M
1
.
TRONG QUÁ TRÌNH
8
1.1. Khái niệm chất lượng nguồn nhân lực và những yếu tố cấu thành chất
lượng nguồn nhân lực 8
1.1.1. Khái niệm chất lượng nguồn nhân lực 8
1.1.2. Các yếu tố cấu thành chất lượng nguồn nhân lực 19
1.2. Những yêu cầu đặt ra cho việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong
quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay 24
1.2.1. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phải phù hợp với điều kiện,
đặc điểm về số lượng, chất lượng, cơ cấu nguồn nhân lực của đất
nước 24
1.2.2. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phải không ngừng làm gia
tăng các giá trị đạo đức, trí tuệ, kỹ năng, thể chất của nguồn nhân
lực 30
1.2.3. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phải gắn với nhiệm vụ phát
triển kinh tế - xã hội 32
1.2.4. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực gắn với xu thế hội nhập
quốc tế 34
, 40
2.1. Vài nét về tình hình kinh tế - xã hội và quá trình công nghiệp hoá, hiện
đại hoá ở Vĩnh Phúc 40
2.1.1. Vài nét về tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc 40
2.1.2. Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Vĩnh Phúc hiện nay 54
2.2. Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực tỉnh Vĩnh Phúc trong quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay 62
2.2.1. Những thành tựu đạt được và nguyên nhân 62
lực tỉnh Vĩnh Phúc trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
hiện nay 102
3.2.5. Nhóm giải pháp về giáo dục - đào tạo 104
114
118 CNH, HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
HĐND: Hội đồng nhân dân
KCN: Khu công nghiệp
LĐTB&XH: Lao động - Thương binh và Xã hội
NQ: Nghị quyết
THCN: Trung học chuyên nghiệp
THCS: Trung học cơ sở
THPT: Trung học phổ thông
UBND: Ủy ban nhân dân
XHCN: Xã hội chủ nghĩa
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chất lượng nguồn nhân lực là một trong những vấn đề được quan tâm
hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Ngày
nay bất cứ quốc gia nào cũng nhận thức rõ nguồn nhân lực là nhân tố quyết
định sự phát triển kinh tế - xã hội của mình, trong đó chất lượng nguồn nhân
lực là yếu tố quan trọng trong tiến trình phát triển.
đào tạo nhân lực chất lượng cao đối với các ngành, lĩnh vực chủ yếu,
mũi nhọn. Chú trọng phát hiện, bồi dưỡng, phát huy nhân tài, đào tạo
nhân lực cho phát triển kinh tế tri thức” [12, tr.13].
Có thể nói, trong các Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII, IX, X và XI
Đảng Cộng sản Việt Nam đều nhất quán quan điểm coi con người là vốn quý
nhất, chăm lo hạnh phúc con người là mục tiêu cao nhất của chế độ ta, coi
việc nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát triển nguồn lực to lớn của con người
Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc CNH, HĐH. Việc
không ngừng nâng cao chất lượng đời sống về vật chất và tinh thần cho người
dân là mục tiêu thường xuyên và lâu dài của Đảng và Nhà nước ta, coi giáo
dục và bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực là động lực mạnh mẽ, quyết định
tới sự phát triển phồn thịnh của đất nước. Thực tiễn ở nước ta đã chứng tỏ
rằng nguồn lực con người giữ vai trò quyết định trong sự nghiệp xây dựng
chủ nghĩa xã hội.
Hiện nay, cơ cấu kinh tế nước ta đang có những bước chuyển dịch từ
các ngành nông nghiệp truyền thống sang các ngành công nghiệp và dịch vụ
theo hướng hiện đại, yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là rất cấp
bách. Vì vậy việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển và sử dụng
có hiệu quả nguồn nhân lực là vấn đề được quan tâm hàng đầu ở nước ta hiện
nay nhằm biến nguồn nhân lực thực sự trở thành động lực của quá trình phát
triển kinh tế - xã hội.
