Tài liệu Tiểu luận "Khoa học và công nghệ là lực lượng sản xuất hàng đầu trong quá trình công nghiệp hoá- hiên đại hoá ở nước ta" - Pdf 99


TRƯỜNG
KHOA………………
………… o0o…………

ĐỀ ÁN


Trình bày lý thuyết về tuần hoàn và chu
chuyển tư bản. ý nghĩa thực tiễn rút ra khi
nghiên cứu lý thuyết này đối với việc quản
lý các doanh nghiệp của nước ta khi chuyển
sang nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN”
động hiệu quả hay không là do quá trình s
ản xuất, lưu thông có tuần hoàn
không. Vai trò sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp rất quan trọng, nó
tạo ra một cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội cho nên đòi hỏi nhà nước phải
có sự quản lý hợp lý tạo điều kiện tốt nhất để doanh nghiệp cạnh tranh được
trên thị trường quốc tế. Khó khăn rất nhiều và đòi hỏi phải có một cơ sở

luận để dẫn đường có tác động tích cực thúc đẩy sản xuất phát triển, mở rộng.
Đó cũng là lý do em chọn đề tài: “Trình bày lý thuyết về tuần hoàn và chu
chuyển tư bản. ý nghĩa thực tiễn rút ra khi nghiên cứu lý thuyết này đối với
việc quản lý các doanh nghiệp của nước ta khi chuyển sang nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN” cho đề án Kinh tế chính trị.
Bài viết được chia làm ba phầ
n chính: 2
2A. Phần mở đầu
B. Phần nội dung
C. Phần kết bài.
Với kiến thức bản thân còn hạn chế, em tự thấy mình còn nhiều thiếu xót
em rất mong được sự đóng góp ý kiến của thầy giáo cho bài viết của em được
hoàn chỉnh hơn.
Em xin chân thành cảm ơn! 3

Slđ (sức lao động)
T - H
TLSX(tư liệu sản xuất)
Như vậy tiền của nhà tư bản phải chia làm hai phần theo tỷ lệ thích hợp:
Một phần mua sức lao động, một phần mua tư liệu sản xuất. Sau khi mua
được hàng hoá (Slđ - TLSX) thì tư bản đã trút bỏ hình thái tiền tệ mà mang
hình thức hiện vật. Với hình thức hiện vật
đó nó không thể tiếp tục lưu thông

(1)
Kinh tế chính trị: NXB giáo dục - 1998, trang 102 4
4được. Nhà tư bản phải đưa hàng hoá vào trong quá trình sản xuất, để tạo ra
hàng hoá cung cấp cho thị trường thì toàn bộ công nhân phải tham gia vào
quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm. Kết quả là nhà tư bản có được một số
hàng hoá mới mà giá trị của chúng lớn hơn giá trị của những nhân tố đã dùng
để sản xuất ra số hàng hoá đó. Hàng hoá này (H’) có thể cạnh tranh được ở
trên thị trường, đ
áp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng tức là có giá trị sử
dụng cao. Nhà sản xuất mang hàng hoá (H’) đó ra thị trường để bán nhằm thu
về được vốn và lợi nhuận tức là T’ - T’ là hình thái chuyển hoá của H’, sự
chuyển hoá này được thực hiện là do một hành vi đơn giản của lưu thông
hàng hoá, do sự đổi chỗ giữa hình thức hàng hoá và tiền, hình thái lặp lại ở
điểm kết thúc là hình thái bị gây nên, nhưng xét v
ề mặt lượng phải lớn hơn

Trong hình thái T - T’ quá trình sản xuất, tức là chức năng sản xuất, sản
xuất làm gián đoạn lưu thông của tư bản tiền tệ và chỉ xuất hiện thành kẻ môi
giới giữa hai giai đoạn của lưu thông là T - H và H’ - T’ và là khâu trung gian
giữa tư bản sản xuất mở đầu cuộc tuần hoàn với tư cách là cực thứ nhất, và tư
bản sản xuất kết thúc tuần hoàn đ
ó với tư cách là cực cuối dưới một hình thái
mà tuần hoàn đó mở đầu trở lại sự vận động. Mặt khác toàn bộ lưu thông biểu
hiện ra dưới hình thái ngược lại với hình thái mà nó mang tròn tuần hoàn của
tư bản tiền tệ.Nến không nói đến đại lượng giá trị thì hình thái của nó trong
tuần hoàn của tư bản tiền tệ là: T - H - T (T - H . H - T); nếu nói đến đại
dượng giá trị thì hình thái củ
a nó là: H - T - H tức là hình thái lưu thông giản
đơn của hàng hoá.
Tái sản xuất giản đơn.
Điểm xuất phát của lưu thông giữa hai cực Sx Sx là tư bản - hàng hoá:
H’ = H + h = Sx + h. Trước kia chức năng của tư bản hàng hoá H’ - T’ là giai
đoạn thứ hai của lưu thông bị gián đoạn và là giai đoạn kết thúc của tổng tuần
hoàn. Bây giờ nó là giai đoạn thứ hai của tuần hoàn nhưng lại là giai đoạn thứ

