TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐHQGHN
KHOA TRIẾT HỌC
-----------------------
LÕ THỊ KIỀU OANH
ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA DÂN TỘC THÁI Ở HUYỆN
MAI CHÂU, TỈNH HÕA BÌNH TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP
HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH TRIẾT HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy
Khóa học: QH – 2016 – X
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS. NGUYỄN THỊ LAN
HÀ NỘI, 2020
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan tất cả nội dung trong khóa luận với đề tài “Đời sống
văn hóa tinh thần của dân tộc Thái ở Mai Châu – Hòa Bình trong quá
trình công nghiệp hóa hiện nay” là công trình nghiên cứu cá nhân tôi và
dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Thị Lan. Các kết quả nghiên cứu và các
kết luận trong khóa luận này là trung thực, không sao chép từ bất kỳ một
nguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào. Các nguồn tài liệu tham khảo đã
được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định, nếu
phát hiện ra có sự gian lận tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước hội đồng
và kết quả của khóa luận.
Hà Nội, ngày 30 tháng 5 năm 2020.
2.2. Thực trạng đời sống văn hóa tinh thần của dân tộc Thái ở huyện Mai
Châu, tỉnh Hòa Bình trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ......... 36
2.2.1. Quá trình công nghiệp hóa ở Mai Châu – Hòa Bình ............................ 36
2.2.2. Thực trạng đời sống văn hóa tinh thần của dân tộc Thái ở Mai ChâuHòa Bình dưới tác động của CNH .................................................................. 40
2.3. Giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của dân
tộc Thái ở huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình trong quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa hiện nay............................................................................. 45
Tiểu kết chương 2 .......................................................................................... 50
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 54
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BSVH
: Bản sắc văn hóa
CNH
: Công nghiệp hóa
CVĐ
: Cuộc vận động
ĐSVH
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đời sống văn hóa tinh thần (ĐSVHTT) là một bộ phận tất yếu hợp
thành chỉnh thể đời sống xã hội. ĐSVHTT của con người, của xã hội đang trở
thành mối quan tâm chung của cộng đồng thế giới. Hạnh phúc của con người
không chỉ được đo bằng sự thỏa mãn nhu cầu vật chất mà còn cả sự thỏa mãn
nhu cầu văn hóa tinh thần.
Trong thời kỳ đổi mới hiện nay, Đảng ta đã khẳng định nền văn hóa mà
chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Nghị
quyết “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản
sắc dân tộc” [5] do Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII (1998) đưa ra đến nay
vẫn là Nghị quyết có ý nghĩa chiến lược, chỉ đạo quá trình xây dựng và phát
triển sự nghiệp văn hóa ở nước ta, cần được kế thừa, bổ sung và phát huy
trong thời kỳ mới. Văn kiện Đại hội X (2006) đã nhấn mạnh: Tiếp tục phát
triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc
dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế – xã hội, làm
cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội [7].
Đảng ta đã xác định: “Phương hướng chung của sự nghiệp văn hoá
nước ta là phát huy chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đại đoàn kết dân tộc,
ý thức độc lập tự chủ, tự cường, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ
nghĩa, xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc
dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, làm cho văn hoá thấm sâu vào
toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập
thể và cộng đồng, từng địa bàn dân cư, tạo ra trên đất nước ta đời sống tinh
thần cao đẹp, trình độ dân trí cao, khoa học phát triển, phục vụ đắc lực sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, văn minh, tiến bước vững chắc lên chủ nghĩa xã hội” [7,tr.106].
2
hóa này cũng vì thế mà mang cả những biểu hiện của văn hóa Thái, văn hóa
Mường và văn hóa các tộc người khác.
Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra nhiều chủ trương, chính sách
nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa
dân tộc, tạo điều kiện để khu vực miền núi phát triển đồng đều và vững chắc,
đóng góp vào việc thực hiện mục tiêu chung của đất nước trong thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trước tình hình đó, vấn đề xây dựng đời
sống văn hóa tinh thần ở cơ sở là vấn đề mang tính thời sự, cấp bách trong
giai đoạn hiện nay. Nhận thức được ý nghĩa của vấn đề xây dựng đời sống
văn hóa tinh thần là vô cùng quan trọng, tôi lựa chọn đề tài: “Đời sống văn
hóa tinh thần của dân tộc Thái ở huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình trong quá
trình công nghiệp hóa hiện nay” làm đề tài Khóa luận tốt nghiệp của mình, để
đóng góp một phần vào việc nghiên cứu lĩnh vực đời sống văn hóa tinh thần
của người Thái Mai Châu – Hòa Bình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Người Thái ở Mai Châu Hòa Bình là một tộc người với những nét văn
hóa đặc sắc đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học. Có
thể kể đến những công trình tiêu biểu như: “Tìm hiểu văn hóa cổ truyền của
người Thái Mai Châu” (Đặng Nghiêm Vạn) [4] có thể được coi như cuốn
“cẩm nang cung cấp những hiểu biết cơ bản về đời sống văn hóa – xã hội của
người Thái”. Ngoài ra là một loạt các công trình của các nhà nghiên cứu khác
đã giới thiệu những nét đặc trưng trong những thành tố văn hóa của người
Thái Mai Châu đó là:
Trong cuốn Văn hóa ẩm thực dân gian dân tộc Thái huyện Mai Châu,
tỉnh Hòa Bình tác giả Lường Song Toàn, Nxb Hội Nhà văn Hà Nội, năm
2016, tác giả đã giới thiệu về văn hóa ẩm thực của người Thái cũng như các
tục lệ ăn uống của người Thái và nêu rõ bản sắc dân tộc của người Thái Mai
Châu. Cuốn sách đã giúp tác giả có thêm kiến thức và góp phần nhận diện các
nhằm nâng cao ĐSVHTT của dân tộc Thái ở huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình.
Nhiệm vụ: Để đạt được mục đích nêu trên, khóa luận tập trung giải
quyết những nhiệm vụ sau đây:
5
Làm rõ khái niệm ĐSVHTT và những nội dung, yếu tố hợp thành
của nó.
Phân tích thực trạng ĐSVHTT của dân tộc Thái huyện Mai Châu,
tỉnh Hòa Bình trong quá trình công nghiệp hóa hiện nay.
Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao ĐSVHTT của dân tộc
Thái ở huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: ĐSVHTT của dân tộc Thái ở huyện Mai Châu,
tỉnh Hòa Bình trong quá trình công nghiệp hóa hiện nay.
- Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi không gian: Huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình
Phạm vi thời gian: từ năm 2010 đến nay. Khoảng thời gian đó là
khoảng thời gian cần thiết để tìm hiểu văn hóa, phong tục ảnh hưởng đến
ĐSVHTT của dân tộc Thái trong quá trình công nghiệp hóa hiện nay.
Phạm vi nội dung: Khóa luận tập trung nghiên cứu ĐSVHTT của dân
tộc Thái ở huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình trong quá trình CNH hiện nay.
5. Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu đề tài
- Phương pháp luận:
Khóa luận sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử để nhìn nhận đối tượng nghiên cứu, xem xét văn hóa là một dòng chảy
không ngừng, luôn trong quá trình vận động và biến đổi chứ không phải tĩnh
tại, đứng yên. Vận dụng quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, tác giả quan
sát các thành tố của văn hóa người Thái ở huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình
trong tiến trình phát triển của lịch sử, luôn vận động, biến đổi theo thời gian.
NỘI DUNG
Chương 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN VÀ TỎNG
QUAN VỀ HUYỆN MAI CHÂU, TỈNH HÕA BÌNH.
1.1.
Lý luận chung về đời sống văn hóa tinh thần
1.1.1. Khái niệm văn hóa và đời sống văn hóa
Văn hóa là một khái niệm mang nội hàm rộng với nhiều cách hiểu khác
nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người.
