MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1. NGUỒN LỰC CON NGƯỜI VÀ SỰ CẦN THIẾT PHÁT HUY VAI
TRÒ NGUỒN LỰC CON NGƯỜI TỈNH NGHỆ AN TRONG QUÁ
TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA HIỆN NAY 9
1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò nguồn lực con người 9
1.1.1. Khái niệm nguồn lực con người 9
1.1.2. Đặc điểm nguồn lực con người 12
1.1.3. Vai trò nguồn lực con người 18
1.2. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và sự cần thiết phát huy vai trò nguồn
lực con người tỉnh Nghệ An trong quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa hiện nay 22
1.2.1. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và những đặc điểm của quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Nghệ An hiện nay 22
1.2.2. Sự cần thiết phát huy vai trò nguồn lực con người tỉnh Nghệ An
trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay 30
Chương 2. THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM PHÁT
HUY VAI TRÒ NGUỒN LỰC CON NGƯỜI TỈNH NGHỆ AN
TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
HIỆN NAY 39
2.1.
Khái quát về điều kiện tự nhiên và tình hình phát triển kinh tế - xã hội
ở Nghệ An
39
2.2. Thực trạng phát huy vai trò nguồn lực con người tỉnh Nghệ An trong
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay 51
2.2.1. Thực trạng những thành tựu và nguyên nhân 51
2.2.2. Thực trạng những hạn chế và nguyên nhân 69
2.2.3. Những vấn đề đặt ra 78
2.3. Một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy nguồn lực con người Nghệ An
trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay 80
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong các yếu tố để tạo nên nền sản xuất xã hội thì yếu tố con người
đóng vai trò bậc nhất. Con người là chủ thể sáng tạo ra các giá trị vật chất,
văn hóa và tinh thần xã hội, là động lực chủ yếu thúc đẩy sự phát triển tiến bộ
xã hội. Con người cũng là sản phẩm kì diệu, là giá trị cao nhất của toàn bộ sự
phát triển thế giới vật chất và tinh thần, đồng thời chịu sự chi phối của các qui
luật tự nhiên và xã hội - con người ở vị trí trung tâm của tiến trình lịch sử.
Chính vì vậy, con người, trong tư duy nhân loại, không chỉ là vấn đề thực tiễn
mà còn là vấn đề cốt lõi của lí luận xã hội và nhân văn, kinh tế và quản lí…
Những thập kỉ gần đây, cùng với việc khoa học - kĩ thuật và công nghệ,
những sản phẩm đã được vật thể hóa của trí tuệ con người, thành lực lượng
sản xuất trực tiếp, nền kinh tế thế giới. Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều
có chương trình mang tính chiến lược về đầu tư và phát triển con người của
riêng mình, hướng theo một nguyên tắc chung là: Đặt con người vị trí trung
tâm của sự phát triển kinh tế - xã hội. Sự thừa nhận vai trò quyết định của
nguồn lực con người trong phát triển kinh tế - xã hội mang ý nghĩa bước
ngoặt của tư duy nhân loại, vừa mở ra một triển vọng mới cho tất cả các nước.
Ở Việt Nam, sau khi hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc và dân chủ
nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cả nước vững bước tiến lên chủ nghĩa
xã hội với những bước đi quá độ đầu tiên. Tuy nhiên, khác với các quốc gia
trong khu vực và trên thế giới, chúng ta đi lên trong điều kiện đất nước nghèo
nàn lạc hậu, các nguồn tài nguyên thiên nhiên tuy phong phú nhưng chưa thể
được coi là nguồn lực. Trong điều kiện đó, tiềm năng về con người đã và
đang trở thành nhân tố quan trọng hàng đầu, nhất là trong thời kì cả nước
đang tiến hành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH). Đường
lối đổi mới đất nước bắt đầu từ Đại hội VI, Đảng ta đã nhận thức ngày càng
1
đầy đủ vai trò động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội là con người. Chúng
ta đang bước vào thời kì đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Sau gần 20 năm đổi
tài luận văn thạc sĩ Triết học, chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Con người luôn là vấn đề trung tâm của triết học và là đối tượng nghiên
cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau.
