
đến bên mình.
Phật giáo đưa ra thuyết về Đạo Đế. Đạo đế là quan điểm về con đường, cách thức hay
phương pháp giải thoát của đạo Phật. Trong đó, con đường trung đạo như đã nói ở trên
với thuyết tiêu biểu là “Bát chính đạo”. Tám con đường đó là:
1. Hiểu biết nhận thức đúng đắn (Chính kiến).
2. Suy nghĩ chân chính (Chính tư duy).
3. Hành động , làm việc chân chính (Chính nghiệp).
4. Chỉ nói những điều hay, đúng (Chính ngữ).
5. Sống một cách trung thực (Chính mệnh).
6. Cố gắng vươn lên theo con đường chân chính (Chính tịnh tiến).
7. Suy nghĩ chính pháp, gạt mọi tà niệm (Chính niệm).
8. Chuyên chú vào con đường chân chính để giác ngộ (Chính định).
Cùng với tám con đường này, đức Phật đưa ra những phương pháp thực hành tu
luyện cho các phật tử để chủ động thực hiện điều tốt cho người và cho mình, ví như “Ngũ
giới”, “Lục độ” và “Thập thiện”. Nói một cách khái quát, trong thuyết Tứ diệu đế, thì Khổ
Đế và Tập Đế trình bày về sự khổ và nguyên nhân của nổi khổ. Đây chính là điểm xuất
phát của tư tưởng giải thoát trong triết lý Phật giáo. Diệt Đế là quan điểm của Phật giáo về
mục đích và nhiệm vụ tối cao của sự giải thoát, mục đích và nhiệm vụ ấy là xóa bỏ mọi
vọng tưởng, thoát khỏi mọi sự ràng buộc của thế giới vật dục, diệt ái dục để có thể giác
ngộ, đến với Niết bàn. Còn Đạo Đế là con đường và cách thức giải thoát, đó là “Bát chính
đạo”.
Như vậy, với tư tưởng giải thoát mà đức Phật đưa ra đã thể hiện rất sâu sắc tính
chất nhân bản, nó quan tâm đến thân phận và đời sống của mỗi con người, giúp con người
thoát khỏi những nổi khổ của cuộc đời, tìm cho họ một niềm tin trong cuộc sống, một chỗ
dựa vững chắc và chỗ dựa vững chắc ấy không ở đâu xa lạ mà chính ngay trong tâm mỗi
người. Theo đó, con đường và cách thức giải thoát trong triết lý Phật giáo rất giản dị, có ý
nghĩa hết sức thiết thực và phù hợp với đời sống hiện thực khách quan. Nó chủ trương tu
luyện toàn diện trên mọi lĩnh vực từ đời sống đạo đức luân lý đến tâm linh, trí tuệ.
tâm, tâm là niết bàn, là Phật. Quốc sư Yên Tử nói với Trần Thái Tông: “Núi vốn không có
Phật, Phật ở tại tâm, tâm lặng lẽ sáng suốt ấy là chân Phật”. Tu theo Thiền tông đòi hỏi
nhiều công phu và khả năng trí tuệ, do vậy chỉ phổ biến ở giới trí thức thượng lưu, cũng
nhờ họ ghi chép lại mà nay ta được biết về lịch sử Thiền tông Việt Nam khá rõ
Khác với Thiền tông, Tịnh Độ tông chủ trương dựa vào sự giúp đỡ từ bên ngoài để
cứu chúng sinh thoát khổ. Đó là việc họ hướng đến một cõi niết-bàn cụ thể gọi là cõi
Tịnh Độ (=yên tĩnh, trong sáng), được hình dung như một nơi Cực Lạc do đức Phật A-diđà (Amitabha = vô lượng quang) cai quản. Đó còn là việc bản thân họ cần thường xuyên
đi chùa lễ Phật, thường xuyên tụng niệm danh hiệu Phật A-di-đà. Hình dung cụ thể về niết
bàn là để có đích mà hướng tới; còn tượng Phật và niệm danh Phật là để thường xuyên
nhớ đến những lời dạy của Người mà ráng làm theo. Nhờ cách tu đơn giản như vậy, Tịnh
Độ tông trở thành Phật giáo của giới bình dân và phổ biến khắp cõi Việt Nam: đâu đâu ta
cũng gặp người dân trụng niệm Nam mô A-di-đà Phật! (= Nguyện quy thep đức phật Adi-đà). Tượng A-di-đà cũng thuộc loại tượng Phật lâu đời và phổ biến hơn cả (tới nay còn
giữ được pho tượng A-di-đà bằng đá cao khoảng 2,5 mét, tạc năm 1057 ở chùa Phật Tích
(Bắc Ninh), phía ngoài tượng này xưa vốn dát vàng).