nhất của lưu thông. Tuần hoàn thứ nhất kết thúc bằng T’ và cũng có thể trở lại
mở đầu tuần hoàn thứ hai với tư cách là tư bản - tiền tệ. Tính chất của tuần
hoàn thay đổi các cách giải quyết để biết được công thức mà ta đang xét đại
biểu cho tái sản xuất giản đơn hay mở rộng. Nếu xét tái giản đơn của tư bản
sả
n xuất, nếu mọi tình hình khác không thay đổi và hàng hoá được mua vào
và bán ra theo đúng giá trị của chúng thì toàn bộ giá trị thặng dư sẽ đi vào tiêu
dùng cá nhân của nhà tư bản. Sau khi tư bản - hàng hoá H’ đã chuyển hoá
thành tiền, thì bộ phận của tổng số tiền đại biểu cho giá trị - tư bản vẫn tiếp
lưu thông trong tuần hoàn của tư bản công nghiệp; còn bộ phận kia, tức giá trị
thặng dư đ

vi thứ nhất H’ - T’ xét trong mối liên hệ của nó với các hành vi kế tiếp là T -
H và t - h, có thể biểu hiện thành hai lưu thông riêng biệt: H - T - H và h - t -
h, và cả hai xét về mặt hình thái chung đều phụ thuộc về lưu thông thông
thường của hàng hoá.
Ba là: Nế
u vận động của giá trị tư bản và vận động của giá trị thặng dư,
lúc đầu còn là một trong H và T, chỉ tách rời nhau có một phần thôi (thành thử
có một phần giá trị thặng dư bị tiêu đi không phải với tư cách là thu nhập),
hoặc hoàn toàn không bị tách rời nhau thì trong bản thân giá trị - tư bản có
một sự thay đổi diễn ra trong nội bộ tuần hoàn của nó, trước khi tuần hoàn đó
hoàn thành.
H’ - T’, giai đoạn thứ hai của lưu thông và giai đoạn cuối cùng của tuần
hoàn I ( T T’), lại là giai đoạn thứ hai của tuần hoàn của chúng ta, và là giai
đoạn thứ nhất của lưu thông hàng hoá. Do đó về mặt lưu thông mà nói thì H -
T’ cần được bổ sung bằng T’ - H’. Nhưng H’ - T’ không những đã xảy ra sau
quá trình làm tăng thêm giá trị mà còn là kết quả của nó, nhờ hành vi ấy sản
phẩm - hàng hoá H’ đã được thực hiệ
n rồi. Như vậy là quá trình làm cho tư
bản tăng thêm giá trị, cũng như việc thực hiện sản phẩm - hàng hoá đại biểu
chio giá trị tư bản đã tăng thêm giá trị đều kết thúc bằng H’ - T’. 7
7Trong lưu thông của thu nhập của nhà tư bản, hàng hoá đã được sản xuất
ra, tức là h trên thực tế chỉ được dùng để được chuyển hoá thu nhập ấy trước
hết thành tiền, rồi lại từ tiền thành một hàng hoá khác phục vụ cho tiêu dùng
cá nhân. Nhưng ở đây chúng ta không nên bỏ qua một việc nhỏ này: h là một

