BÁO CÁO THỰC TẬP
Đề tài
NHỮNG BIẾN ĐỔI VỀ PHONG TỤC TẬP QUÁN CỦA DÂN TỘC THÁI Ở
BẢN HOA I VÀ BẢN DỌI I XÃ TÂN LẬP, HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
TỪ KHI THỰC HIỆN DỰ ÁN TÁI ĐỊNH CƯ THỦY ĐIỆN SƠN LA
NĂM 2003 ĐẾN NAY
***
Phần I
GIỚI THIỆU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Trong lĩnh vực văn hóa, mỗi dân tộc có đều có quá trình sáng tạo giá trị
văn hóa của mình. Chỉ vì hoàn cảnh và điều kiện khác nhau, cho nên, sự phát
triển Văn hóa của mỗi dân tộc không đều nhau. Nhưng yếu tố về lịch sử, về chế
độ xã hội, về đạo lý, về kinh tế, về khoa học… không tách rời yếu tố văn hóa,
trong đó phong tục, tập quán là bộ phận cấu thành trong đời sống văn hóa của
mỗi cộng đồng dân tộc.
Phong tục tập quán vốn là những nét đặc trưng mang đậm nét văn hóa của
từng cộng đồng tộc người, có những phong tục “ ăn sâu, bám dễ” duy trì mối
quan hệ, sự ổn định trong cộng đồng theo một trật tự nhất định, nếu nó bị phá vỡ,
xáo trộn, thay đổi sẽ dẫn đến những biến đổi trong đời sống cộng đồng, xã hội.
Phong tục tập quán còn bao gồm cả những vấn đề liên quan đến tôn giáo,
tín ngưỡng của mỗi dân tộc do đó Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm đến vấn đề
phong tục tập quán của các cộng đồng tộc người nhất là người dân tộc thiểu số
nhằm phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, kết hợp với tinh hoa nhân loại để xây
dựng xã hội ổn định, văn minh và phát triển bền vững.
Việc nghiên cứu đề tài để có được cái nhìn sâu sắc, đầy đủ hơn về vốn
truyền thống văn hóa của các dân tộc nói chung dân tộc Thái Bản địa tại xã Tân
Lập - Mộc Châu - Sơn la nói riêng, qua đó thấy được chúng ta cần gìn giữ cái gì,
phát huy cái gì, đang là vấn đề phức tạp, cần được nghiên cứu, lý giải bằng
phương pháp khoa học. Nếu chúng ta xem cái gì cũng đều có giá trị như nhau thì
sẽ lẫn “cát” với “vàng”. Đối với cái mới đang lan truyền từ các phía, nếu chúng
một nghiên cứu thực nghiệm, cần xác định rõ phương pháp luận và các phhương
pháp cụ thể cho việc thu thập thông tin. Trong nghiên cứu của đề tài sẽ dựa trên
các phương pháp nghiên cứu cụ thể đó là:
1- Phương pháp phỏng vấn ( Bảng hỏi, phỏng vấn sâu).
2
- Khái niệm: Phỏng vấn là phương pháp cụ thể để thu thập thông tin của
nghiên cứu xã hội học thông qua việc tác động tâm lý - xã hội trực tiếp giữa
người đi hỏi và người được hỏi nhằm thu thập thông tin phù hợp với mục tiêu và
nhiệm vụ của đề tài nghiên cứu.
Phương pháp phỏng vấn cho phép chúng ta khả năng thực hiện phỏng vấn
lặp lại với cá nhân được nghiên cứu, nếu trong cuộc phỏng vấn có vấn đề nào đó
chưa rõ ràng, hoặc nếu nghi ngờ. Nếu làm đúng qui trình và những yêu cầu đặt ra
đối với một cuộc phỏng vấn, thì phỏng vấn sẽ là một phương pháp thu thập
thông tin có độ tin cậy cao.