Vĩnh Phúc được tách ra tách ra từ tỉnh Vĩnh Phú vào năm 1997, so với
nhiều tỉnh thành trong cả nước thì Vĩnh Phúc có nhiều tiềm năng và lợi thế để
phát triển kinh tế - xã hội. Trong những năm qua, Vĩnh Phúc đã xây dựng
3
nhiều chính sách hợp lý nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh.
Song nhìn chung chất lượng nguồn nhân lực còn nhiều bất cập, trình độ phát
triển chưa đồng đều, việc quản lí, sử dụng và phân bố nguồn nhân lực trong
các vùng, ngành chưa hợp lý, chưa tận dụng và phát huy hết được tiềm năng
- Trần Văn Tùng, Lê Ái Lâm, Phát triển nguồn nhân lực - kinh nghiệm
thế giới và thực tiễn nước ta, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 1996. Công
trình đã phân tích nền kinh tế Việt Nam trong quá trình đổi mới, đồng thời
nêu lên vai trò của nguồn nhân lực trong quá trình đổi mới, chính sách phát
triển nguồn nhân lực của một số nước trên thế giới và Việt Nam, mức độ phát
triển nguồn nhân lực hiện nay.
- TS. Phạm Công Nhất, Phát huy nhân tố con người trong phát triển
lực lượng sản xuất hiện nay (sách chuyên khảo), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà
Nội 2007. Cuốn sách đã phân tích vai trò của nhân tố con người trong phát
triển lực lượng sản xuất, đánh giá thực trạng trong phát huy nhân tố con người
ở nước ta hiện nay. Từ đó đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển lực
lượng sản xuất.
- Vũ Ngọc Hải (2004), “Đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực để đẩy
mạnh CNH, HĐH và xây dựng nền kinh tế tri thức”, Tạp chí giáo dục,
(06).Trong cuốn sách này, tác giả đã đề cập vai trò quan trọng của nguồn nhân
lực đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, nhất là trong sự nghiệp CNH, HĐH
đất nước, nhấn mạnh vai trò của giáo dục và đào tạo, sử dụng và phát triển
nguồn nhân lực ở nước ta, qua đó đề xuất một số giải pháp để phát triển nguồn
nhân lực.
- Nguyễn Hữu Dũng (2003), Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người ở
Việt Nam, Nxb. Lao động - Xã hội, Hà Nội.
- GS. Lê Hữu Tầng với Đề tài KX-07-13, Về một số động lực phát triển
kinh tế- xã hội hiện nay. Các tác giả đã phân tích một số động lực để phát triển
kinh tế - xã hội, trong đó nhấn mạnh tầm quan trọng của nguồn lực con người.
- TS. Phạm Công Nhất, “Đổi mới tư duy giáo dục để phát triển nguồn
nhân lực trong điều kiện Việt nam hội nhập quốc tế hiện nay”, Tạp chí Khoa
giáo, số 11. Tác giả đã phân tích thực trạng nền giáo dục ở nước ta, từ đó đề
cập những giải pháp đổi mới tư duy giáo dục để phát triển nguồn nhân lực
trong điều kiện Việt Nam hội nhập quốc tế hiện nay.
* Luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:
6
Một là, làm rõ quan điểm về nguồn nhân lực, chất lượng nguồn nhân
lực và tính tất yếu của việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong sự
nghiệp CNH, HĐH đất nước.
Hai là, phân tích thực trạng chất lượng nguồn nhân lực ở tỉnh Vĩnh
Phúc hiện nay.
Ba là, đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH ở tỉnh Vĩnh phúc hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá ở tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận của luận văn là hệ thống các quan điểm của Chủ nghĩa
Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng và Nhà
nước ta về nguồn nhân lực trong quá trình phát triển đất nước.