Mật tông là phái chủ trương sử dụng những phép tu huyền bí (bí mật) như dùng
linh phù, mật chú, ấn quyết… để thu hút tín đồ và mau chóng đạt đến giác ngộ và giải
thoát. Vào Việt Nam, Mật tông không tồn tại độc lập như một tông phái riêng mà nhanh
chóng hòa vào dòng tín ngưỡng dân gian với những truyền thống cầu đồng, dùng pháp
thuật, yểm bùa trị tà ma và chữa bệnh…
Do thâm nhập một cách hòa bình, ngay từ thời Bắc thuộc, Phật giáo đã phổ biến
rộng khắp. Đến thời Lý – Trần, Phật giáo Việt Nam phát triển tới mức cực thịnh. Nhà nho
Lê Quát, học trò Chu Văn An, đã lấy làm khó chịu khi thấy toàn dân theo Phật: “Phật chỉ
lấy điều họa phúc mà động lòng người, sao mà sâu xa và bền chắc đến như vậy? Trên từ
vương công, dưới đến thứ dân, hễ làm cái gì thuộc về việc Phật, thì hết cả gia tài cũng
không tiếc. Nếu hôm nay đem tiền của để làm chùa, xây tháp thì hớn hở vui vẻ, như trong
tay đã cầm được cái biên lai để ngày sau đi nhận số tiền trả báo lại. Cho nên, trong từ kinh
thành ngoài đến châu phủ, đường cùng, ngõ hẻm, chẳng khiến đã theo, chẳng thề mà tin;
hễ chỗ nào có nhà thì ở đó có chùa Phật; bỏ đi tì làm lại, hư đi thì sửa lại”.
vào cuộc sống của người dân Việt Nam. Sự ảnh hưởng của Phật giáo đến đời sống của
người Việt Nam không chỉ là giáo lý qua kinh kệ, sách vở mà đã trở thành phong tục,
cách sống của dân tộc, của mọi gia đình. Triết lý của Phật giáo về Từ bi, về tình thương
yêu rất phù hợp với truyền thống giàu lòng nhân ái vốn có của người Việt: “Một con ngựa
đau, cả tàu bỏ cỏ”; “Một miếng khi đói bằng một gói khi no”; “Lá lành đùm lá rách”;
“Thương người như thể thương thân”… sự kết hợp những nét độc đáo trong phương pháp
tư duy, trong văn học, nghệ thuật của người Việt Nam. Những giá trị, khuyến thiện, hướng
thiện không chỉ phát huy tác dụng trong hàng ngũ tín đồ mà còn ảnh hưởng rộng rãi trong
đời sống nhân dân, góp phần hình thành nên những quan niệm sống giàu tính nhân văn
sâu sắc.
Người Việt Nam truyền thống với tinh thần yêu thương, đoàn kết, đùm bọc lẫn
nhau, phụng dưỡng cha mẹ, tri ân những người có công với cộng đồng, làm điều thiện…
đó cũng chính là những điều luân lý đạo đức cụ thể mà Phật giáo đã truyền dạy. Phật giáo
đã thực sự đi vào cuộc sống, đi vào tâm linh mỗi con người. Trong suốt chiều dài của lịch
sử, đạo đức Phật giáo đã có nhiều đóng góp đáng kể đối với sự phát triển của dân tộc,
những nhân tố quan trọng góp phần định hình nên các quan niệm, chuẩn mực, hệ giá trị
đạo đức trong xã hội Việt Nam truyền thống và hiện đại.
2.2.1.2. Ảnh hưởng của Phật giáo đến kinh tế trong bối cảnh thị trường hiện
nay
Trong giáo lý “Bát chính đạo” đức Phật có đề cập đến “chính mệnh” sinh sống
bằng nghề nghiệp chân chính. Người khuyên mọi người kiếm sống bằng chính sức lao
động và tiền vốn của mình, trí tuệ của mình chứ không được buôn bán gian lận, buôn bán
hàng quốc cấm và các loại hàng hóa có hại cho sức khỏe con người và xã hội. Trong cuộc
sống mỗi người phải lao động làm việc để tạo ra nguồn của cải vật chất nuôi sống mình
và gia đình. Như vậy, trong nền kinh tế thị trường ngày nay, đạo đức Phật giáo góp phần
không nhỏ trong việc giáo dục con người, hướng con người tới những điều thiện, từ đó
giảm bớt thiệt hại cho người tiêu dùng và đặc biệt là những nguy hiểm chết người. Đây
chính là mặt tích cực của đạo đức Phật giáo giúp con người và nhân loại có cuộc sống an
Nam đã đua nhau bói Kiều. Như câu: Đã mang lấy nghiệp vào thân, Cũng đừng trách lẫn
trời gần trời xa. Thiện căn ở tại lòng ta, Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Theo đạo Phật,
con người chịu hoàn toàn trách nhiệm về mọi sự việc hay hoặc dở xảy ra cho mình, không
phải cầu trời mà được phúc, cũng không nên trách trời nếu mang họa. Trước tiên, hãy xét
mình đã và đang làm gì đây, đã tạo nghiệp thiện hay ác. Cuộc đời của mình chính là ở
trong bàn tay của mình, chứ không do một Phật hay một trời đất nào an bày cả. Một triết
lý như vậy thúc đẩy hành động và sáng tạo, thể hiện sự tích cực trong việc đề cao trách
nhiệm của mọi người về mọi hành động hiện tại và tương lai.