Phỏng vấn là phương pháp thu thâp thông tin được sử dụng cho nghiên
cứu nhằm tìm hiểu về những sự kiện đa dạng. Nó có thể được sử dụng cho các
nghiên cứu những vấn đề liên quan đến chính cá nhân như tuổi tác, công việc gia
đình và các đặc trưng văn hoá xã hội khác. Nó có thể được sử dụng cho nghiên
cứu về doanh nghiệp, về làng xã…
Cách thức thực hiện một cuộc phỏng vấn, thực tế rất đa dạng. Nó phụ
thuộc trực tiếp vào loại phỏng vấn nào mà chúng ta sẽ lựa chọn để thu thập thông
tin, vì mỗi loại phỏng vấn yêu cầu sự chuẩn bị, sự thực hiện và xử lý thông tin ở
các mức độ rất khác nhau.
Căn cứ vào nội dung và mục đích của đề tài, trong nghiên cứu sẽ dùng cả
phương pháp phỏng vấn sâu và bảng hỏi.
- Phỏng vấn sâu: Đó là dạng phỏng vấn mà trong đó người ta xác định sơ
bộ những vấn đề cần thu thập thông tin cho đề tài nghiên cứu. Tuy nhiên, người
phỏng vấn tự do hoàn toàn trong cách dẫn dắt cuộc phỏng vấn, trong cách xếp
đặt trình tự các câu hỏi và ngay cả cách thức đặt các câu hỏi nhằm thu thập được
thông tin mong muốn. Mục tiêu của phỏng vấn sâu không phải để hiểu một cách
được từ quan sát cần được ghi nhận vào tờ kê khai chuẩn bị trước ( bảng hỏi ),
vào nhật ký.v.v.. và theo một cách thức nhất định; Thông tin từ quan sát cần phải
được kiểm tra về tính ổn định và tính hiệu lực.
3- Phương pháp phân tích tài liệu.
- Khái niệm: Phân tích tài liệu thực chất là cải biến mục đích của thông tin
có sẵn trong các tài liệu; hay nói cách khác là xem xét các thông tin có sẵn trong
các tài liệu để rút ra những thông tin cần thiết nhằm đáp ứng những mục tiêu
nghiên cứu của một đề tài nhất định. Tài liệu chính là nguồn thông tin để trả lời
cho các câu hỏi được đặt ra trong nội dung của một bảng hỏi.
Một trong những khác biệt giữa phân tích tài liệu với các phương pháp thu
thập thông tin là ở chỗ, thông tin đã được ấn định trong tài liệu và được rút ra từ
đó để đáp ứng cho mục tiêu nghiên cứu, được tạo nên nhằm mục đích khác, chứ
hoàn toàn không liên quan gì với cuộc nghiên cứu hiện tại. Như vậy thông tin là
cái có sẵn nhà xã hội học không thể thay đổi và cũng không thể bổ sung, mà chỉ
có thể thiết lập những khả năng của nó và để sử dụng được những yếu tố mà
người nghiên cứu quan tâm.
Trước khi sử dụng một tài liệu nào đó cho phân tích cần phải trả lời hai
vấn đề sơ bộ: thứ nhất, phải chăng tài liệu có được là cần thiết cho nghiên cứu;
thứ hai, phải chăng thông tin có trong các tài liệu đó là tin tưởng được.
Bằng việc sử dụng các phương pháp trên cho đề tài nghiên cứu sẽ giúp
cho người nghiên cứu tiến hành điều tra, tìm hiểu được những phong tục tập
quán vốn có trước đây của người dân Thái tại hai bản Hoa I và bản Dọi I, sự biến
đổi sau khi thực hiện dự án tái định cư Thuỷ điện Sơn La năm 2003 cho đến nay,
4
và những ảnh hưởng của nó trong đời sống xã hội của hai bản người dân Thái ở
đây.
V. Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU.