- Luận văn sử dụng hệ thống các phương pháp nghiên cứu của triết học
duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, các phương pháp nghiên cứu chung như
phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh; các phương pháp đặc thù như: thống
kê và thu thập số liệu, điều tra xã hội học, v.v
6. Cái mới và những đóng góp về mặt khoa học của luận văn
- Làm rõ vai trò của chất lượng nguồn nhân lực đối với sự nghiệp CNH,
HĐH ở nước ta hiện nay nói chung, ở tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng.
- Đề xuất được một hệ thống các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH ở tỉnh Vĩnh Phúc hiện
nay.
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc học tập, nghiên
cứu và giảng dạy lý luận chính trị trong các nhà trường. Đồng thời luận văn
cũng có thể là tài liệu tham khảo cho lãnh đạo các cấp, các ngành tỉnh Vĩnh
cứu đề cập trên các góc độ sau:
Tác giả Stivastava M/P (Ấn Độ) trong cuốn “Human resource planing:
Aproach needs asessment and priorities in manpower planing”; Nxb Manak
New Delhi 1997, đã đưa ra định nghĩa về nguồn nhân lực dưới góc độ kinh tế
như sau:
“Nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ vốn nhân lực bao gồm thể lực,
trí tuệ, kỹ năng nghề nghiệp mà mỗi cá nhân sở hữu. Vốn nhân lực được hiểu
là con người dưới dạng một nguồn vốn, thậm trí là nguồn vốn quan trọng nhất
đối với quá trình sản xuất, có khả năng sản sinh ra các nguồn thu nhập trong
tương lai hoặc như là nguồn của cải có thể làm tăng sự phồn thịnh về kinh tế.
Nguồn vốn này là tập hợp những kỹ năng, kiến thức, kinh nghiệm tích luỹ
được nhờ vào quá trình lao động sản xuất. Do vậy các chi phí về giáo dục,
đào tạo, chăm sóc sức khoẻ và dinh dưỡng, để nâng cao khả năng sản xuất
của nguồn nhân lực được xem như chi phí đầu vào của sản xuất, thông qua
đầu tư vào con người” [33].
Trên cơ sở định nghĩa nguồn nhân lực như vậy, tác giả đã chỉ ra những
lợi ích lớn của việc đầu tư vào nguồn nhân lực đó là:
9
Đầu tư vào nguồn nhân lực là loại đầu tư có tỷ lệ thu hồi vốn cao, bởi
vốn nhân lực càng được sử dụng nhiều thì giá trị gia tăng càng tăng lên và
càng tạo ra được nhiều thu nhập. Vốn nhân lực không mang đặc điểm có tính
quy luật như các nguồn vốn khác, đó là : so với khấu hao vốn đã đầu tư vào
các tài sản và loại hình vật chất khác, thì đầu tư vốn nhân lực không gây áp
lực về khối lượng vốn lớn cần huy động trong khoảng thời gian ngắn, do quá
trình đầu tư dài và sau khi đã đầu tư thì vốn nhân lực tự duy trì và phát triển.
Hiệu ứng lan toả của đầu tư vốn vào nhân lực là rất lớn, tạo ra những
đột biến không lường trước được đối với phát triển kinh tế, do đặc điểm của
vốn nhân lực là mang tính sáng tạo, nó tự phát huy tiềm năng mà các nguồn
vốn khác không có.
người Việt Nam” Nxb Lao động Xã hội, đã luận giải bản chất của nguồn nhân
lực dưới những lát cắt khá rộng sau:
Nguồn nhân lực là tiềm năng của con người có thể khai thác cho sự
phát triển kinh tế - xã hội;
Nguồn nhân lực là số lượng và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất
và tinh thần, sức khoẻ và trí tuệ, năng lực, phẩm chất và kinh nghiệm sống;
Nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng, những lực lượng thể hiện
sức mạnh và sự tác động của con người trong việc cải tạo tự nhiên, cải tạo xã
hội; là sự kết hợp giữa trí lực và thể lực của con người trong sản xuất tạo ra
năng lực sáng tạo và chất lượng, hiệu quả của hoạt động lao động.