tiền tệ mà giờ đây tư bản hàng hoá đã chuyển hoá thành thì cũng vẫn như cũ:
chuyển hoá thành TLSX và SLĐ. 8
8Như vậy chức năng của tư bản - hàng hoá H’ - T’, giá trị tư bản, cùng
một lúc với h - t, đã tiến hành xong giai đoạn H - T và sau đó nó đi vào giai
đoạn bổ sung:
Slđ
Tlsx;
Slđ
Tlsx;
Thứ nhất, trong hình thái tuần hoàn T T’ tư bản tiền tệ T là hình thái
ban đầu nó xuất hiện thành một bộ phận trong giai đoạn lưu thông thứ nhất,
do đó ngay từ đầu, nó xuất hiện thành s
ự chuyển hoá của tư bản sản xuất sản
xuất thành tiền thực hiện được nhờ việc bán sản phẩm hàng hoá. T’ biểu hiện
thành hình thái chuyển hoá của H’, bản thân H’ này là sản phẩm hoạt động
trước đây của Sx, vì thế toán bộ số tiền T’ thể hiện thành biểu hiện tiền tệ của
một lao động đã qua.
Slđ
Thứ hai, trong lưu thông H - T - H cũng những đồng tiền ấy
thay đổi vị trí hai lần:
Thoạt tiên nhà tư bản thu chúng với tư cách là người bán, rồi lại bỏ
chúng ra với tư cách là người mua, việc chuyển hoá hàng hoá thành hình thái
tiền chỉ là dùng để chuyển hoá hàng hoá đó từ hình thái tiền trở lại hình thái
hàng hoá.

xuất.
Trong T T’, T là hình thái ban đầu của giá trị tư bản; giá trị tư bản trút
bỏ hình thái này đi để rồi sau đó lại mang lấy nó. Trong Sx H’ - H Sx, T là
một hình thái chỉ hiện ra trong quá trình tuần hoàn, rồi sau đó lại trút bỏ đi
ngay trong giới hạn của chính quá trình ấy. Nếu sự biến hoá hình thái thứ hai
T - H g
ặp trở ngại thì tuần hoàn tức là tiến hành của quá trình tái sản xuất, bị
đứt quãng, hoàn toàn giống như trong trường hợp tư bản bị đọng lại dưới hình
thái tư bản - hàng hoá. Khi tư bản không còn làm chức năng tư bản tiền tệ thì
nó vẫn luôn luôn là tiền; nhưng nếu nó bị giữ quá lâu trong chức năng tư bản -
hàng hoá, thì nó sẽ không còn là hàng hoá nữa và nói chung không còn là giá
trị sử dụng nữa.
Slđ
Trong hình thái I, hành vi T - H Tlsx chỉ chuẩn bị cho sự chuyển
hoá đầu tiên của tư bản tiền tệ thành tư bản sản xuất, trong hình thái II, hành
vi ấy chuẩn bị cho sự chuyển hoá trở lại của tư bản hàng hoá thành tư bản sản
xuất. Bởi vậy, ở đây cũng như trong hình thái I, hành vi này xuất hiện thành
giai đoạn chuẩn bị cho quá trình sản xuất nhưng nó lại thể hiện như là b
ước
quay trở về quá trình ấy, như là việc lặp lại quá trình ấy, do đó như là bước
mở màn cho quá trình tái sản xuất, và vì vậy mở màn cho việc lặp lại quá
trình làm tăng thêm giá trị.
Một lần nữa T - Slđ là việc mua bán hàng hoá sức lao động dùng để sản
xuấta ra giá trị thặng dư, còn T - Tlsx là một công việc không thể thiếu được
về mặt vật chất để đạt được mụ
c đích đó. Sau khi T - H Slđ
hoàn thành,thì T được chuyển hoá thành tư bản sản xuất thành Sx và tuần
hoàn lại bắt đầu trở lại.
Do đó, hình thái đầy đủ của Sx H’ - T’ - H Sx là:


t cái gì rất khác với
việc sản xuất, và thậm chí với việc sản xuất hàng hoá mà mục đích là đảm bảo
sự tồn tại của người sản xuất; như vậy, việc thay thế một hàng hoá này
bằng một hàng hoá khác, do việc sản xuất ra giá trị thặng dư quyết định, là
một việc hoàn toàn khác hẳn với bản thân việc trao đổi sản phẩm chỉ do tiền
làm môi giớ
i.
Ngoài sự tiêu dùng T một cách sản xuất thì tuần hoàn của tư bản còn bao
gồm khâu thứ nhất T - Slđ, khâu này đối với người công nhân là Slđ = H - T.
Về phương diện giá trị - tư bản tiếp tục tuần hoàn của nó, và về phương diện
nhà tư bản tiếp tục tiêu dùng giá trị thặng dư, thì hành vi H’ - T’ chỉ giả định
có một điều. H’ được chuyển hoá thành tiền, được bán đi. Việ
c tiêu dùng
hàng hoá không nằm trong tuần hoàn của tư bản đã sản sinh ra hàng hoá ấy.
Tuần hoàn của giá trị - tư bản mà nhà sản xuất tư bản chủ nghĩa đó là đại biểu
vẫn không bị gián đoạn. Còn nếu quá trình ấy mở rộng - điều này bao hàm
việc mở rộng tiêu dùng sản xuất các tư liệu sản xuất - thì sự tái sản xuất đó
của tư bả
n có thể kèm theo việc mở rộng tiêu dùng cá nhân của công nhân, vì
quá trình đó sở dĩ bắt đầu được và có thể tiến hành được, là do tiêu dùng sản
xuất. Nếu như những hàng hoá Tlsx và Slđ - mà T chuyển hoá thành để hoàn
thành chức năng tư bản - tiền tệ của nó, tức là chức năng của số giá trị - tư
bản phải chuyển hoá ngược trở lại tư bản sản xuất, nếu như nh
ững hàng hoá
ấy cần được mua vào hoặc được trả tiền theo những kỳ hạn khác nhau. Trong
tuần hoàn của tư bản công nghiệp tư bản - tiền tệ không thực hiện một chức
năng nào khác ngoài chức năng tiền, và những chức năng tiền này đồng thời
có ý nghĩa là những chức năng của tư bản, chỉ là do mối liên hệ chung của
chúng với các giai đoạn khác củ
a tuần hoàn ấy mà thôi.

ặng dư bị chi tiêu đi với tư cách là thu nhập. Trên thực tế,
trong những điều kiện bình thường, một bộ phận giá trị thặng dư bao giờ cũng
phải bị tiêu với tư cách là thu nhập, còn một bộ phận khác phải được tư bản
hoá, hơn nữa số giá trị thặng dư được sản xuất ra trong từng thời kỳ nhất định,
khi thì bị
chi tiêu toàn bộ, khi thì được tư bản hoá toàn bộ, điều đó không
hoàn toàn quan trọng. Xét trung bình và công thức chung có thể biểu hiện
được sự vận động trung bình mà thôi:

Sld Sx’ biểu thị một tư bản sản xuất được tái sản
Sx H’ - T’- H’ Tlsx xuất trên quy mô mở rộng, với tư cách là tư
bản có một giá trị lớn hơn, và sau đó nó bắt đầu tuần hoàn thứ hai của nó,
hoặc - điều này cũng v
ậy - nó lặp lại tuần hoàn thứ nhất của nó, nhưng với tư
cách là một tư bản sản xuất đã tăng thêm. Khi tuần hoàn thứ hay này bắt đầu, 12
12chúng ta lại thâys Sx xuất hiện ở điểm xuất phát, nhưng chỉ khác có một điều
là Sx này là một tư bản sản xuất có quy mô lớn hơn Sx thứ nhất. Cũng giống
như là khi trong công thức T T’, tuần hoàn thứ hai bắt đầu vơis T’, thì T’ này
cũng làm chức năng giống chức năng của T’, tức là làm chức năng của một tư
bản - tiền tệ ứng trước có m
ột đại lượng nhất định; đó là một tư bản - tiền tệ
có quy mô lớn hơn tư bản - tiền tệ mở đầu tuần hoàn thứ nhất, nhưng một khi
tư bản - tiền tệ lớn hơn đó bắt đầu làm chức năng tư bản - tiền tệ ứng trước,
thì tất cả mọi sự liên tưởng đến việc nó đã t