Đa số các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng: Văn hóa là tất cả những
giá trị vật chất và tinh thần do con người với tư cách con người - con người có
văn hóa, đã sáng tạo nên trong quá trình hoạt động thực tiễn xã hội để phục vụ
nhu cầu tồn tại và phát triển. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Vì lẽ sinh tồn
cũng như mục đích của cuộc sống, loài người sáng tạo và phát minh ra ngôn
ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật,
những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương tiện sử
dụng toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó, tức là văn hóa. Văn hóa là sự
tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài
người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với những nhu cầu của dân chúng và đòi
hỏi của sự sinh tồn”[10, tr.431].
Nói khái quát, văn hóa là khái niệm chỉ thuộc tính của con người là
sáng tạo, cải tạo hiện thực vươn tới giá trị nhân văn, thúc đẩy sự tiến bộ xã
hội, là dấu hiệu để phân biệt loài người với loài vật, cá nhân này với cá nhân
khác, cộng đồng này với cộng đồng khác. Đồng thời, đây cũng là khái niệm
để chỉ trình độ và chất lượng cuộc sống của con người.
Văn hóa là toàn bộ những giá trị do con người sáng tạo ra trong quá
trình lịch sử bằng lao động của mình trên cả hai lĩnh vực sản xuất vật chất và
cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà chúng ta đã tạo ra trong mấy
nghìn năm lịch sử.
9
Đời sống văn hóa là một bộ phận của đời sống xã hội, mà đời sống xã
hội là một phức thể các hoạt động sống của con người, nhằm đáp ứng các nhu
cầu tinh thần trên một cơ sở vật chất. Khái niệm “đời sống văn hoá” là cụm từ
mới được sử dụng rộng rãi ở nước ta vào những năm 80, 90 của thế kỷ XX.
Tiền thân của cụm từ này là cụm từ đời sống mới, tiêu đề của bài viết dưới
dạng hỏi - đáp, công bố năm 1947, tác giả Tân Sinh, một bút danh của Chủ
tịch Hồ Chí Minh. Trong bối cảnh trình độ học vấn của dân ta còn thấp, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng từ "mới" thay cho từ "văn hoá" để cho dân dễ
hiểu về xây dựng đời sống văn hoá. Có thể coi Đời sống mới là bài viết đầu
tiên đặt cơ sở lý luận cho việc xây dựng đời sống văn hóa ra đời sau Cách
mạng Tháng Tám 1945. Cho mãi tới những năm 80 của thế kỷ XX, trong chỉ
đạo xây dựng đời sống văn hoá, Đảng, Nhà nước vẫn sử dụng từ "mới" được
hiểu là kết tinh hàm lượng văn hoá, tri thức, cách tổ chức, giá trị mới trong
xây dựng nếp sống, nền văn hoá và con người.
Năm 1987, cuốn sách Đường lối văn hoá văn nghệ của Đảng Cộng sản
Việt Nam đã luận giải:
“Đời sống văn hoá chính là những hành vi sống biểu hiện một trình độ
văn hoá, bao gồm các hoạt động của xã hội, của tập thể, của từng cá nhân,
nhằm mục đích văn hóa hoá tức là hoàn thiện con người” [6].
Tác giả Nguyễn Hữu Thức trong cuốn sách Một số kinh nghiệm quản
lý và hoạt động tư tưởng - văn hóa quan niệm: Đời sống văn hóa được hiểu
một cách khái quát là hiện thực sinh động các hoạt động của con người trong
môi trường sống để duy trì, đồng thời tái tạo sản phẩm văn hóa vật chất, văn
hóa tinh thần theo những giá trị và chuẩn mực xã hội nhất định nhằm không
ngừng tác động, biến đổi tự nhiên, xã hội và đáp ứng nhu cầu đổi mới, nâng
phẩm văn hóa cao cấp, bởi chính hoạt động văn hóa đã làm hoàn thiện bản
chất người.