Chu Tiến Quang (Việt Nam) trong cuốn “Huy động và sử dụng các
nguồn lực trong phát triển kinh tế nông thôn - thực trạng và giải pháp” Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội 2005 đã đề cập về nguồn nhân lực như sau:
Nguồn nhân lực bao gồm cả số lượng và chất lượng của dân số và lao
động của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, được chuẩn bị về năng lực làm
việc và kỹ năng chuyên môn và ở một mức độ nhất định, đang và sẽ tham gia
vào các hoạt động kinh tế khác nhau trong xã hội [42].
Như vậy có thể thấy, khái niệm nguồn nhân lực được hiểu khá rộng với
các mức độ khác nhau. Theo nghĩa rộng thì nguồn nhân lực là “số dân và chất
lượng con người, gồm cả thể chất và tinh thần, sức khoẻ và trí tuệ, năng lực
11
và phẩm chất. Theo nghĩa hẹp thì nguồn nhân lực được hiểu là “lực lượng lao
động, gồm số người đang làm việc, người thất nghiệp, và lao động dự phòng;
hay bao gồm những người được đào tạo và chưa được đào tạo, có thể đang
làm việc hoặc đang không làm việc”. Theo cách hiểu hẹp nữa thì “nguồn nhân
lực là lực lượng lao động đang làm việc và lực lượng lao động có khả năng
nhưng đang không có việc làm (đang trong tình trạng thất nghiệp).
Nói một cách tổng quát nhất thì nguồn nhân lực chính là nguồn lao
động. Bao gồm tất cả mọi người thuộc mọi tầng lớp xã hội và nghề nghiệp
khu vực và trên thế giới.
Từ những cách tiếp cận đó, khái niệm “Chất lượng nguồn nhân lực”
được hiểu như sau:
“Chất lượng” là khái niệm có tính tương đối, để đánh giá được chất
lượng, người ta thường căn cứ vào mục đích, khi so sánh mức độ đáp ứng của
đối tượng được đánh giá với yêu cầu mục đích sử dụng. Vì vậy trên thực tế
thường xảy ra trường hợp cùng mức độ chất lượng của một đối tượng nhất
định, song lại được đánh giá ở mức độ tốt ở chỗ này, nhưng chỉ được đánh giá
ở mức độ trung bình hoặc yếu ở chỗ khác.
Chất lượng nguồn nhân lực là tổng thể năng lực về trí lực, thể lực và
khí chất (khí lực) của một tập hợp nhóm nhiều người trong mối tương quan
với khả năng đáp ứng yêu cầu phát triển bản thân con người và phát triển
kinh tế - xã hội, những năng lực này được hình thành và phát triển thông qua
giáo dục, đào tạo nghề nghiệp, chăm sóc sức khoẻ và quá trình lao động.
Từ những diễn dải như trên, có thể thấy chất lượng nguồn nhân lực
thường được hiểu dưới hai giác độ (cách tiếp cận):
Thứ nhất, về giác độ của một tập hợp nhiều người, khi đó có thể vận
dụng những khái niệm về chất lượng nguồn nhân lực của một lãnh thổ (quốc
gia, vùng, tỉnh, huyện hay một tổ chức, ).
Thứ hai, về khía cạnh đối với từng con người cụ thể, có thể hiểu “chất
lượng nguồn nhân lực” gồm “tất cả những đặc tính, yếu tố năng lực, thể chất
và tinh thần tồn tại trong một cơ thể con người đang sống và được người đó
đem ra vận dụng mỗi khi hoạt động để tạo ra một giá trị sử dụng nào đó”. Và
tất cả những yếu tố đặc trưng đó đều được đánh giá, so sánh trong thế động,
13
thế tương đối trong việc so sánh với mục tiêu đặt ra và mức độ đáp ứng yêu
cầu trong từng gai đoạn cụ thể, từng nhóm đối tượng và trường hợp cụ thể.