1. Ý nghĩa lý luận:
- Các giải thuyết đưa ra dựa trên các lý thuyết xã hội học, do đó việc giải
thuyết mà đề tài đưa ra được kiểm chứng thì khẳng đinh tính đúng đắn của lý
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG:
Bằng cách tiếp cận xã hội đa diện, xã hội học chứng tỏ giá trị cao của nó,
không chỉ đối với các nhà xã hội học chuyên ngành mà còn cả đối với những
người thuộc các ngành khác như Lịch sử, Khoa học chính trị, Kinh tế, Tâm lý,
Nhân chủng học… Nghiên cứu xã hội học là công trình nghiên cứu mang tính
6
Lễ, hội
Điều kiện KT - XH
Biến đổi đời sống
văn hóa
Biến đổi đời sống
xã hội
Biến đổi phong tục
tập quán
Cưới xin
Tang ma
ăn, ở, trang
phục,…
tổng hợp, nghĩa là xem xét bất cứ hiện tượng, quá trình xã hội nào cũng phải
được đặt chúng trong chỉ thể, toàn vẹn của nó.
Theo Durkheim xã hội học với tư cách là một khoa học thực nghiệm, do
đó cần coi các sự kiện như là các “ đồ vật” nhà xã hội học xuất phát từ các sự
kiện xã hội, những hành vi và ứng xử thực tế và mô tả, giải thích chúng một cách
khách quan. Xã hội có những cơ chế và quy luật khách quan, không phụ thuộc
vào ý muốn chủ quan của cá nhân, vì thế chỉ có thể giải thích sự kiện xã hội này
bằng các sự kiện xã hội khác, không thể quy về những nguyên nhân tâm lí, động
cơ hay khát vọng của cá nhân. Và như vậy thì các sự kiện xã hội chỉ trở thành
đối tượng nghiên cứu của xã hội khi chúng được đưa vào phân tích trong khuôn
khổ xã hội học.
Xuất phát từ mục đích và tầm quan trọng của nghiên cứu xã hội học nói
tác xã hội. Các hành động vật lý chỉ có thể tạo ra các tương tác vật lý. Các hành
động xã hội được thể hiện trong các loại tương tác xã hội khác nhau.
Tương tác xã hội có thể được coi là quá trình hành động đáp lại của một
chủ thể này với một chủ thể khác.
- Khái niệm biến đổi xã hội: Mọi xã hội – cũng giống như tự nhiên –
Không ngừng biến đổi . Sự ổn định của xã hội chỉ là sự ổn định bên ngoài, còn
thực tế nó không ngừng thay đổi bên trong bản thân nó. Do đó, bất cứ xã hội nào
và bất cứ nền văn hóa nào, cho dù nó có bảo thủ và cổ truyền đến đâu chăng nữa
cũng luôn biến đổi. Và, sự biến đổi đó trong xã hội hiện đại ngày càng rõ hơn,
nhanh hơn, và điều này làm cho ta nhận thấy sự biến đổi đó không còn là mới
mẻ, nó đã trở nên dường như chuyện thường ngày. Có nhiều cách quan niệm về
sự biến đổi xã hội. Một cách hiểu rộng nhất, cho đó là một sự thay đổi so sánh
với một tình trạng xã hội hoặc một nếp sống có trước. Trong một phạm vi hẹp
hơn, người ta cho rằng sự biến đổi xã hội được đề cập đến sự biến đổi về cấu
trúc của xã hội ( hay tổ chức xã hội của xã hội đó ) mà sự biến đổi này ảnh
hưởng sâu sắc đến phần lớn các thành viên của một xã hội. Còn những biến đổi
chỉ tác động đến một số ít cá nhân thì ít được các nhà xã hội học quan tâm, chú
ý.
Biến đổi xã hội là một quá trình qua đó những khuôn mẫu của các hành vi
xã hội, các quan hệ xã hội, các thiết chế xã hội và các hệ thống phân tầng xã hội
được thay đổi qua thời gian.