Những thập kỉ gần đây, vấn đề nguồn lực con người và phát huy vai trò
sáng tạo của con người trong sự phát triển xã hội là một trong những đề tài
thu hút sự chú của các nhà lãnh đạo, quản lí, đặc biệt là các nhà lí luận. Đã có
nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề nguồn lực con người từ các góc độ triết
học, xã hội học, tâm lí học, luật học…
Ở Liên Xô cũ, các nhà nghiên cứu lí luận dưới góc độ khác nhau đã tiếp
cận một cách khoa học vấn đề: Vai trò của nguồn lực con người trong chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội. Vai trò sáng tạo của con người trong sự phát
triển xã hội là một trong những đề tài thu hút sự chú ý của các nhà lãnh đạo,
quản lí, đặc biệt là các nhà lí luận. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn
đề nguồn lực con người từ các góc độ triết học, xã hội học, tâm lí học,luật
học…
Từ những năm 80, ở nước ta khi bắt tay vào sự nghiệp đổi mới, chúng
ta càng nhận ra vai trò đặc biệt của con người trong sự phát triển kinh tế - xã
hội. Do đó, đã có nhiều cuộc hội thảo khoa học, nhiều nhà nghiên cứu, tiêu
biểu có các công trình nghiên cứu sau:
- Nguyễn Trọng Chuẩn, "Nguồn nhân lực con người trong chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội của nước ta đến năm 2000", Tạp chí Triết học (4),
1990. Bài viết này đã khai thác một vài khía cạnh của nguồn lực con người,
3
khẳng định vai trò nguồn lực con người trên phương diện là động lực quan
trọng cho phát triển kinh tế - xã hội, CNH, HĐH đất nước.
- Phạm Văn Đức, "Một số giải pháp nhằm khai thác có hiệu quả nguồn
nhân lực con người", Tạp chí Triết học, (6), tháng 6 - 1996. Trong bài này tác
giả nói về vai trò nguồn nhân lực con người và để khai thác có hiệu quả
nguồn nhân lực đó thì phải thực hiện các giải pháp.
Ở Nghệ An đã có một số công trình nghiên cứu:
- Nguyễn Quang Hồng, Thành phố Vinh quá trình hình thành và phát
triển (18 - 04 - 1945), Nxb. Nghệ An, 2001. Tác giả viết về quá trình lịch sử và
sự ra đời của Thành phố Vinh cũng như những bước phát triển của thành phố.
- Lê Bá Hán, Đoàn Minh Duệ, Con người Nghệ An trước yêu cầu của
sự nghiệp công nghiệp hóa,hiện đại hóa, Nxb. Nghệ An, 2001. Trong cuốn
sách này chỉ đề cập đến yếu tố con người Nghệ An và vai trò của nó trước sự
nghiệp CNH, HĐH đất nước.
- Văn hóa các dòng họ ở Nghệ An với sự nghiệp thực hiện chiến lược
con người Việt Nam đầu thế kỷ XXI. Kỷ yếu hội thảo khoa học, Nxb. Nghệ
An, 1997. Hội thảo đã nêu lên bản sắc văn hóa các dòng họ ở Nghệ An và vai
trò của nó trước chiến lược phát triển con người Việt Nam.
- Sở Kế hoạch và Đầu tư Nghệ An (7/2011), Báo cáo tình hình kinh tế -
xã hội năm 2011 và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2012. Báo cáo
này đã tập trung đánh giá tình hình kinh tế - xã hội năm 2011 và đề ra kế
hoạch phát triển kinh tế năm 2012 của Nghệ An.
Mặc dù, đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề nguồn lực con
người, nhưng chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, đầy
đủ vai trò, vị trí của nguồn lực con người tỉnh Nghệ An. Vì vậy, tác giả mạnh
dạn nghiên cứu vấn đề này với mong muốn góp phần lí giải cơ sở lí luận và
5
thực tiễn cho việc phát huy vai trò nguồn lực con người tỉnh Nghệ An trong
quá trình CNH, HĐH hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
* Mục đích nghiên cứu:
Mục đích của luận văn là trên cơ sở nghiên cứu khảo sát và đánh giá
thực trạng nguồn lực con người tỉnh Nghệ An đi đến đề xuất một số giải pháp
nhằm phát huy vai trò nguồn lực con người tỉnh Nghệ An trong quá trình
CNH, HĐH hiện nay.
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
* Phương pháp nghiên cứu:
- Để thực hiện mục tiêu đề ra, luận văn dựa trên phương pháp luận chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các quan điểm của
Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước về nguồn lực con người.