1.1.2. Khái niệm đời sống văn hóa tinh thần
ĐSVHTT không phải là một cơ cấu tĩnh tại, một hệ thống đóng kín,
nằm im của những giá trị loại biệt mà là một tổng thể đang vận động của các
giá trị tinh thần được thực hiện và thể hiện thông qua hoạt động của con
11
người trên các lĩnh vực khác nhau của sự sản xuất, trao đổi và tiêu dùng tinh
thần. Nói đến đời sống là nói “sinh hoạt”, nói “hoạt động”. ĐSVHTT là nói
hoạt động của con người trên lĩnh vực tinh thần – hoạt động sản xuất, trao dổi
và tiêu dùng giá trị tinh thần diễn ra trên các lĩnh vực tư tưởng, nghệ thuật,
khoa học, giáo dục, tín ngưỡng tôn giáo.
Các hoạt động ở các khâu nhu cầu, sản xuất, trao đổi, tiêu dùng giá trị
tinh thần cũng như ở lĩnh vực tư tưởng, nghệ thuật, khoa học, giáo dục, tín
ngưỡng tôn giáo không tách biệt nhau mà hòa quyện vào nhau. Trong tổng
hòa sống động của các hoạt động đó, các giá trị tinh thần được tạo ra, lan tỏa
và thẩm thấu vào từng con người, tạo thành niềm tin bên trong, thành tình
cảm, tâm lý, tập quán, thành lối sống, thành hành động tự nhiên hằng ngày
của họ. Nhờ đó và do đó mà mỗi người và mọi người đạt được những phẩm
chất tinh thần cao quý và tồn tại như một giá trị - giá trị “gốc” và tiếp tục sáng
tạo ra những giá trị mới cao hơn, thúc đẩy không ngừng sự phát triển về các
mặt chân, thiện, mỹ của dời sống xã hội, đáp ứng nhu cầu về giá trị tinh thần
ngày càng tăng lên của mọi thành viên trong xã hội. Chuẩn mực của sự hình
thành ĐSVHTT là chỉnh thể toàn vẹn của các quá trình và hiện tượng đó.
Như vậy khi xem xét và đánh giá ĐSVHTT thì không thể chỉ căn cứ
vào các giá trị tinh thần, các quá trình hình thành giá trị đó, mà còn phải xem
xét các giá trị đó có thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào
từng con người, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng, từng địa bàn dân cư
ĐSVHTT.
Như vậy, ĐSVHTT là tổng hòa sống động các hoạt động sản xuất, trao
đổi, tiêu dùng các giá trị tinh thần, làm cho các giá trị đó thấm sâu vào từng
con người, từng cộng đồng, trở thành yếu tố khăng khít của toàn bộ cuộc
sống, hoạt động và quan hệ con người, đáp ứng nhu cầu giá trị tinh thần ngày
càng tăng của mọi thành viên trong xã hội.
Với tính cách là một hệ thống, ĐSVHTT diễn ra trong sự vận động
tương tác giữa các nhu cầu, sản xuất, trao đổi, tiêu dùng giá trị tinh thần.
Nhu cầu giá trị tinh thần bao gồm hưởng thụ và sáng tạo, đó là nhu cầu
cơ bản thiết yếu trong đời sống của con người, của xã hội. Nhờ có nhu cầu giá
13
trị tinh thần mà sự tồn tại của con người mang tính người thực sự, đối lập với
tính tự nhiên, tính động vật.