2. Khái niệm Phong tục:
“Phong” là nề nếp đã lan truyền rộng rãi, “Tục” là thói quen lâu đời. Nội
dung phong tục bao hàm mọi mặt sinh hoạt xã hội. Thời nay, có nhiều kiến thức
uyên bác, thông hiểu thiên văn địa lý đông tây, thành thạo khoa học kỹ thuật tiên
tiến, song khi nhân thân gia đình ngộ sự sẽ lúng túng tìm thầy, tìm sách không
ra, thời nay cũng còn lưu truyền miệng hoặc cũng có người hướng dẫn trực tiếp
cho thế hệ con cháu, nhưng không phải phong tục, tập quán nào cũng có tài liệu
thành văn, do đo việc thất truyền, mai một du nhập, lai tạp lẫn nhau giữa phong
tục các dân là điều không tránh khỏi, nhất là trong nền kinh tế thị trường và hội
phong tục tập quán Thái cũng có một quá trình hình thành và phát triển lâu đời,
là bộ phận hữu cơ trong tổng thể cả cộng đồng Thái. Đi tìm hiểu về một biểu
hiện văn hoá cụ thể của một dân tộc cụ thể là việc làm không tránh khỏi khó
khăn, nhất là trong điều kiện nghiên cứu, điền dã hiện nay, đề tài về luật tục, văn
hoá.. Thái đã có những công trình nghiên cứu, nhưng nhìn chung còn rất ít, chưa
hoàn chỉnh, toàn diện.
Trong tình hình trên, tài liệu viết về phong tục tập quán của dân tộc Thái
cũng còn khá hiếm hoi, có chăng cũng chỉ đề cập đến việc tìm hiểu nghiên cứu
về những luật tục, về văn hoá của người Thái nói chung, chưa đi sâu phân tích
từng khía cạnh cụ thể, đặc biệt chưa đề cập đến sự biến đổi của nó trong sự biến
đổi của đời sống xã hội. Chính vì lẽ đó trong đề tài nghiên cứu này muốn tìm
hiểu những biến đổi về phong tục tập quán của người dân Thái tại bản Hoa I và
bản Dọi I xã Tân Lập, huyện Mộc Châu tỉnh Sơn La sau khi thực hiện dự án tái
định cư Thuỷ điện Sơn La từ năm 2003 đến nay với những nội dung mà nó vốn
có và đang “vận động” trong đời sống văn hoá tộc người.
9
Phần III
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
A. ĐẶC ĐIỂM XÃ TÂN LẬP, HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
1. Vài nét về Sơn La:
Sơn La là một tỉnh miền núi đặc biệt khó khăn với tổng số diện tích là
14.055 Km
2
gồm 10 huyện, 01 thị xã. Trên địa bàn Sơn La hiện có 12 dân tộc
khác nhau cùng sinh sống trong đó trên 54% dân số là dân tộc Thái, 18% là dân
tộc Kinh, 12% là dân tộc Mông, 8% là dân tộc Mường và gần 8% là các dân tộc
Dao, Sinh Mun, Kh’Mú, La Ha, Lào…dân số toàn tỉnh ( theo số liệu năm 2003 )
là: 958.078 người. Những năm qua nền kinh tế Sơn La đã có bước chuyển dịch
quan trọng theo hướng phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần gắn với thị
trường trên cơ sở phát huy thế mạnh của từng vùng.
phổ cập trung học cơ sở, xóa mù chữ, tăng cường đầu tư cho giáo dục, đời sống
tinh thần của nhân dân được cải thiện và nâng lên rõ rệt, đến năm 2005 toàn xã
đã có 1.761 hộ được dùng điện lưới quốc gia, chiếm 96%; 1.400 hộ được xem ti
vi, chiếm 78,1%, có 20 hộ dùng diện thoại, 775 hộ có đài nghe, trên 1.500 xe
máy các loại ( năm 2005 ), mạng lưới giao thông, thủy lợi phát triển đáp ứng nhu
cầu đi lại và sản xuất, sinh hoạt của nhân dân. Công tác chính sách xã hội, chính
sách đối với những người có công với cách mạng được quan tâm đúng mức.
- Về công tác an ninh quốc phòng: Luôn phát huy danh hiệu anh hùng lực
lượng vũ trang nhân dân, luôn xung kích trong phong trào bảo vệ Tổ quốc, giữ
vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, sẵn sàng đối phó với
các âm mưu thủ đoạn của kẻ địch, đấu tranh trấn áp các loại tội phạm, các tệ nạn
xã hội nhất là tội phạm về ma túy.
