ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TẠ THỊ PHƢƠNG THÚY
GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NÔNG DÂN
Ở HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ TRONG
QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN VĂN LONG
HÀ NỘI - 2013 LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
kết quả nêu trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của luận
văn chưa từng được công bô trong bất cứ công trình nghiên cứu nào./. TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Tạ Thị Phương Thúy
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM
CHO NÔNG DÂN TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN
THỌ TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG
NGHIỆP, NÔNG THÔN 75
3.1. Quan điểm giải quyết việc làm cho nông dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ 75
3.1.1. Quan niệm việc làm trong quan hệ phát triển bền vững 75
3.1.2. Nâng cao năng lực lãnh đạo và quản lý của chính quyền địa
phương trong việc giải quyết việc làm bền vững cho nông dân 78
3.1.3. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo
hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa tạo ra nhiều việc làm cho nông dân . 80
3.2. Một số giải pháp nhằm giải quyết việc làm bền vững cho nông dân
huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ trong quá trình công nghiệp hóa nông
nghiệp, nông thôn hiện nay 83
3.2.1. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển giáo dục, tăng
cường công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn 83
3.2.2. Tăng cường các hoạt động hỗ trợ trực tiếp nhằm khuyến khích
nông dân tự tạo việc làm, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm 88
3.2.3. Tăng cường vai trò của doanh nghiệp lấy đất trong việc tạo việc
làm bền vững cho nông dân 91
3.2.4. Tiếp tục xúc tiến hoạt động hợp tác xuất khẩu lao động - Quản lý
lao động xuất khẩu 92
KẾT LUẬN 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Viết tắt
Nguyên văn
- CNH, HĐH
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
- CMKT
Bảng 2.6. Tình hình thiếu việc làm và thất nghiệp ở huyện Phù Ninh. 56
Bảng 2.7. Cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo giá trị sản xuất của huyện Phù
Ninh 59
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việc làm có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội của mọi quốc gia,
nó không thể thiếu đối với từng cá nhân và toàn bộ nền kinh tế, là vấn đề cốt
lõi và xuyên suốt trong các hoạt động kinh tế, có mối quan hệ mật thiết với
kinh tế và xã hội, nó chi phối toàn bộ mọi hoạt động của cá nhân và xã hội.
Đối với cá nhân, có việc làm giúp họ có thu nhập ổn định cuộc sống,
làm lành mạnh hoá các quan hệ xã hội. Đối với xã hội thì mỗi cá nhân hình
thành nên xã hội, nếu cá nhân có việc làm ổn định, tăng thu nhập thì sẽ làm
Phù Ninh vốn là một huyện thuần nông, nhưng có một phần giáp với
thành phố Việt Trì, một phần giáp thị xã Phú Thọ, đây là hai khu vực có tốc
độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa nhanh nhất ở tỉnh Phú Thọ.
Dân số của huyện Phù Ninh năm 2012 là 95790 người, trong đó tỷ lệ dân số
sống ở nông thôn chiếm 84,6%. Hiện nay Phù Ninh đang có sự chuyển hóa
mạnh mẽ sang công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa, vấn đề việc làm
cho nông dân là vấn đề bức xúc được chính quyền địa phương đặc biệt quan
tâm. Mặc dù địa phương có nhiều chương trình, mục tiêu, kế hoạch giải quyết
việc làm cho nông dân, tuy nhiên trong quá trình thực hiện gặp nhiều khó
khăn, nảy sinh một số vấn đề cần giải quyết như trình độ tay nghề của người
nông dân chưa đáp ứng nhu cầu của xã hội, số lượng lao động chưa có việc
làm và thiếu việc làm ngày càng tăng tạo ra sức ép lớn đối với xã hội. Từ đó
mà nảy sinh các vấn đề xã hội gây khó khăn cho sự phát triển bền vững.
Xuất phát từ tình hình trên, tác giả chọn đề tài : “Giải quyết việc làm
cho nông dân ở huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ trong quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ” làm luận văn thạc sĩ triết
học của mình.