Nhu cầu tinh thần có đặc điểm là: thứ nhất, liên quan chặt chẽ đến trình
độ nhận thức, tình cảm và điều kiện sinh hoạt vật chất của chủ thể. Thứ hai,
so với sự tăng lên của nhu cầu vật chất thì sự tăng lên của nhu cầu giá trị tinh
thần là vô hạn. Nhu cầu vật chất của con người liên quan đến cấu trúc sinh
học của nó và do đó sự tăng lên của nhu cầu này là có giới hạn cho phép con
người ta có thể tính toán, xác định, còn nhu cầu văn hóa tinh thần lại liên quan
đến cấu trúc nhân cách và do đó sự tăng lên của nhu cầu này là vô hạn rất khó
tính toán, xác định. Không thể đặt ra bất cứ giới hạn nào cho sự đầy đủ của
nhu cầu văn hóa tinh thần. Người ta có thể no đủ về cơm ăn, nước uống
nhưng không ai có thể no đủ về tri thức và các giá trị nghệ thuật.
Nếu không có nhu cầu thì sẽ không có sản xuất. Nhu cầu giá trị tinh
thần kích thích con người sáng tạo những giá trị tinh thần mới, kích thích trao
đổi giao lưu và tiêu dùng các giá trị tinh thần. Tóm lại, nhu cầu giá trị tinh
thần kích thích con người tham gia tích cực vào ĐSVHTT.
Sản xuất giá trị tinh thần là hoạt động tìm tòi, phát hiện và làm ra các
hóa thực hiện sự chọn lọc, đồng hóa và dị hóa, tiếp thu và gạt bỏ theo cơ chế
tiến hóa. Nhờ đó, ĐSVHTT của các bên tham gia giao lưu được mở rộng và
nâng cao hơn, đa dạng và phong phú hơn.
Tiêu dùng giá trị tinh thần là quá trình con người lựa chọn, tiếp nhận và
cảm thụ các giá trị tinh thàn nhằm đáp ứng nhu cầu hưởng thụ và sáng tạo giá
trị tinh thần của mình.
Quá trình tiêu dùng giá trị tinh thần cũng đồng thời là quá trình bồi
dưỡng tâm hồn, tư tưởng, tình cảm và nhân cách con người, nâng cao sự hiểu
biết, khả năng cảm thụ và sáng tạo văn hóa của nó. Do đó, tiêu dùng tinh thần
cũng đồng thời là sản xuất tinh thần – sản xuất ra chủ thể tiêu dùng mới cao
hơn.
Tiêu dùng giá trị tinh thần có đặc điểm là: thứ nhất, giá trị tinh thần
không phải chỉ tiêu dùng một lần cho một người mà nhiều lần cho nhiều
người. Sản phẩm vật chất mỗi lần dùng nó sẽ hao mòn đi hoặc mất đi, còn sản
15
phẩm tinh thần – một bản nhạc chẳng hạn, nghe một lần và nhớ mãi. Tiêu
dùng sản phẩm tinh thần không chỉ ở một người mà lan tỏa qua sự truyền bá
giữa người này với người kia, có khi truyền bá từ đời này sang đời khác. Thứ
hai, tiêu dùng giá trị tinh thần đòi hỏi người tiêu dùng phải có những phẩm
chất và năng lực nhất định, đồng thời quá trình tiêu dùng văn hóa tinh thần
cũng sẽ tạo ra và phát triển hơn nữa những phẩm chất và năng lực đó ở họ. Do
vậy, quá trình tiêu dùng các giá trị tinh thần đồng thời cũng là quá trình sáng
tạo các giá trị tinh thần.
ĐSVHTT bao quát các lĩnh vực hoạt động chủ yếu: tư tưởng, nghệ
thuật, khoa học, giáo dục, tín ngưỡng tôn giáo.
Hoạt động tư tưởng với tư cách là một lĩnh vực của ĐSVHTT có nhiệm
vụ không chỉ sản xuất ra trí thức, những quan điểm mới đúng đắn mà còn đưa
được chúng vào ý thức con người, trở thành “xu hướng chủ đạo dẫn dắt cá
cách khác phải “nâng khoa học lên trình độ nhân bản, vì sự phát triển của con
người, kể cả phần thể xác lẫn tâm hồn” [11. Tr.37].