Là một trong những xã được chọn làm điểm tái định cư Thủy điện Sơn La,
từ năm 2002 đến nay xã Tân Lập đã đón 600 hộ dân đến tái định cư tại 7 điểm
trong xã.
“Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong xã có truyền thống đoàn kết,
tương thân, tương ái, nhường cơm xẻ áo, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, cần cù,
chịu khó trong lao động, quyết tâm phát huy nội lực để phát triển kinh tế, xóa
đói, giảm nghèo; đội ngũ cán bộ xã nhiệt tình, trách nhiệm, gắn bó với cơ sở,
luôn tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng” ( Trích: Báo cáo chính trị
của Ban Chấp hành Đảng bộ xã khóa VIX, nhiệm kỳ 2005 - 2012 ).
B. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:
I. NỘI DUNG TỔNG THỂ:
Những phong tục tập quán vốn có của người Thái ở Tân Lập - Mộc
Châu - Sơn La; Những biến đổi so với trước đây; Sự ảnh hưởng của sự biến
đổi đối với đời sống người dân, nguyên nhân của sự biến đổi; tính kế thừa và
phát huy những tập quán truyền thống trong xây dựng quy ước, hương ước
hiện nay; đề xuất các giải pháp nhằm giữ gìn, phát huy những phong tục tập
quán truyền thống trong tình hình mới.
Trong các dân tộc ở nước ta thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái, với chính
2003 đến nay.
II. NHỮNG NỘI DUNG TRỌNG TÂM NGHIÊN CỨU:
1. Những phong tục tập quán của người dân Thái tại bản Hoa I và
bản Dọi I ở xã Tân Lập, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La; Sự biến đổi của nó
sau khi thực hiện dự án tái định cư Thủy điện Sơn La đến nay.
1.1. Những phong tục tập quán của người dân Thái tại bản Hoa I và bản
Dọi I ở xã Tân Lập, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La
Văn hóa Thái - Một loại hình văn hóa, kỹ thuật tiền công nghiệp:
Công cụ lao động - giá trị văn hóa: Trớc đây khi nền khoa học, công
nghệ cũng như nền kinh tế chưa phát triển người nông dân nói chung trong đó có
12
dân tộc Thái công cụ chủ yếu dùng trong sản xuất nông nghiệp gồm 4 loại công
cụ kép có lưỡi bằng kim loại tối thiểu như dao, rìu, cày, mài ngoài ra còn có các
công cụ khác như: cuốc, bừa, liềm…
Người Thái có tập tục làm ruộng qua nhiều thế hệ này sang thế hệ khác đã
được đúc rút trong 4 chữ nói lên 4 giải pháp xếp gọn trong câu thành ngữ:
Mương, Phai, Lái, Lin ( hình thức đắp đập ngăn suối, dẫn nước vào ruộng )
Văn hoá lúa nước luôn đặt ra cho con người phaỉo hiểu biết về đất, ở miền
xuôi đã đúc rút kinh nghiệm trồng lúa là” nước, phân, cần, giống”. Với người
Thái trước đây thì biện pháp bón phân chưa phải là truyền thống có từ lâu đời,
cách làm lúa hai vụ sau này cũng do học được cách làm từ miền xuôi.
Nhà, ở - Một mô thức văn hóa:
Theo truyền thống thì người thái ở nhà sàn như đã xác định trong thành
ngữ “ Nhà có gác, sàn có cột” lợp cỏ tranh, điều đáng ngạc nhiên cho các nhà
nghiên cứu khi nghiên cứu về nhà sàn đó là: nếp nhà sàn khá đồ sộ như các gia
đình quý tộc xưa mà “ Không dùng đến 1 mẩu sắt nhỏ vào trong thiết kế” thay
vào việc dùng đinh đóng là cả một hệ thống dây chằng, buộc, thắt khá công phu
và tinh xảo bằng lạt tre, giang, và cả vỏ các loại cây chuyên dùng.
Dưới góc độ tôn giáo mà xét, nếu một mường được tượng trưng bằng
chiếc cột mường, thì mỗi nóc nhà được tượng trưng bằng chiếc cột chính, ở đầu