13
13hình thái hàng hoá. Trong cả hai trường hợp ấy, thuộc tính đặc trưng của tư
bản, tức là thuộc tính làm một giá trị đẻ ra giá trị. H’ bao giờ cũng chỉ là sản
vật của chức năng sản xuất, và T’ bao giờ cũng chỉ là sản vật của chức năng
sản xuất, và T’ bao giờ cũng chỉ là hình thái của H’ đã trải qua một sự chuyển
hoá trong tuần hoàn của tư b
ản công nghiệp. Vì thế, khi tư bản - tiền tệ đã
thực hiện làm trở lại chức năng đặc thù của nó là tư bản - tiền tệ, thì nó không
còn biểu hiện mối quan hệ tư bản chứa đựng trong T’ = T+t nữa. Một khi
T T’ đã tiến hành xong rồi, và một khi bắt đầu trở lại tuần hoàn, thì T’ không
còn biểu hiện ra thành T’ nữa, mà biểu hiện ra thành T, ngay cả trong trường
hợp người ta t
ư bản hoá toàn bộ giá trị thặng dư chứa đựng trong T’ cũng vậy.
Đối với tuần hoàn của tư bản sản xuất, số Sx’ đã lớn lên, khi bắt đầu trở lại
tuần hoàn của nó, cũng chỉ xuất hiện với tư cách là Sx, giống như Sx trong tái
sản xuất giản đơn Sx Sx như vậy.
Slđ
Trong giai đoạn T’ - H’ Tlsx , sự tăng thêm đại lượng giá trị
chỉ
là do H’ biểu hiện ra, chứ không phải do Slđ’ và Tlsx’ biểu thị ra. Vì H là
tổng số của Slđ cộng với Tlsx, cho nên H’ cũng đã nói lên rằng tổng số của
Slđ cộng với Tlsx bao gồm ở trong nó lớn hơn Sx ban đầu.
Việc tích luỹ tiền
Việc t tức giá trị thặng dư đã biến thành tiền, có thể lập tức được bỏ thêm
vào giá trị - tư bản
đang ở trong quá trình vận động của nó hay không, và do

Sx’ và do đó không cần mở rộng quy mô tái sản xuất tư bản chủ nghĩa. Quỹ
tích lu
ỹ được dùng làm quỹ dự trữ khác với quỹ dùng làm phương tiện mua
và phương tiện thanh toán đã được nghiên cứu trong tuần hoàn Sx Sx’. Quỹ
dự trữ là một bộ phận cấu thành của tư bản nằm trong giai đoạn chuẩn bị của
sự tích luỹ của nó, tức là một bộ phận cấu thành của giá trị thặng dư chưa
chuyển hoá thành tư bản tích cực.
Qu
ỹ tích luỹ bằng tiền vốn đã là sự tồn tại của tư bản - tiền tệ tiềm năng,
do đó nó đã là sự chuyển hoá của tiền thành tư bản - tiền tệ. Công thức chung
của tuần hoàn của tư bản sản xuất. Slđ
Sx H’ - T’. T - H Sx (Sx’)
Tlsx
2.3. Tuần hoàn của tư bản - hàng hoá.
Công thức chung của tuần hoàn của tư bản hàng hoá là:
H’ - T’ - H Sx H’
H’ không những là sản ph
ẩm mà còn là tiền đề của hai tuần hoàn đã nói
ở trên, bởi vì cái là T - H của một tư bản thì đã bao hàm H’ - T’ của một tư
bản khác, ít ra là trong chừng mực bản thân một bộ phận tư liệu sản xuất là
sản phẩm hàng hoá của những tư bản cá biệt khác đang thực hiện tuần hoàn
của chúng.
Tuần hoàn của tư bản - hàng hoá không phải bắt đầu đơn thuần bằ
ng
một giá trị - tư bản, mà bằng một giá trị - tư bản đã được tăng lên và nằm dưới 15
15


Trong hình thái II tức là Sx H’ - T’ - H Sx (Sx’) toàn bộ quá trình lưu
thông nằm sau Sx thứ nhất và trước Sx thứ hai, Sx là tư bản sản xuất, Sx cuối
không ph
ải là quá trình sản xuất, nó chỉ là sự trở lại của tư bản công nghiệp
dưới hình thái tư bản sản xuất.
Trong hình thái III, tức là H’ - T’ - H Sx H’ tuần hoàn bắt đầu bằng
hai giai đoạn của quá trình lưu thông, tuần hoàn kết thúc với H’, kết quả của
quá trình sản xuất. Chỉ trong tuần hoàn này thì điểm xuất phát của quá trình 16
16làm tăng thêm giá trị là giá trị - tư bản đã tăng thêm giá trị. Điểm xuất phát ở
đây là H’, biểu hiện mối quan hệ tư bản chủ nghĩa, nó có tác dụng quyết định
đối với toàn bộ tuần hoàn. Sự phân phối tổng sản phẩm xã hội cũng như phân
phối đặc thù về sản phẩm của một tư bản - hàng hoá cá biệt, sự phân phối,
một m
ặt thành quỹ tiêu dùng cá nhân, và mặt khác thành quỹ tái sản xuất -
đều nằm trong tuần hoàn của tư bản.
Trong T T’ có khả năng mở rộng tuần hoàn theo đại lượng của các phần
t sẽ gia nhập tuần hoàn mới. Trong Sx Sx, Sx có thể mở đầu tuần hoàn mới
với một giá trị như cũ. Trong H’ H’, tư bản dưới hình thái hàng hoá là tiền
đề của sản xuất, và với tư cách là tiền đề, hình thái đó lại quay tr
ở lại cũng
trong tuần hoàn ấy. Cả ba tuần hoàn đều có điểm chung: tư bản kết thúc quá
trình tuần hoàn của nó dưới đúng cái hình thái mà nó mở đầu quá trình tuần
hoàn đó, nhờ thế nó lại mang hình thái ban đầu trong đó nó lại mở đầu một
tuần hoàn giống như vậy. Hình thái của điểm xuất phát T, Sx, H’ đều được