Chất lượng nguồn nhân lực được thể hiện ở những tiêu chí:
Thể chất (bao gồm thể lực, thể trạng);
Lao động qua đào tạo là những người lao động được đào tạo trong hệ
thống giáo dục quốc dân thống nhất, được cấp bằng, (chứng chỉ) về cấp bậc,
loại nghề đào tạo với kết quả là được trang bị những kiến thức, lý thuyết cơ bản
và có kỹ năng thực hành về một nghề (hoặc công việc) nhất định phù hợp với
yêu của cấp đào tạo và nghề nghiệp (công việc). Lao động qua đào tạo là kết
quả của hoạt động giáo dục - đào tạo nhằm trang bị cho người được đào tạo
những kiến thức cơ bản và kỹ năng nghề nghiệp ở các trình độ khác nhau cùng
với đạo đức, lương tâm và ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần hợp tác và tác
phong làm việc để thực hiện những công việc theo yêu cầu kỹ thuật nhất định.
Để đánh giá chất lượng nguồn nhân lực thông qua trình độ đào tạo, có
thể sử dụng 2 tiêu chí chính là: Tỷ lệ lao động qua đào tạo trong tổng số lao
động làm việc và tỷ lệ lao động qua đào tạo trong lực lượng lao động.
Ngoài ra, tuỳ theo mục đích của việc nghiên cứu, có thể sử dụng chỉ
tiêu tỷ lệ lao động qua đào tạo trong tổng số dân trong độ tuổi lao động và
một số chỉ tiêu chi tiết về các cấp độ đào tạo và cơ cấu nghành nghề đào tạo.
Căn cứ vào nội dung, phương pháp đào tạo và tính chất, mục đích sử
dụng, công việc được phân công, lao động qua đào tạo được phân chia thành
lao động qua đào tạo nghề và lao động chuyên môn, Theo sự phân loại này,
lao động qua đào tạo nghề là những người được đào tạo nhiều hơn về kỹ năng
thực hành, còn lao động chuyên môn được đào tạo và trang bị nhiều hơn về lý
thuyết và những kiến thức lý luận cơ bản.
Lao động qua đào tạo nghề
Lao động qua đào tạ nghề là lao động được quy ước là lao động qua đào
tạo, song chủ yếu là đào tạo thực hành, kỹ năng thực hành. Với ý nghĩa này, lao
động qua đào tạo nghề gần như tương đồng với thụât ngữ “lao động kỹ thuật”
và đào tạo nghề đồng nghĩa với đào tạo “kỹ thuật”. Tuy nhiên, trong quan niệm
phổ biến hiện nay thì lao động qua đào tạo nghề gắn chặt chẽ hơn với cấp đào
15
tạo “dạy nghề” trong hệ thống giáo dục quốc dân hiện hành (đựoc quy định
16
Từ chuyên môn “ở đây” cần được hiểu là chuyên môn sâu, lao động
chuyên môn được quy ước là những người đã qua đào tạo, song chủ yếu là
đào tạo lý thuyết cơ bản chuyên sâu về một lĩnh vực/nghành khoa học (xã hội,
kinh tế, tự nhiên), kỹ thuật, công nghệ, nghệ thuật, nhất định với kỹ năng
làm việc sử dụng lao động trí óc là chính.
Trong số lao động chuyên môn, có nhiều người đạt đựơc trình độ cao,
giỏi và chuyên sâu về một lĩnh vực nhất định được gọi là “chuyên gia”. Lao
động chuyên môn làm việc chủ yếu trong các lĩnh vực lãnh đạo, quản lí, khoa
học, giảng dạy ,nghiệp vụ về xây dựng kế hoạch, chính sách, Với tính chất
và yêu cầu của công việc là làm việc bằng lao động trí óc là chủ yếu, lao động
chuyên môn đòi hỏi phải được đào tạo trong thời gian dài, chuyên sâu về nghề
nghiệp và thiên về lý luận cơ bản, cùng với những kỹ năng thực hành và
phương pháp làm việc nhất định. Thường chỉ có những người trình độ đại học
trở lên mới được coi là lao động chuyên môn.