3
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là một chủ
trương lớn của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay. Đảng ta xác định chủ
trương, chính sách nhằm thúc đẩy phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn
phát triển, tạo sự chuyển biến căn bản cho khu vực nông thôn. Tuy nhiên
trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn có một
vấn đề đặt ra đó là vấn đề giải quyết việc làm bền vững cho nông dân.
Ngoài chủ trương, quan điểm của Đảng từ đại hội đại biểu lần thứ VI
đến nay thì Đảng còn có nghị quyết riêng về vấn đề nông nghiệp, nông dân,
nông thôn trong đó có đề cập đến giải quyết việc làm cho nông dân trong quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa như Nghị quyết hội nghị lần thứ 5 Ban
nghề nghiệp, ý thức lao động… ở nông thôn rất hạn chế. Những hạn chế này
chính là cản trở người lao động tiếp cận với việc làm đòi hỏi phải có tay nghề,
có ý thức trách nhiệm cao hiện nay. Để người lao động ở nông thôn có việc
làm đảm bảo thu nhập, tác giả nhấn mạnh đến công tác giáo dục học vấn, dạy
nghề và mở rộng sản xuất, kinh doanh …, coi đó là nhiệm vụ hàng đầu ở
nông thôn hiện nay.
- “ Mối quan hệ giữa nâng cao chất lượng lao động với giải quyết việc
làm trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”(2001) do
PGS.TS Trần Văn Chử làm chủ nhiệm đề tài. Trong đề tài tác giả và cộng sự
đã phân tích làm rõ mối quan hệ giữa nâng cao chất lượng lao động với giải
quyết việc làm trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và
khẳng định rằng: việc nâng cao chất lượng nguồn lao động không chỉ nhằm
đáp ứng nhu cầu của phát triển mà còn góp phần giải quyết việc làm, giảm
thất nghiệp. Từ đó, các nhà nghiên cứu đã đề xuất các giải pháp nhằm nâng
cao chất lượng đội ngũ lao động và giải quyết việc làm ở nước ta;
5
- “Việc làm của nông dân vùng đồng bằng sông Hồng trong quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Nxb Lý luận chính trị, H.2007, do TS Bùi
Thị Ngọc Lan chủ biên. Đề tài đã làm rõ quan niệm về việc làm và những
nhân tố tác động đến việc làm của nông dân vùng đồng bằng song Hồng; phân
tích thực trạng việc làm và những triển vọng giải quyết việc làm cho nông dân
đồng bằng sông Hồng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Từ đó đề
xuất những giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết việc làm cho nông dân vùng
đồng bằng sông Hồng đến năm 2015.
- “ Việc làm của nông dân trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa vùng đồng bằng Sông Hồng đến năm 2020”, H.2009, đề tài cấp Bộ của
Viện khoa học xã hội Việt Nam do TS. Trần Minh Ngọc làm chủ biên. Đề tài
đã phân tích, làm rõ thực trạng việc làm ở Đồng bằng Sông Hồng từ năm
2000 đến năm 2007; đánh giá tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến
p đến vấn đề nông dân , nông nghiê
̣
p, nông thôn như: Tạp chí Cộng sản ,
Công ta
́
c thông tin - Lý luận, báo Nông thôn, Tạp chi Lý luận.v.v Tuy nhiên
chưa có công trình nào, đề tài nào phân tích, đánh giá, đề cập vấn đề giải
quyết việc làm cho nông dân huyện Phù Ninh trong quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa. Nhưng những tài liệu của các nhà nghiên cứu, các báo chí
là nguồn tài liệu vô cùng quan trọng giúp tác giả trong quá trình thực hiện
luận văn của mình.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Làm rõ thực trạng giải quyết việc làm cho nông dân ở huyện Phù Ninh
trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Từ đó
đưa ra một số giải pháp nhằm giải quyết có hiệu quả vấn đề việc làm cho
nông dân ở huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ
Để thực hiện mục đích nêu trên, luận văn sẽ giải quyết một số nhiệm
vụ sau:
- Làm rõ cơ sở lý luận về vấn đề giải quyết việc làm cho nông dân trong
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở nước ta
hiện nay.
