Vận dụng tư tưởng dân vận hồ chí minh vào công tác vận động nông dân huyện hưng nguyên, tỉnh nghệ an trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn - Pdf 33

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

PHAN HỮU HÙNG

VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG DÂN VẬN HỒ CHÍ MINH VÀO CÔNG TÁC
VẬN ĐỘNG NÔNG DÂN HUYỆN HƯNG NGUYÊN, TỈNH NGHỆ AN
TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

Nghệ An, 2015


2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

PHAN HỮU HÙNG

VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG DÂN VẬN HỒ CHÍ MINH VÀO CÔNG TÁC
VẬN ĐỘNG NÔNG DÂN HUYỆN HƯNG NGUYÊN, TỈNH NGHỆ AN
TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN
Chuyên ngành : Chính trị học
Mã số : 60.31.02.01


Tác giả

Phan Hữu Hùng

MỤC LỤC


4

A
B

Mở đầu
Nội dung

1-6

Chương 1: TÍNH TẤT YẾU CỦA SỰ VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG DÂN VẬN
HỒ CHÍ MINH VÀO CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG NÔNG DÂN TRONG
QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP,
NÔNG THÔN

1.1 Sự ra đời và nội dung tư tưởng dân vận của Chủ tịch Hồ Chí
Minh………..............................................................................................
1.2 Sự cần thiết của việc vận dụng tư tưởng dân vận của Chủ tịch Hồ Chí
Minh vào công tác vận động nông dân trong quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.............................................................

7
31

trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
C KẾT LUẬN ..................................................................................................
D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO....................................................
E DANH MỤC NHỮNG CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI ĐÃ CÔNG BỐ TRÊN CÁC PHƯƠNG TIỆN THÔNG
TIN ĐẠI CHÚNG ........................................................................................
F PHỤ LỤC CÁC BẢNG BIỂU ....................................................................
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT

67

73

99
102
106

106


5

BCH

:

Ban Chấp hành.

BCHTW


:

Hội đồng nhân dân.

KHKT

:

Khoa học kỹ thuật.

KT-XH

:

Kinh tế - Xã hội

NTM

:

Nông thôn mới

NXB

:

Nhà xuất bản.

PGS


:

Xã hội hóa

A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc
về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, trong đó có tư tưởng về


6

dân vận, một bộ phận hết sức quan trọng trong toàn bộ Di sản vô giá mà
Người để lại cho Đảng và nhân dân các dân tộc ở nước ta.
Tư tưởng dân vận của Hồ Chí Minh không những chứa đựng tinh thần
trọng dân, thương dân, hết lòng chăm lo lợi ích của nhân dân, nhận rõ sức mạnh
của nhân dân, mà còn chỉ ra nội dung và phương thức vận động, tập hợp đông
đảo nhân dân tich cực tham gia các phong trào do Đảng ta khởi xướng và lãnh
đạo.
Nhận thức và thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn luôn xác
định rõ vai trò, vị trí quan trọng của công tác dân vận đối với sự nghiệp cách
mạng. Bước vào thời kỳ mới, đất nước đứng trước nhiều thời cơ và thách thức
lớn; trong đó thách thức lớn nhất là âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng
dân tộc, tôn giáo hòng chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt
Nam. Do đó, công tác dân vận lúc này cần phải được đổi mới, đẩy mạnh và
tăng cường hơn nữa với những nội dung phù hợp với tình hình mới của đất
nước và thế giới nhằm phát huy cao độ sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, thực
hiện thắng lợi mục tiêu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa quê
hương đất nước.
Gần 30 năm đổi mới vừa qua (1986-2015), công tác dân vận do Đảng tổ

(2012), “Tiếp tục đổi mới công tác Dân vận của Đảng, đáp ứng yêu cầu xây
dựng và bảo vệ tổ quốc trong thời kỳ mới”, tạp chí Dân vận, (10), tr.6-9.
Huỳnh Đảm (2004), "Nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin - Mục tiêu đổi
mới công tác của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam", Tạp chí Cộng sản, (7), tr.6-9.
Trần Văn Đam (2005), Dân vận và dân chủ, in trong quyển "Vận dụng tư
tưởng Hồ Chí Minh vào công tác dân vận trong thời kỳ mới", Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội. Trần Bạch Đằng (2002), "Cách mạng là sự nghiệp của quần
chúng", Tạp chí Dân vận, (10), tr.22-24. Trịnh Xuân Giới (2005), Cán bộ dân
vận thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ, in trong quyển "Vận dụng tư tưởng Hồ
Chí Minh vào công tác dân vận trong thời kỳ mới", Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội. Nguyễn Thạc Hân (2005), Mối quan hệ Đảng - dân trong tư tưởng Hồ
Chí Minh, in trong quyển "Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào công tác dân
vận trong thời kỳ mới", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Nguyễn Văn Hùng
(2005), Tác phẩm dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh mãi mãi tỏa sáng, soi
đường cho công tác dân vận của Đảng trong thời kỳ mới, in trong quyển "Vận