Hoạt động giáo dục là hoạt động nhằm trang bị cho con người những tri
thức của tất cả các lĩnh vực khoa học tự nhiên, kỹ thuật, xã hội và nhân văn,
giúp họ có được những phẩm chất và năng lực cần thiết để sáng tạo những giá
trị mới cho cuộc sống, trong đó có giá trị tinh thần.
Giáo dục bao gồm giáo dục gia đình, nhà trường và xã hội. Lợi ích do
giáo dục không phải ngay lập tức mà trong tương lai (gần,xa), không chỉ cho
người được giáo dục mà cho cả toàn xã hội. Lợi ích giáo dục có tính lan tỏa,
nhờ đó mà tất cả các lĩnh vực khác của ĐSVHTT được thừa hưởng những
phẩm chất và năng lực của người được giáo dục.
Hoạt động tín ngưỡng tôn giáo là hoạt động hướng về một thế giới siêu
nghiệm với niềm tin tuyệt đối, sự trông cậy và tình cảm yêu mến đối với thế
giới siêu nghiệm đó [3].
Hệ thống luân lý đạo đức mà tôn giáo tạo ra được trong quá trình sinh
thành và phát triển của nó mang dấu ấn lịch sử, tính giai cấp và tính thời đại
rất khác biệt nhưng đều có điểm tương đồng, xuyên suốt là răn dạy các tín đồ
về các giá trị và quy phạm đạo đức. Những điều mà tôn giáo nhấn mạnh như
17
tránh điều ác, làm điều thiện, quan tâm đến mọi người…cũng là nhân tố góp
phần duy trì trật tự xã hội. Thực tế cuộc sống xác nhận rằng “ở đâu cái thiêng
và cái thiện được đề cao thì ở đó cái tục và cái ác có phần thuyên giảm”
[11,tr.38]. Trong phạm vi ý nghĩa này, tôn giáo có thể góp phần giáo dục đạo
đức và động viên những người tin đạo góp phần cùng xã hội tạo ra các giá trị
văn hóa.
Trong phạm vi của khóa luận, tác giả nghiên cứu ĐSVHTT ở góc độ
“Các lĩnh vực hoạt động chủ yếu của ĐSVHTT như tư tưởng, nghệ thuật,
khoa học, giáo dục, tín ngưỡng tôn giáo”.
xã. Đến nay, địa giới hành chính huyện Mai Châu ổn định với 23 đơn vị hành
chính gồm 22 xã Cun Pheo, Piềng Vế, Bao La, Xăm Khoè, Mai Hịch, Vạn
Mai, Mai Hạ, Tân Mai, Chiềng Châu, Nà Phòn, Nà Mèo, Tòng Đậu, Đồng
Bảng, Phúc Sạn, Tân Sơn, Noong Luông, Ba Khan, Thung Khe, Pù Bin, Hang
Kia, Pà Cò, Tân Dân và thị trấn Mai Châu.
Mảnh đất Mai Châu là nơi cộng cư của nhiều dân tộc, cũng là nơi giao
lưu của nhiều nền văn hóa. Nhưng Mai Châu là địa bàn cư trú chính của
người Thái, họ đã cùng các dân tộc, anh em khác trong huyện qua nhiều thế
kỷ đoàn kết, đấu tranh chống lại mọi thế lực phong kiến, đế quốc, cùng nhau
xây dựng đời sống ấm no, hạnh phúc.
Điều kiện kinh tế
Năm 2017, tổng giá trị sản xuất đạt 2.011.800 triệu đồng (giá hiện
hành), vượt 3,29% so với kế hoạch và tăng 12,27% so với cùng kỳ, trong đó:
Giá trị sản xuất nông – lâm – thủy sản đạt 686.800 triệu đồng, chiếm tỷ trọng
34,14%; giá trị công nghiệp xây dựng đạt 686.800 triệu đồng, chiếm tỷ trọng
34,55%; giá trị thương mại - dịch vụ - du lịch đạt 630.000 triệu đồng, chiếm
tỷ trọng 31,31%; tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt 43.794 triệu đồng; Tỷ lệ
lao động qua đào tạo đạt 34,41%; Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt
93,32%; Tỷ lệ hộ nghèo giảm 0,66% so với năm 2016 [23].