- Ngoài ra, tác giả sử dụng các phương pháp hệ thống - cấu trúc logic -
lịch sử, kết hợp chặt chẽ với phân tích - tổng hợp, khảo sát, so sánh, hệ thống
hóa, khái quát hóa, điều tra xã hội học… để xử lí các tài liệu lí luận và các
thực tiễn có liên quan nhằm giải quyết các nhiệm vụ đặt ra.
6. Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Góp phần làm rõ lịch sử nghiên cứu và những vấn đề về phương pháp
luận nghiên cứu của nguồn lực con người.
- Đánh giá thực trạng phát huy nguồn lực con người tỉnh Nghệ An
trong quá trình CNH, HĐH hiện nay.
- Bước đầu phân tích và đề xuất một số quan điểm và những giải pháp
cơ bản nhằm phát huy vai trò nguồn lực con người tỉnh Nghệ An.
7
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
kết cấu thành 2 chương, 5 tiết:
Chương 1. Nguồn lực con người và sự cần thiết phát huy vai trò nguồn
lực con người tỉnh Nghệ An trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
hiện nay.
Chương 2.Thực trạng và những giải pháp phát huy vai trò nguồn lực
con người tỉnh Nghệ An trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện
nay.
8
Chương 1
NGUỒN LỰC CON NGƯỜI VÀ SỰ CẦN THIẾT PHÁT HUY VAI TRÒ
NGUỒN LỰC CON NGƯỜI TỈNH NGHỆ AN TRONG QUÁ TRÌNH
mỗi quốc gia. Mỗi khi sử dụng nguồn lực đó nó không chỉ góp phần thúc đẩy
nền kinh tế - xã hội phát triển mà thông qua đó nó còn giúp cho con người
ngày càng được hoàn thiện và được khẳng định mình đối với xã hội, đối với
đất nước.
Ở nước ta, các tác giả của chương trình khoa học - công nghệ cấp nhà
nước, mã số KX - 07: "Con người Việt Nam - mục tiêu và động lực của sự
phát triển kinh tế - xã hội", do GS. TSKH. Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm
cho rằng: "Nguồn nhân lực (nguồn lực con người) được hiểu là số dân và chất
lượng con người bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng
lực và phẩm chất" [26, tr.328].
GS. TS. Hoàng Chí Bảo quan niệm: "Nguồn lực con người là sự kết
hợp thể lực và trí lực, cho thấy khả năng sáng tạo, chất lượng, hiệu quả hoạt
động và triển vọng mới phát triển của con người" [6, tr.13].
Bàn về vấn đề này, PGS. TS. Đoàn Văn Khái cho rằng: "Nguồn lực con
người là khái niệm chỉ số dân, cơ cấu dân số và nhất là chất lượng con người
với tất cả đặc điểm và sức mạnh của nó trong sự phát triển xã hội" [38, tr.62].
Theo tác giả cuốn "Nguồn lực và động lực phát triển trong nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam" do GS. TSKH. Lê Du
Phong chủ biên, thì: "Nguồn lực con người được hiểu là tổng hòa trong thể
thống nhất hữu cơ giữa năng lực xã hội của con người (thể lực, trí lực, nhân
cách) và tính năng động của con người. Tính thống nhất đó được thể hiện ở
quá trình biến nguồn lực con người thành vốn con người" [38, tr.62]. TS. Hồ
Anh Dũng trong một cuốn sách xuất bản năm 2002, cho rằng: "Nguồn nhân
10
lực là nguồn sức mạnh của con người, là sự kết hợp hữu cơ giữa thể lực và trí
lực, đem lại cho con người năng lực sáng tạo và nâng cao chất lượng, hiệu
quả hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới và nhu cầu con người [16, tr.62]. Mặt
khác, tác giả này cũng cho rằng: "Khái niệm nguồn lực con người không mẫu
thuẫn mà thống nhất với khái niệm yếu tố con người trong lực lượng sản xuất.
Hai vấn đề đó chỉ khác nhau ở phạm vi xem xét mà thôi" [16, tr.62].
được dịch ra với từ ngữ khác nhau, song giống nhau về bản chất. Theo
Human Resources thì: "Nguồn nhân lực là chỉ những người đang và sẽ bổ
sung vào lực lượng lao động xã hội đa dạng và phong phú, bao gồm các thế
hệ đang học tập văn hóa và nghề nghiệp để tham gia vào lao động xã hội".