Như trên đã đề cập các nhà sư Ấn Độ và Trung Quốc đến Việt Nam và dịch nkinh
sách bằng văn tự Hán và ngôn ngữ, văn tự đó được dùng để truyền bá Phật
giáo. Sự truyền bá Phật giáo trong cư dân vốn không phổ biến chữ Hán đã đưa đến
sự hình thành chữ Nôm. Chúng tôi cho rằng, chữ Nôm đã hình thành trước thế kỷ V – VI.
Bằng chứng là sự tồn tại hai nhóm thuật ngữ Phật giáo đồng nghĩa: Bụt – Chùa – Thầy và
Phật – Tự – Sư. Nhóm thứ nhất là chữ Nôm, nhóm thứ hai là chữ Hán đọc theo âm Việt,
hiện nay quen gọi là âm Hán – Việt chứ không phải là âm Hán của chữ Việt. Chữ Nôm
xuất hiện trong bộ thuật ngữ Phật giáo này sẽ không bao giờ sản sinh và tồn tại được nếu
như bộ thuật ngữ Việt Hán đã được dùng từ đầu, nghĩa là từ khi bắt đầu truyền bá Phật
giáo Thời kỳ sau bộ thuật ngữ Phật giáo Trung Quốc đọc theo âm Hán Việt là Phật
– Sư – Tự mới phổ biến. Nhưng đến nay dân gian vẫn quên gọi thầy chùa hơn là Sư ông.
Chính Phật giáo đã mở đầu cho sự hình thành chữ Nôm ở bắc Đại Việt, chữ Chăm, chữ
khmer ở nam Đại Việt. Ba loại văn tự này giúp bảo tồn ngôn ngữ Việt Chăm, Khmer.
Các tượng Phật, Bồ Tát, La Hán, Kim Cương, Thiên Vương còn giữ lại được trong
các chùa tháp cho chúng ta biết về trình độ nghệ thuật điêu khắc tạo hình cao của các
nghệ sĩ và nghệ thuật tôn giáo bị gò bó trong những công thức nhất định. Thí dụ, không
thể tạc tượng Phật, vẽ tranh chân dung Phật như thế nào cũng được. Dáng mặt Phật phải
lộ vẻ từ bi, nhưng lại phải bình thản, siêu thoát. Đôi mắt Phật phải là đôi mắt sáng của trí
tuệ, nhưng nếu tạc hay vẽ trượng to và sáng quá thì cũng không đúng. Tượng và tranh
Phật Thích Ca bao giờ cũng phải là tượng và tranh của nhà tu hành, của người xuất gia
nghè, trong nhà của họ. Cảnh quan xóm làng nông thôn đổi sắc với sự xuất hiện của ngôi
chùa. Bên cạnh đó, hệ thống tượng Phật vô cùng phong phú trong đóng góp về vật chất
của Phật giáo ở Việt Nam như những pho tượng Thích Ca, Phổ Hiền, Văn Thù, những pho
Di Lặc, A Di Đà, Quán Thế Âm; những bộ tượng Cửu Long, tượng Quan Thế Âm....
Ngày nay, do mô hình kiến trúc đã hiện đại hóa xuất hiện chùa dạng nhà lầu với
phác đồ theo chiều thẳng đứng: tầng dưới là nơi thuyết pháp cho tín đồ mang tính chất
Tiền đường, tầng trên là Phật Điện mang tính chất Thiêu Hương, Thượng Điện. Chùa
thuộc loại này có thể kể tới những ngôi chùa nổi tiếng ở thành phố Hồ Chí Minh như chùa
Xá Lợi, chùa Vĩnh Nghiêm. Trên đây ta nói đến là kiến trúc chùa. Còn kiến trúc tháp thì
sao?
Có thể khẳng định ngay rằng, loại hình kiến trúc tháp cũng cực kỳ phong phú. Phật
tử cũng như ngoại đạo đều biết đến tên tuổi của chùa Báo Thiên vòi vọi, tháp Sùng Thiện
Diên Linh gắn với tấm bia về múa rối, chùa tháp Chương Sơn với nét kiến trúc đặc trưng
của hai tay vịn vũ nữ tạc theo tư thế tribhanga mang dấu ấn Chăm rõ rệt.