Trong trồng trọt thì cây lúa chiếm chủ yếu về diện tích và sản lượng.
Cây công nghiệp và cây ăn quả là thế mạnh kinh tế của huyện, nhưng vẫn
chưa thực sự được chú trọng phát triển. Ngành chăn nuôi ở Mai Châu chủ yếu
phát triển theo quy mô hộ gia đình. Các loại gia súc thường được nuôi là trâu,
bò, lợn theo phương thức chăn thả tự nhiên ở các bãi cỏ hoặc dưới tán rừng là
19
chính. Năm 2017, tổng đàn gia súc của huyện đạt 47.161 con, đàn gia cầm đạt
208.253 con; sản xuất nuôi trồng thủy sản tương đối ổn định, tổng diện tích ao
hồ nuôi trồng thủy sản toàn huyện đạt 75,22 ha, nuôi cá lồng đạt 584 lồng, sản
tổng mức đầu tư 40 tỷ đồng nhằm củng cố, tăng cường khai thác các tiềm
năng về du lịch. Huyện Mai Châu hiện có 119 nhà nghỉ từ khách sạn 3 sao
cho tới homestay, có các hộ homestay được lắp biển đồng giải thưởng
ASEAN giai đoạn 2016 - 2018. Trong năm 2016 toàn huyện đón 301.500 lượt
khách, trong đó khách quốc tế là 112.000 lượt khách, nội địa là 189.500
khách, tổng doanh thu du lịch đạt trên 75 tỷ đồng [23].
Lượng khách tới Mai Châu tương đối đông và rải đều vào các tháng
trong năm, tập trung nhiều vào cuối tuần. Là địa phương sớm phát triển du
lịch văn hóa dân tộc và du lịch sinh thái, khi thực hiện chương trình xây dựng
nông thôn mới, huyện vùng cao Mai Châu đã lồng ghép hiệu quả các nguồn
vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng du lịch, thực hiện đề án phát triển du lịch cộng
đồng gắn với xây dựng nông thôn mới.
Về kinh tế, người Thái là những người làm ruộng có kinh nghiệm sử
dụng sức nước vào việc canh tác cũng như phục vụ đời sống với hàng loạt
mương phai ngang dọc cánh đồng, nhất là hàng ngàn cối giã gạo, xe nước, lợi
dụng sức nước để phục vụ cho đời sống và sản xuất. Bàn tay cần cù và đầy
tinh tế của người phụ nữ Thái đã tạo nên những mảng màu sắc rực rỡ trên tấm
thổ cẩm làm say lòng bất cứ ai khi đến Mai Châu. Họ còn giỏi nghề chài lưới,
đi thuyền xuôi ngược trên dòng sông Đà, sông Mã nổi tiếng hung dữ, tài chăn
nuôi… Do đó đời sống vật chất của người Thái khá hơn các vùng xung
quanh, đảm bảo cho họ một đời sống tinh thần phong phú.
Từ lâu đời nay người phụ nữ Thái Mai Châu đã nổi tiếng với nghề dệt.
Họ là những nghệ nhân tài ba nơi núi rừng. Quan niệm về cái đẹp được người
con gái Thái thể hiện trên mỗi tấm thổ cẩm. Nhà nào cũng có một đến hai
khung dệt. Các cô gái Thái ngày đêm cần mẫn bên khung cửi, tỉ mỉ, khéo léo
dệt những tấm thổ cẩm với nhiều họa tiết hoa văn độc đáo. Khách ở xa vào
nhà người Thái sẽ cảm nhận được ngay những sản phẩm dệt trưng bày rực rỡ
trong lòng ngôi nhà sàn của họ qua những xấp chăn đệm, gối, áo… Trong các
21