Lao động chuyên môn là một trong những nguồn để hình thành đội ngũ
cán bộ lãnh đạo, quản lý và trí thức của quốc gia. Vì vậy việc nâng cao cất
lượng đào tạo trong quá trình đào tạo bồi dưỡng và nâng cao trình độ nghề
nghiệp, phẩm chất đạo đức cho đội ngũ lao động này trong quá trình làm việc
có ý nghĩa rất quan trọng và phải làm thường xuyên, liên tục.
Trong điều kiện chưa có những kết quả kiểm nghiệm chọn mẫu, có thể
đánh giá chất lượng nguồn nhân lực của một quốc gia hay một lãnh thổ hoặc
của một đơn vị, tổ chức nhất định chủ yếu bằng việc đánh giá theo cấp bậc
trình độ đào tạo và bổ sung bằng những đánh giá định tính bằng năng lực thực
hành của nguồn nhân lực. Căn cứ để đánh giá chất lượng nguồn nhân lực theo
cấp bậc trình độ đào tạo là quy định của Nhà nước về cấp bậc trình độ đào tạo.
Hệ thống cấp bậc đào tạo của Việt Nam
Cấp bậc và danh mục nghề của lao động qua đào tạo được xác định căn
cứ vào các văn bản pháp quy của Nhà nước.
Theo Luật Giáo dục, các cấp bậc đào tạo của hệ thống giáo dục quốc
trong lao động sản xuất. Trên thực tế, để đánh giá chất lượng nguồn nhân lực
đảm bảo thể hiện kết quả của cả hai yếu tố quyết định đến chất lượng nguồn
nhân lực như trên, phải tiến hành kiểm tra, khảo nghiệm. Công việc này có
18
thể thực hiện với một người hoặc một nhóm người nhất định mà không thể áp
dụng cho toàn xã hội. Tuy nhiên, có thể sử dụng phương pháp chọn mẫu để
đánh giá chung cho toàn xã hội.
19
1.1.2. Các yếu tố cấu thành chất lượng nguồn nhân lực
Cho đến nay, vẫn chưa có một chỉ tiêu tổng hợp chung có thể đánh giá
một cách toàn diện chất lượng nguồn nhân lực, mà thông thường phải đánh
giá bằng hệ thống các chỉ tiêu phản ánh từng khía cạnh đặc trưng của chất
lượng nguồn nhân lực. Chất lượng nguồn nhân lực là khái niệm có tính thời
gian và không gian, tức là những tiêu chí để làm căn cứ đánh giá chất lượng
nguồn nhân lực ở mức cao, thấp, đáp ứng yêu cầu phát triển nhiều hay ít đều
phải căn cứ vào trình độ phát triển kinh tế, xã hội và nhận thức của con người,
căn cứ vào những mục tiêu cần đạt được và mức độ đáp ứng nhu cầu trong
những trường hợp, bối cảnh cụ thể.
Có thể khái quát chất lượng nguồn nhân lực do những yếu tố sau tạo
thành: Thể chất; trí tuệ và yếu tố khí chất.
Yếu tố thể chất của nguồn nhân lực, đựơc hình thành và phát triển bằng
con đường di truyền (nòi giống), nuôi dưỡng và luyện tập, rèn luyện thân thể
(thể dục, thể thao và các hoạt động lao động sản xuất). Đây là một trong
những yếu tố nền tảng không thể thiếu, tác động to lớn tới chất lượng của
nguồn nhân lực. Thể chất - sức khoẻ là điều kiện để duy trì và phát triển trí
tuệ, là phương tiện để chuyển tải tri thức vào hoạt động thực tiễn, để biến tri
thức thành sức mạnh vật chất hiện thực.
Với tư cách là một yếu tố cấu thành chất lượng nguồn nhân lực, sức
đối với nền văn minh nhân loại.