2.2.2 Những ảnh hưởng tiêu cực
Tuy vậy Phật giáo cũng có những hạn chế, ảnh hưởng tiêu cực nhất định đến đời
sống văn hóa tinh thần của người Việt Nam chúng ta.
Về bản chất, chúng ta không thể quên rằng, thế giới quan tôn giáo là thế giới quan
tiêu cực. Một khi đã thâm nhập vào ý thức con người (các tín đồ, các giáo dân và quần
chúng chịu ảnh hưởng của tôn giáo), nó sẽ làm cho con người lãng quên hiện thực, đặt tất
cả tinh thần, tâm tưởng vào thần thánh hư ảo mà họ tin đó là giá trị đích thực. Chức năng
thế giới quan của tôn giáo dẫn dắt các tín đồ theo một triết lý sống không hành động,
không đấu tranh trong thực tại, lấy tu dưỡng tâm tính làm điều cốt yếu để mau chóng
được giải thoát ở bên ngoài thực tại, nơi Thiên đường của Chúa hay Niết bàn của Phật.
Theo cách nhìn của tôn giáo, cuộc đời là nơi đầy những cám dỗ, lành ít, dữ nhiều, đầy
những cạm bẫy, những cái ác, những sự ô uế, vẩn đục làm vấy bẩn linh hồn. Muốn sớm
được đến gần Chúa và trở về nơi nước Chúa, các con chiên phải tránh xa qủy dữ. Muốn
chứng được Niết bàn (đạt đến giải thoát), các tín đồ phật tử phải từ bỏ mọi ham muốn dục
thay! Cũng chính từ trong đạo Phật, từ trong các chùa chiền, không phải bây giờ mà ngay
từ rất lâu, ở nhiều nước khác, kể cả Ấn Độ và ở nước ta, từ ngay thời Lý, đạo Phật rất
thịnh đạt, đã nảy nở ra nhiều tập tục mê tín, dị đoan, tốn tiền của và không có lợi đối với
phong hóa xã hội.
Đạo Phật là đạo của trí tuệ, của giác ngộ và giải thoát, cho nên xa lạ với mê tín dị
đoan, Phật tử cầu được giác ngộ và giải thoát, chứ không cầu có quyền lực và quyền năng
siêu nhiên. Con người theo đúng lý tưởng đạo Phật phải là con người hoàn thiện, chứ
không phải là con người siêu nhiên. Phải là con người gần gũi với đời, với người để cứu
thế độ nhân, chứ không phải là kẻ sĩ ẩn lánh đời, sống cuộc đời gọi là thanh cao nhưng
không giúp ích được gì cụ thể cho đời. Những tác hại của mê tín dị đoan như vậy không
ít. Trong khi đó, thì trong hàng ngũ tăng ni, vì quá đông không được chọn lọc kỹ, cho nên
cũng có những kẻ đội lốt người xuất gia, làm những chuyện đồi phong bại tục, gây ảnh
hưởng rất xấu cho đạo Phật. Vì vậy, mà có lời tâu của Đàm Dĩ Mông lê vua Lý Cao Tông
năm 1198: “Bây giờ tăng đồ gần bằng số dịch phu. Chúng tự kết bè, bầu chủ, họp nhau
thành từng bầy. Chúng làm nhiều chuyện bẩn thỉu. Hoặc ở nơi giới trường tịnh xá mà
công nhiên rượu thịt, hoặc ở trong trai phòng, tĩnh viện mà âm thầm gian
dâm...”. Dạo gần đây, phong trào sư giả đội lốt lại phát triển, liên tiếp được đăng lên báo
chí để cảnh báo mọi người, khiến cho đạo Phật giảm đi uy tín trong lòng người dân.
Một vấn đề nữa chính là việc lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo để chống phá chính
quyền nhà nước Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam của tổ chức phản động trong và
ngoài nước. Chúng đội lốt tín ngưỡng, lôi kéo người dân xuyên tạc, chống phá nhà
nước gây ảnh hưởng đoàn kết dân tộc, ảnh hưởng đến an ninh chính trị, sự hòa bình
đất nước, làm đức tin của người dân giảm xuống.
Tóm lại, Phật giáo hòa nhập thành một yếu tố dân tộc nên đã thúc đẩy bánh xe
lịch sử tiến lên theo khả năng và vị trí của Phật giáo trong mối quan hệ với các
2.3 Kế thừa những gia trị tích cực của Phật giáo trong xây dựng đời
sống văn hóa tinh thần người Việt Nam