chuyển của tư bản tức là để sản xuất ra hàng hoá nhà sản xuất phải mất một
khoảng thời gian mà theo Mác - Lênin nêu lên là: “Thời gian chu chuyển của
tư bản là khoảng thời gian kể từ khi tư bản ứng ra dưới một hình thức nhất
định (tiền tệ, sản xuất hàng hoá) cho đến khi nó trở về tay nhà tư bản cũng
dưới hình thức như thế, nhưng có thêm giá trị thặ
ng dư
(3)
.Như vậy tổng thời
gian chu chuyển của một tư bản nhất định bằng thời gian lưu thông và thời
gian sản xuất của nó cộng lại. Mục đích của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa
bao giờ cũng là làm tăng giá trị ứng trước. Trong hai hình thái T T’ và hình
thái Sx Sx nói lên rằng: 1. Giá trị ứng trước đã làm chức năng giá trị - tư
bản và đã tự
tăng thêm; 2. Khi kết thúc tuần hoàn của nó, giá trị ứng trước lại
quay về dưới hình thái mà nó mang khi mở đầu tuần hoàn. Nếu sản xuất mang
hình thái tư bản chủ nghĩa, thì tái sản xuất cũng mang hình thái đó. Quá trình
lao động trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa là chỉ là một phương
tiện cho quá trình làm tăng thêm giá trị, thì tái sản xuất cũng vậy, nó cũng chỉ
là một phương tiên để
tái sản xuất ra giá trị ứng trước với tư cách là tư bản,
tức là với tư cách là giá trị tự tăng thêm giá trị.
Trong hình thái là sự lắp lại của quá trình biểu hiện ra là có tính chất khả
năng thôi còn sự lắp lại của quá trình trong hình thái II tức là quá trình tái sản
xuất, biểu hiện thành sự lắp lại hiện thực. Trong hình thái III giá tự - tư bản
mở đầu quá trình với tư cách là giá trị đ
ã tăng thêm, là tất cả những của cải
nằm dưới hình thái hàng hoá. Hình thái này là hình thái trọng yếu đối với sự
vận động của các tư bản cá biệt nếu xem xét trong mối quan hệ với sự vận
động của tư bản xã hội. Nhưng hình thái này không thích hợp cho việc nghiên

hay quá trình tăng thêm giá trị. Khi định kỳ Sx Sx kết thúc, tư bản mang
hình thái những yếu tố sản xuất nó là tiền đề của việc lặp lại tuần hoàn. “Tuần
hoàn của tư bản khi được coi là một quá trình định kỳ, chứ không phải một
hành vi cá biệt thì được gọi là vòng chu chuyển của tư bản”. Thời gian của
vòng chu chuy
ển ấy được quyết định bởi tổng số thời gian sản xuất và thời
gian lưu thông cộng lại. Tổng số thời gian ấy là thời gian chu chuyển của tư
bản. Do đó, thời gian chu chuyển của tư bản bao quát khoảng thời gian từ một
định kỳ tuần hoàn tiếp theo; nó nói lên tính chu kỳ trong quá trình sinh sống
của tư bản, hay có thể nói, nó là thước đo thời hạn đổi m
ới, thời hạn lặp lại
của quá trình làm tăng thêm giá trị hay quá trình sản xuất ra cùng một giá trị
tư bản.
Nếu không nói đến những sự ngẫu nhiên riêng rẽ có thể đẩy nhanh hay
rút ngắn thời hạn chu chuyển đối với cùng một tư bản cá biệt, thì thời gian
chu chuyển ấy nói chung sẽ khác nhau tùy theo những sự khác nhau của các
lĩnh vực đầu tư cá biệt của tư bản. Cũ
ng giống như ngày lao động là đơn vị đo
lường tự nhiên để đo hoạt động của sức lao động, thì năm cũng là đơn vị đo
lường tự nhiên để đo những vòng chu chuyển của tư bản hoạt động. Cơ sở tự
nhiên của đơn vị đo lường ấy là tình hình: ở vùng ôn đới, quê hương của nền
sản xuất tư b
ản chủ nghĩa, các nông sản quan trọng nhất đều được sản xuất ra
mỗi năm một lần.
Nếu ta lấy CH để chỉ năm là đơn vị đo lường của thời gian chu chuyển,
lấy ch để chỉ thời gian chu chuyển của một tư bản nhất định, lấy n để chỉ số 19
19