- Phân tích, đánh giá thực trạng và tìm nguyên nhân giải quyết việc làm
cho nông dân ở Huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ trong quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
- Đề xuất phương hướng, giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết việc làm
cho nông dân ở Huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ trong quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.
8
7. Ý nghĩa của luận văn
- Luận văn góp phần làm phong phú lý luận về giải quyết việc làm cho
nông dân trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông
thôn ở cấp huyện hiện nay.
- Góp phần cung cấp thêm những cơ sở khoa học cho các cơ quan, ban
ngành trong huyện tham khảo trong quá trình hoạch định các chính sách nhằm
giải quyết việc làm trên địa bàn huyện.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo thì luận
văn bao gồm 3 chương 6 tiết
Chương 1: Một số lý luận về giải quyết việc làm cho nông dân trong
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở nước ta
hiện nay.
Chương 2. Thực trạng giải quyết việc làm cho nông dân ở huyện Phù
Ninh, tỉnh Phú Thọ trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp, nông thôn và những vấn đề đặt ra.
Chương 3. Quan điểm và giải pháp nhằm giải quyết việc làm bền vững
cho nông dân ở huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ trong quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.
9
Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO
NÔNG DÂN TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI
HÓA NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN Ở NƢỚC TA HIỆN NAY
1. 1. Các khái niệm cơ bản
có được trả tiền công, lợi nhuận hoặc những người tham gia vào các hoạt
động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay thu nhập gia đình, không
nhận tiền công hay hiện vật” [5, tr47]. Đây là một khái niệm khá mềm dẻo
nền được nhiều nước áp dụng, sau năm 1986 nhiều nhà nghiên cứu ở Việt
Nam cũng sử dụng khái niệm này.
Trước năm 1986, nền kinh tế nước ta vận hành theo cơ chế kế hoạch
hóa, tập trung, quan liêu, bao cấp, chỉ có những người làm việc trong các cơ
quan nhà nước, khu vực kinh tế tập thể mới được coi là có việc làm. Do đó
trong xã hội lúc này không tồn tại khái niệm thất nghiệp hay thiếu việc làm vì
ai cũng có việc làm. Chế độ “biên chế” suốt đời trong các cơ quan nhà nước
đã tạo ra tâm lý ỷ lại của người lao động vào nhà nước khi họ cần việc làm
tuy nhiên đa phần người lao động lúc đó không có việc làm một cách đầy đủ.
Nhưng từ khi chuyển sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa thì quan niệm của người lao động về việc làm cũng thay đổi một cách
căn bản. Theo bộ luật lao động, Luật số 10/2012/QH13 của nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam sửa đổi, bổ sung năm 2012. Điều 9, Chương II quy
định rõ: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp
luật cấm” [63]
Theo luật quy định, việc làm gồm hai yếu tố: hoạt động lao động tạo ra
thu nhập và không bị pháp luật cấm. Quy định này khắc phục được hạn chế
của quan niệm cũ cho rằng chỉ có làm việc trong khu vực nhà nước mới được
11
coi là có việc làm, nó mở ra một hướng mới cho vấn đề giải quyết việc làm,
mở ra một thị trường việc làm phong phú và đa dạng, thu hút nhiều lao động,
thực hiện mục tiêu giải phóng triệt để sức lao động và khai thác có hiệu quả
mọi nguồn lực của đất nước.
Cho đến hiện nay, việc làm được nhận thức khá thống nhất: “Việc làm
là những hoạt động lao động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, tạo thu
nhập hoặc lợi ích cho bản thân, gia đình người lao động hoặc cho một cộng
việc nhưng đang tìm kiếm việc làm và sẵn sàng làm việc để tạo ra thu nhập
bằng tiền hay hiện vật, gồm cả những người chưa bao giờ làm việc. Thất
nghiệp còn bao gồm cả những người trong thời gian quan sát không có hoạt
động tìm kiếm việc làm vì họ đã được bố trí một việc làm mới sau thời gian
quan sát, những người đã buộc thôi việc không lương có hoặc không có thời
hạn hoặc những người không tích cực tìm kiếm việc làm vì họ quan niệm
rằng không thể tìm được việc làm [8, tr28].