Con người vốn có nguồn cội từ tự nhiên và không thể tách rời thiên
nhiên trong sự tồn tại và phát triển của mình. Vì vậy thể chất - sức khoẻ của
con người phụ thuộc rất nhiều vào sự hiểu biết và trách nhiệm cao trước vấn đề
môi trường sinh thái, đây cũng là phẩm chất và năng lực cần thiết của nguòn
nhân lực trong quá trình tiến hành CNH, HĐH. Đó cũng là những yêu cầu cần
thiết để tránh được những hậu quả do sản xuất công nghiệp gây ra như: Ô
nhiễm nguồn nước, khí hậu, khai thác cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên dẫn đến
mất cân bằng sinh thái, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ và cuộc sống
của con người cũng như sự phát triển bền vững của đất nước.
Mấu chốt để phát triển nguồn nhân lực nói chung ở Việt Nam trước mắt
và lâu dài là phải tính đến yếu tố chất lượng sinh đẻ và yếu tố bồi dưỡng sức
21
dân. Không thể nói đến phát triển nguồn nhân lực khi sinh ra những đứa con
còi cọc, ốm yếu. Không thể nói đến phát triển nguồn nhân lực khi sức dân
không được bồi dưỡng.
Đối với yếu tố này, để xác định, đánh giá chất lượng, thường phải bằng
con đường khảo nghiệm thực tế như cân, đo, thực hiện các test về sức khoẻ
và đánh giá theo những tiêu chuẩn nhất định về trạng thái sức khoẻ.
Yếu tố, Năng lực hoạt động (năng lực tác nghiệp, trí tuệ, kỹ năng nghề
nghiệp). Được hình thành và phát triển thông qua con đường giáo dục - đào
tạo và thực tế lao động, hoạt động xã hội. Đối với yếu tố này cũng cần tiến
hành khảo nghiệm (thi, kiểm ta), đánh giá, song có thể sử dụng một phương
pháp thông dụng và tương đối thuận tiện là căn cứ vào số năm đi học (thể
hiện bằng cấp đào tạo) để phân loại chất lượng nguồn nhân lực. Theo đó chất
lượng nguồn nhân lực cao là những người có thời gian học tập và đào tạo dài,
nguồn nhân lực chất lượng thấp là những người chưa qua đào tạo và có thời
gian đào tạo ngắn.
Khi tham gia vào các quá trình phát triển kinh tế - xã hội, con người
dục phổ thông 12 năm) ở nền văn minh thông tin, trí tuệ. Bởi vậy, con đường
cơ bản nhất để phát huy tiềm năng nguồn nhân lực là biến dân tộc đó thành xã
hội có học vấn. Điều đó giải thích vì sao cuộc chạy đua về kinh tế giữa các
quốc gia hiện nay chủ yếu là cuộc chạy đua về phát triển giáo dục - đào tạo.
Dựa trên mặt bằng dân trí của nguồn nhân lực, Đảng và Nhà nước Việt
Nam cần có những chính sách để xây dựng và phát triển những lao động có
năng lực cao về trí tuệ. Họ phải có khả năng áp dụng khoa học để sáng chế
những kỹ thuật, công nghệ hiện đại, có kỹ năng nghề nghiệp, có năng lực
hoạch định chính sách, lựa chọn giải pháp và tổ chức thực hiện, biết quản lí
sản xuất kinh doanh trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá, cơ chế thị trường
và phân công lao động quốc tế Đây là những yêu cầu rất cơ bản về nguồn
nhân lực cần thiết cho CNH, HĐH trong bối cảnh hiện nay.
Yếu tố khí chất (phẩm chất đạo đức, tinh thần), khi nói đến nguồn nhân
lực của một quốc gia, không thể không tính tới yếu tố tinh thần được hình
thành và phát triển trên cơ sở truyền thống văn hoá dân tộc. Thực tế cho thấy,