ưu động đã chu chuyển được nhiều
vòng. Ngay trong tư bản cố định, thời gian chu chuyển của các yếu tố khác
nhau cũng không giống nhau, có thời gian hoạt động dài, ngắn khác nhau,
nghĩa là hao mòn khác nhau. “Hao mòn hữu hình là do sử dụng và do tác
động của thiên nhiên làm cho những bộ phận tư bản đó dần dần hao mòn đi
đến chỗ hỏng, không dùng được nữa. Còn hao mòn vô hình là nói về những
trường hợp máy móc mới tốt hơn tố
i tân hơn xuất hiện” (6). Để tránh hao mòn
vô hình, nhà tư bản còn tìm cách nâng cao tỷ suất khấu hao tư bản cố định.
Dựa trên hai hình thức hao mòn mà C.Mác phân chia chu chuyển của tư
bản thành “Chu chuyển chung của tư bản ứng trước là con số chu chuyển
trung bình của những thành phần khác nhau của tư bản. Chu chuyển thực tế là
thời gian để tất cả các bộ phận của tư bản ứng trước
được khôi phục toàn bộ

(4)
, (5), (6): NXB Giáo dục: Kinh tế chính trị - 1998, trang 105, 106 20
20về mặt giá trị, cũng như về mặt hiện vật
(7)
. Chu chuyển thực tế do thời gian
tồn tại của tư bản cố định đầu tư quyết định và nó không ăn khớp với chu
chuyển chung của nó.
Để nâng cao tỷ suất giá trị thặng dư hàng năm, tức là nâng cao tỷ số giữa
khối lượng giá trị thặng dư tạo ra trong một năm với tư bản khả biến ứng ra

kỹ thuật vẫn còn thủ công, phân công lao động xã hội còn kém phát triển,năng
su
ất lao động xã hội rất thấp, tình trạng tổ chức và quản lý kinh tế còn thiếu
chặt chẽ, việc kế hoạch hoá nền kinh tế quốc dân còn yếu, nền kinh tế bị mất
cân đối nghiêm trọng. Công cuộc xây dựng nền kinh tế đòi hỏi đất nước ta
phải có chính sách phát triển và khôi phục nền kinh tế, đưa đất nước đi lên
thoát khỏi sự lạc hậu của nề
n kinh tế sau những năm chiến tranh xâm lược.
Doanh nghiệp Việt Nam lúc này còn quá nhỏ bé chủ yếu là các xí nghiệp dưới
sự che chở của nhà nước, nhà nước bao cấp và chịu gần như toàn bộ hậu quả
mà doanh nghiệp nhà nước và xí nghiệp gặp phải. Hàng Việt Nam được sản
xuất ra có khi không đúng thời vụ, hàng chưa về đến nông thôn thì đã hết.
Nhà nước lại không có chính sách, biện pháp mở rộng sản xuấ
t, không thu hút
vốn đầu tư nước ngoài. Vốn của các doanh nghiệp chủ yếu là do nhà nước
cấp, doanh nghiệp không tồn tại loại hình doanh nghiệp tư nhân tư bản, doanh
nghiệp nhà nước hoạt động rất kém hiệu quả, năng suất chưa cao, chất lượng
thấp, cơ sở vật chất kỹ thuật rất hạn chế.
Đất nước hoàn toàn giải phóng, cả nước đi vào khôi phục xây d
ựng đất
nước. Đảng và Nhà nước ta xác định nhiệm vụ đầu tiên là phải phát triển kinh
tế, đưa đất nước đi lên. Tại Đại hội IV Đảng ta đã đề ra đường lối xây dựng
nền kinh tế xã hội chủ nghĩa: “Đẩy mạnh công nghiệp hoá XHCN, xây dựng
cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đưa nền kinh tế nước ta từ
sản
xuất nhỏ lên sản xuất lớn XHCN, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một
cách hợp lý, trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, kết hợp
xây dựng công nghiệp và nông nghiệp cả nước thành một cơ cấu công - nông
nghiệp, vừa xây dựng kinh tế trung ương, vừa phát triển kinh tế địa phương
trong một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất; kết hợp phát triể