Tìm hiểu khái niệm "nguồn lực con người" cái chính là hiểu đúng nội
hàm khái niệm nguồn lực con người để trên cơ sở đó định hướng đúng đắn
cho việc duy trì, phát triển, khai thác và sử dụng nguồn lực con người, phát
huy tốt tiềm năng con người. Qua đó, khai thác có hiệu quả các nguồn lực
khác vì mục tiêu phát triển.
1.1.2. Đặc điểm nguồn lực con người
Khái niệm nguồn lực con người có một phạm vi bao quát. Theo đó,
nguồn lực con người không chỉ thuần túy là lực lượng lao động mà còn là
toàn bộ tiềm năng về con người của mỗi quốc gia hay cộng đồng nhằm thúc
đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Với ý nghĩa đó, nguồn lực con người
mang nội dung rộng lớn, bao gồm các đặc điểm sau:
Thứ nhất, nguồn lực con người được biểu hiện ra trước hết là người lao
động, là lực lượng lao động (số người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao
động), là nguồn lao động (đội ngũ lao động hiện có và sẽ có trong tương lai).
Số lượng nguồn nhân lực là một khái niệm số lượng, một bộ phận dân cư đã
và đang tham gia vào lực lượng lao động của mỗi quốc gia hay cộng đồng. Số
lượng nguồn nhân lực thể hiện ở quy mô lực lượng lao động, về cơ cấu và độ
12
tuổi lao động. Ngoài ra, số lượng nguồn nhân lực còn thể hiện ở tỷ lệ giới
trong lực lượng lao động, tỷ lệ phân bố lao động giữa các vùng miền kinh tế,
lãnh thổ của quốc gia hay cộng đồng. Với quy mô dân số ngày càng đông, do
đó lực lượng lao động ở Việt Nam tăng nhanh sau mỗi năm. Tổng số lực
lượng lao động ở nước ta hiện nay khoảng 51.398,4 nghìn người (2011). Việt
Nam có một nguồn nhân lực trẻ khá dồi dào và là tiền đề thuận lợi cho quá
trình CNH, HĐH hiện nay. Tuy nhiên, do việc phân bố lao động giữa các
ngành, vùng kinh tế và cộng đồng còn bất hợp lý nên lợi thế này hiện nay
thể lực và đạo đức là những yếu tố quan trọng nhất, quyết định chất lượng và
sức mạnh nguồn lực con người. Nghĩa là, nói đến nguồn lực con người là phải
nói đến chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và
trí tuệ, năng lực và phẩm chất…
Thứ tư, khái niệm nguồn lực con người còn hàm chứa cả sự liên hệ, tác
động lẫn nhau giữa các yếu tố nội tại cấu thành nó cũng như sự ảnh hưởng tác
động qua lại giữa nguồn lực con người với môi trường tự nhiên và môi trường
xã hội, giữa nguồn lực con người với các nguồn lực khác. Nếu như các nguồn
lực khác khi sử dụng, khai thác không những không được tái tạo mà ngày
càng cạn kiệt. Trái lại, nguồn lực con người mà bộ phận cốt lõi là trí tuệ, lại
có tiềm năng vô tận càng khai thác, sử dụng càng tạo ra giá trị cao hơn.
Nguồn sức mạnh to lớn đó ngoài việc biểu hiện ở khía cạnh thể lực còn được
thể hiện ra ở trí lực, niềm tin, ý chí. Đồng thời, nó còn nói lên sự biến đổi về
số lượng, chất lượng, cơ cấu dân cư và lực lượng lao động.
Thứ năm, nguồn lực con người còn chỉ ra rằng: Con người được xem
xét với tư cách là một nguồn lực, nguồn lực nội tại, cơ bản trong hệ thống các
nguồn lực của sự phát triển xã hội. Sức mạnh của nguồn lực con người thể
hiện ở sức mạnh của thể lực, trí lực, niềm tin, ý chí… Ở sự thống nhất biện
chứng giữa sức mạnh vất chất và sức mạnh tinh thần của mỗi cá nhân và của
14
cả cộng đồng, không chỉ trong hiện tại mà còn ở dạng tiềm năng. Là một
nguồn lực, cũng như các nguồn lực khác (tài nguyên thiên nhiên, vốn, công
nghệ…) con người tạo ra sức mạnh và tham gia vào quá trình thúc đẩy sự
phát triển của một quốc gia, dân tộc. Song, so với các dạng nguồn lực khác,
nguồn lực con người là một dạng nguồn lực đặc biệt, có nó các nguồn lực
khác mới phát huy được tác dụng và có ý nghĩa tích cực đối với sự phát triển
xã hội. Tính đặc biệt thể hiện: Đây là dạng nguồn lực có sức mạnh tự thân.