Tuy nhiên, những đối tượng sau đây đang trong độ tuổi lao động không
thuộc vào những người thất nghiệp:
Người không có khả năng lao động như người khuyết tật, người bị ốm
đau, bệnh tật hiểm nghèo.
Người không có nhu cầu tìm kiếm việc làm.
Người đang đi học.
Người làm công việc nội trợ trong gia đình.
Thất nghiệp luôn trở thành sức ép của xã hội đối với nền kinh tế và cả
với đời sống của từng cá nhân. Tỷ lệ người thất nghiệp và thiếu việc làm cao
sẽ dẫn đến những vấn đề xã hội gay gắt, là một trong những nguyên nhân cơ
bản dẫn đến sự mất ổn định về chính trị, trật tự an toàn xã hội.
13
Thất nghiệp là một động thái xấu của nền kinh tế dẫn tới gánh nặng cho
nhà nước do nền sản xuất, nền kinh tế không phát triển, trì trệ, suy thoái hoặc
khủng hoảng kinh tế. Một nền kinh tế lạc hậu, một xã hội chậm phát triển
cũng thường không tạo đủ việc làm đáp ứng nhu cầu của dân cư có sức lao
động và trong độ tuổi lao động vốn tăng thường xuyên, hàng năm. Là một
nước nông nghiệp, lực lượng lao động nông nghiệp chiếm tới gần 69,5%
trong cơ cấu xã hội nên vấn đề việc làm cho nông dân được Đảng và nhà
nước ta đặc biệt quan tâm.
Thiếu việc làm: Bao gồm những người có việc làm bấp bênh (không
ổn định) hoặc đang có việc làm (40 giờ trong 5 ngày trở lên) trong tuần lễ
càng bế tắc.
Tâm lý "trời sinh voi, sinh cỏ", thích đông con nhiều cháu, "trọng nam,
khinh nữ" ăn sâu bám rễ trong tiềm thức người nông dân Việt Nam. Dẫn đến
dân số ở vùng nông thôn tăng ngày càng nhanh. Khi dân số tăng nhanh dẫn
đến diện tích đất/ đầu người ngày càng giảm, ruộng đất manh mún. Công cụ
lao động thì thô sơ, lạc hậu, năng suất lao động thấp lại không có nghề phụ
nên tình trạng thiếu đói diễn ra triền miên.
Sau đổi mới, chính sách khoán đã tác động làm cho người nông dân
như được cởi trói, sức lao động được giải phóng. Nền nông nghiệp của nước
ta chuyển dần từ nông nghiệp thuần nông sang nông nghiệp đa canh và thâm
canh, từ sản xuất để tiêu dùng, sang sản xuất hàng hóa, từ kinh tế hiện vật
sang kinh tế hàng hoá từng bước thích ứng với cơ chế thị trường. Kinh tế hộ
nông dân cá thể được định hình, là đơn vị kinh tế cơ bản ở nông thôn. Cơ chế
khoán và kinh tế hộ gia đình đã làm cho bộ mặt nông thôn thay đổi hoàn toàn,
15
người nông dân giờ đây không còn phụ thuộc vào hợp tác xã mà họ đã trở
thành người chủ trên mảnh ruộng của mình. Họ chủ động sản xuất, tự tổ chức
lao động và quản lý lao động sản xuất. Giờ đây họ có thể tự tạo việc làm, tận
dụng mọi tư liệu sản xuất, thời gian lao động và sức lao động của mình, nhờ
đó họ phát huy được năng lực sản xuất của bản thân. Trên những mảnh đất
“khoán” người nông dân đã có quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh, họ là
người quyết định việc “trồng cây gì? Nuôi con gì?” và sản xuất như thế nào ?