ngay thương nghiệp tư bản tư doanh”. Đối với tiểu thương, Đảng chủ trương
“Tổ chức lại thương nghiệp nhỏ, chuyển phần lớn tiểu thương sang s
ản xuất.
Đối với số còn lại được phép kinh doanh, phải tăng cường quản lý bằng
những chính sách và biện pháp thích hợp”. Nền kinh tế bên cạnh những thành
tựu đạt được vẫn còn những hạn chế về mặt quản lý còn thiếu hiêủ biết, ít
kinh nghiệm quản lý, chưa tổng kết kinh nghiệm thực tiễn tạo điều kiện cho
một số xí nghiệp lợi dụ
ng sự sơ hở để mưu lợi ích cục bộ.
Nhìn chung trong giai đoạn này các xí nghiệp rất còn yếu kém trong việc
tuần hoàn sản xuất và chu chuyển vốn, có nhiều xí nghiệp hoàn toàn phụ
thuộc vào nhà nước đến khi bị thua lỗ thì nhà nước phải chịu hoàn toàn cho
nên các xí nghiệp chưa có được tinh thần trách nhiệm đối với hoạt động sản
xuất của mình.

(8)
Báo cáo chính trị của ban chấp hành trung ương Đảng tại Đại hội Đảng lần thứ IV. NXB Sự thật, Hà Nội,
1997, trang 67. 23
232. Sự vận dụng ở Việt Nam từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
(tháng 12 - 1986) đến nay.
Đại hội VI của Đảng là một mốc lịch sử quan trọng trên con đường đổi
mới toàn diện và sâu sắc ở nước ta; trong đó có sự đổi mới về các quan điểm
kinh tế. Đảng chỉ ra mục tiêu quan trọng là phát triển kinh tế trong đó khẳng
định vai trò của các doanh nghiệ

pháp lý để các chủ thể kinh tế và mọi người dân đầu tư phát triển sản xuất,
kinh doanh, trong cơ chế thị trường. Trên cơ sở đó từng bước phân biệt quản 24
24lý Nhà nước với quản lý sản xuất kinh doanh, hình thành cơ chế quản lý của
nhà nước với tư cách chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước thay thế choi
cơ chế Bộ hoặc cơ quan hành chính chủ quản doanh nghiệp.
Nếu như trên thế giới, việc phân loại hình doanh nghiệp thường dựa trên
các tiêu chí chính phủ như lĩnh vực ngành nghề kinh doanh; hình thức sở hữu;
quy mô vốn, lao động và sả
n lượng; mức độ lợi nhuận Thì ở Việt Nam việc
xác định loại hình doanh nghiệp cũng dựa trên những tiêu chí đó đã được thể
chế thành pháp luật. Trong luật doanh nghiệp do Quốc hội thông qua có nêu
“Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định,
được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực
hiện các hoạt động kinh doanh” . Hiện nay ở n
ước ta tồn tại các loại hình
doanh nghiệp chủ yếu sau: doanh nghiệp tư nhân; hợp tác xã; doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài; doanh nghiệp nhà nước và kinh tế hộ. Hiện nay,
phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam hoạt động tại các đô thị và các khu công
nghiệp, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tập trung chủ yếu vào hai lĩnh
vực là thương mại, dịch vụ và công nghiệp chế biến; quy mô của doanh
nghiệp vừa và nhỏ
, trình độ trang bị công nghệ và quản lý thấp, đội ngũ công
nhân chưa được đào tạo chiếm tỷ lệ khá cao. Một đặc điểm nổi bật của doanh
nghiệp Việt Nam là chất lượng sản phẩm không cao, thiếu thị trường tiêu thụ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status