Sức mạnh tự thân có được là nhờ sự kết hợp giữa các yếu tố khách quan và
nhân tố chủ quan của mỗi người để tạo nên sức mạnh của cộng đồng. Quá
trình sử dụng nguồn lực không bao giờ cạn kiệt vì nó có khả năng tự phục hồi,
của nó.
Về mặt chất lượng, đây là yếu tố quan trọng nhất trong nguồn lực con
người của một quốc gia, một địa phương. Trước đây, có lúc chúng ta hiểu
nguồn lực con người có phần đơn giản, thường cho rằng: Có nguồn lao động
dồi dào, người lao động cần cù, chịu khó, thông minh và sáng tạo là có thể tạo
ra nhiều của cải vật chất, tăng năng suất lao động xã hội. Từ thực tiễn xây
dựng đất nước ở Việt Nam, cũng như sự phát triển nhanh chóng của cuộc
cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại cho thấy, sự dồi dào nguồn lao
động và sự cần cù của con người là yếu tố quan trọng nhưng chưa thể tạo nên
động lực mạnh mẽ thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, nhất là trong thời kì
CNH, HĐH. Vì vậy, hiểu một cách đúng đắn và toàn diện về nguồn lực con
người, không chỉ nói đến mặt số lượng mà chủ yếu là nhấn mạnh mặt chất
lượng của nó. Đây mới là yếu tố quyết định, nói lên sức mạnh và tiềm năng to
lớn của nguồn lực con người trong phát triển. Chất lượng nguồn lực con
người là một khái niệm tổng hợp bao gồm những yếu tố về thể lực, trí lực,
trình độ học vấn, chuyên môn kĩ thuật, năng lực, phẩm chất, đạo đức… của
người lao động. Trong đó, các yếu tố trình độ học vấn, chuyên môn kĩ thuật,
16
phẩm chất, đạo đức là quan trọng nhất, nó phản ánh mức độ trưởng thành của
con người. Mặt khác, nguồn lực trí tuệ được xem là bộ phận sáng giá nhất
trong các yếu tố làm nên chất lượng nguồn lực con người. Bởi xét ở cả
phương diện cá thể cũng như ở xã hội, trí tuệ đóng vai trò trung tâm chỉ đạo
mọi hành vi và quyết định phần lớn khả năng sáng tạo của con người trong
quá trình hoạt động thực tiễn cũng như trong việc lựa chọn phương pháp, giải
pháp thích hợp nhằm phát huy tác dụng của các yếu tố khác trong cấu trúc
nguồn lực con người.
Cuộc cách mạng KH & CN hiện nay đang đặt ra những yêu cầu rất cao
ở trí tuệ của con người - những người lao động. Họ không chỉ có khă năng
tiếp thu tri thức mới vận dụng có hiệu quả vào sản xuất, mà còn phải biết
thường xuyên tự bổ sung, bồi dưỡng tri thức để không bị lạc hậu trước sự phát
trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và cộng sản chủ nghĩa.
Để đánh giá hết được vai trò của nguồn lực con người thì chúng ta cần
đặt nó trong mối quan hệ với các nguồn lực khác.
Sự tồn tại bền vững và phát triển theo con đường tiến bộ của bất cứ
quốc gia nào bao giờ cũng phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Vị trí địa lý, tài
nguyên thiên nhiên, nguồn vốn đã được tích lũy trong nước và nguồn vốn
tranh thủ từ nước ngoài, khả năng làm chủ và sử dụng có hiệu quả các thành
tựu của khoa học công nghệ… Tuy nhiên, các nhân tố đó chỉ tồn tại dưới
dạng tiềm năng chứ không phải là những nhân tố có tính tự thân để tạo ra các
giá trị. Giá trị của chúng chỉ thực sự bộc lộ khi có bàn tay tác động của con
người. Bởi con người không chỉ tồn tại với tư cách là chủ thể của các mục
tiêu phát triển, quá trình phát triển. Các vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên là
18
những nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của đất nước. Nhưng
thực tế cho thấy, chúng phụ thuộc vào khả năng khai thác của con người.