để đạt hiệu quả kinh tế cao nhất.
Tư duy của người nông dân dần chuyển từ tư duy “ỷ lại vào hợp tác xã”
sang tư duy “sản xuất hàng hóa”, việc làm ngày càng gắn liền với thu nhập,
họ tìm cách tạo ra nguồn thu nhập bằng nhiều việc làm khác nhau. Để sản
phẩm được thị trường chấp nhận, người nông dân đã bắt đầu chú ý đến chất
lượng, mẫu mã và giá thành sản phẩm, họ đã chú ý đầu tư sản xuất những mặt
hàng nông phẩm có chất lượng và giá trị kinh tế cao, thích ứng với cơ chế thị
thì dâm” v.v Người nông dân làm ruộng để sống như một lẽ tự nhiên, họ
không ý thức được việc cần thiết phải đào tạo thành nghề. Đặc điểm này ở lao
động nông thôn trở thành tập quán, thói quen. Khi bước vào thời kỳ đổi mới,
do yêu cầu phải chuyên môn hóa, dịch chuyển cơ cấu kinh tế, văn hóa, lối
sống đã làm cho nông dân bỡ ngỡ, lúng túng, thập chí bất lực khi tiếp cận
được nghề mới, việc mới.
Thứ ba, nghề nông là công việc mang tính chất mùa vụ nên lao động ở
nông thôn sẽ thiếu việc làm trong lúc nông nhàn. Đất đai là tư liệu sản xuất
chủ yếu của nông dân nhưng cùng với quá trình đô thị hóa và công nghiệp
hóa dẫn đến đất đai bị thu hẹp. Trong khi đó tay nghề thấp họ gặp khó khăn
trong tìm kiếm việc làm và phải làm những công việc nặng nhọc với mức thu
nhập thấp.
17
1.1.2. Giải quyết việc làm cho nông dân
1.1.2.1. Quan niệm về giải quyết việc làm cho nông dân
* Quan niệm về giải quyết việc làm
Thất nghiệp và thiếu việc làm là hiện trạng thường gặp đối với các
nước nông nghiệp nơi mà lực lượng lao động nông nghiệp và nông dân vẫn
còn chiếm tỷ lệ lớn trong cơ cấu lao động và cơ cấu xã hội. Vì ở những nước
này, nền kinh tế còn lạc hậu, xã hội chậm phát triển nên không tạo đủ việc
làm, không đáp ứng được nhu cầu việc làm của dân cư có sức lao động và
đang trong độ tuổi lao động. Do đó quan tâm, hỗ trợ giải quyết việc làm cho
người lao động là trách nhiệm của Nhà nước và toàn xã hội.
Giải quyết việc làm, theo nghĩa rộng, là tổng thể những biện pháp, chính
sách kinh tế - xã hội của Nhà nước, cộng đồng và bản thân người lao động tác
động đến mọi mặt của đời sống xã hội để đảm bảo cho mọi người có khả năng
lao động có việc làm và có thu nhập. Theo nghĩa hẹp, giải quyết việc làm là các
biện pháp, chính sách chủ yếu hướng vào đối tượng thất nghiệp, thiếu việc làm
nhằm tạo ra chỗ làm việc cho người lao động để giảm thiểu tỷ lệ thất nghiệp.
bền vững, lâu dài cho người lao động. Để làm được điều đó, đòi hỏi người sử
dụng lao động phải có vốn để mua tư liệu sản xuất và sức lao động để tiến
hành sản xuất. Để có thể kinh doanh hiệu quả đòi hỏi người sử dụng lao động
phải có kinh nghiệm quản lý, vận dụng linh hoạt chính sách của nhà nước
trong lĩnh vực lao động và việc làm. Đồng thời cần phải đề ra các quy định
phù hợp, quản lý lao động một cách khoa học và nghệ thuật nhằm đạt mục
tiêu của mình đồng thời nâng cao sự thỏa mãn của người lao động, khơi dậy
động lực và sự sáng tạo ở mỗi người.
* Giải quyết việc làm cho nông dân