Sở dĩ nguồn lực con người đóng vai trò quyết định đến các quá trình
phát triển kinh tế và xã hội, trước hết là do năng lực sáng tạo trí tuệ của bản
thân con người và cộng đồng người theo chiều hướng tiến bộ của lịch sử. Do
đó, nguồn lực con người phải được nhìn nhận trong môi trường của nền văn
minh và phát triển mạnh mẽ trong điều kiện chịu ảnh hưởng của một hệ tư
tưởng tiên tiến và của một trình độ phát triển KH & CN hiện đại. Trong đó,
những kiến thức thuộc về chân lý khoa học không tách rời với các chuẩn mực,
đạo đức và nhân văn.
Thực tế, ở những thế kỷ trước đây, sức mạnh cải tạo tự nhiên của con
người chủ yếu thể hiện thông qua lao động bằng chân tay thì ngày nay sức
mạnh đó đang có xu hướng tiến tới bằng khă năng lao động trí tuệ. Mặt khác,
KH & CN đang dần dần trở thành "lực lượng sản xuất trực tiếp" như dự báo
của C.Mác trước đây và đang trở thành hiện thực trong thời đại ngày nay thì
tiềm năng về lao động, sáng tạo ra các giá trị của cải vất chất và tinh thần lại
càng trở nên vô tận.
tạo của con người và phục vụ cho nhu cầu, lợi ích của con người. Các nguồn
lực này chỉ tồn tại dưới dạng tiềm năng, muốn phát huy tác dụng và có ý
nghĩa trong quá trình CNH, HĐH thì các nguồn lực này phải được kết hợp với
nguồn lực con người thông qua hoạt động có ý nghĩa của con người. Bởi các
nguồn lực khác tự nó, không thể trở thành nguồn lực. Trong các nguồn lực,
chỉ có con người là nguồn lực duy nhất biết tư duy, có trí tuệ và có ý thức để
sử dụng các nguồn lực khác và gắn các nguồn lực khác với nhau, tạo thành
nguồn sức mạnh tổng hợp, cùng tác động vào quá trình CNH, HĐH.
Thứ hai, so với các nguồn lực khác, chỉ có nguồn lực con người mà cốt
lõi là trí tuệ mới là nguồn lực có tiềm năng vô hạn, còn các nguồn lực khác
20
đều hữu hạn. Tính vô hạn của trí tuệ con người được biểu hiện ở chỗ, nó có
khả năng không chỉ sản sinh về mặt sinh học mà còn tự đổi mới không ngừng,
phát triển về chất trong con người xã hội, nếu biết chăm lo, nuôi dưỡng và
khai khác nguồn lực con người một cách hợp lý. Trong khi đó, các nguồn lực
khác có thể bị khai thác cạn kiệt đúng như nhà tương lai học người Mỹ, Alvin
Toffler đã nhận định "Tri thức có tính chất lấy không bao giờ hết được" [54,
tr.41]. Tuy nhiên, tính vô tận của tiềm năng trí tuệ thể hiện trên phạm vi cộng
đồng, nhân loại chứ không phải ở mỗi cá nhân.
Thứ ba, trí tuệ con người có sức mạnh áp đảo so với các nguồn lực
khác, một khi nó được vật thể hóa trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Sự
phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng KH & CN hiện đại, đang dẫn nền
kinh tế thế giới vận động đến nền kinh tế của trí tuệ. Ở những nước công
nghiệp phát triển, lao động trí tuệ ngày càng chiếm tỷ lệ cao, yếu tố tri thức
chiếm tới 65% giá thành sản xuất và 35% giá trị sản phẩm. Giờ đây, sức mạnh
của trí tuệ đạt đến mức, nhờ nó con người có thể sáng tạo những máy móc
"bắt chước", hay "phỏng" theo những đặc tính trí tuệ của chính con người.
Sức mạnh to lớn của trí tuệ con người đã làm thay đổi thang giá trí của các
loại tài nguyên, các loại nguồn lực. Ngày nay, đối tượng khai thác đang được
chuyển vào chính bản thân con người. Nói một cách khác, trong thời đại ngày