8

dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào công tác dân vận trong thời kỳ mới", Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội.
Phạm Văn Khánh (2003), "Tư tưởng Hồ Chí Minh về sức mạnh nhân dân
và công tác dân vận", Tạp chí Dân vận, (10), tr.16-18. Vũ Ngọc Khánh
(2002), "Đôi điều nhớ lại về công tác dân vận", Tạp chí Dân vận, (10), tr.2526. Vũ Ngọc Lân (2003), "Công tác dân vận có phải một nghề", Tạp chí Dân
vận, (1), tr.13-14.
Nhóm thứ hai: Vận dụng lý luận dân vận vào thực tiễn gồm: Bùi Đình
Phong (2003), "Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận vào việc thực
hiện đại đoàn kết toàn dân tộc", Tạp chí Cộng sản, (9), tr.12-15. Phạm Văn
Tản (2004), "Vai trò của đội ngũ cán bộ đối với công tác dân vận", Tạp chí
Dân vận, (7), tr.15-16. Văn Tạo (2000), "Học tập tư tưởng dân vận Hồ Chí

lượng công tác nông vận .
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận và việc quán triệt, vận
dụng tư tưởng đó trong vận động nông dân ở huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ
an trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chỉ nghiên cứu quá trình hình thành và nội dung cơ bản tư
tưởng Hồ Chí Minh về dân vận; nghiên cứu việc vận dụng tư tưởng đó trong
công tác nông vận ở huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ an trong quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận của luận văn là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh và quan điểm của Đảng ta về công tác dân vận.
- Phương pháp luận của luận văn là phương pháp duy vật biện chứng của
triết học Mác - Lênin.
- Về phương pháp cụ thể, luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu lý
thuyết, phương pháp nghiên cứu tài liệu, phỏng vấn, xử lý thông tin, lịch sử
kết hợp với phương pháp lôgíc, ngoài ra còn sử dụng nhiều phương pháp khác
như thống kê, so sánh...
6. Giả thuyết khoa học
- Luận văn mạnh dạn nêu ra một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất
lượng công tác nông vận ở huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ an trong quá trình
CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn


11

- Luận văn góp phần làm rõ tính cách mạng và khoa học của tư tưởng Hồ
Chí Minh về công tác dân vận. Tính cách mạng và tính khoa học của tư tưởng

Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
Tổng kết các bài học lớn của cuộc kháng chiến chống quân NguyênMông, Trần Quốc Tuấn nhận thấy rằng nguyên nhân lớn nhất của chiến thắng
là “Vua tôi đồng tâm, anh em hoà thuận, cả nước góp sức”, và ông căn dặn:
"Phải khoan thư sức dân để làm kế bền gốc sâu rễ, đó là thượng sách giữ nước”.
Những lời tâm huyết đó đã thúc giục lòng người đứng lên giết giặc lập công.
Lê Lợi, Nguyễn Trãi bằng chiến lược đánh vào lòng người đã động viên
toàn quân, toàn dân trên tư tưởng "Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân", "chở
thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân".


13

Như vậy, để tập hợp lực lượng, các chính quyền phong kiến đã biết phát
huy tinh thần yêu nước của các tầng lớp nhân dân, đứng dưới ngọn cờ cứu
nước. Trước hoạ ngoại xâm, cứu nước là để cứu dân. Kẻ ngoại xâm “nướng
dân đen trên ngọn lửa hung tàn, vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”, nên cứu
nước và giành lại nền độc lập cho đất nước là để cứu dân. Sau khi thắng lợi,
các triều đại phong kiến Việt Nam đều có ý định thực hiện "kế sâu rễ, bền gốc
là khoan thư sức dân".
Đến đầu thế kỷ XX, các nhà yêu nước tiêu biểu như Phan Bội Châu,
Phan Chu Trinh vượt qua hệ tư tưởng phong kiến, tiếp thu tư tưởng dân chủ
tư sản, thực hiện một bước tiến về chất trong lịch sử tư tưởng dân tộc nói
chung và trong vấn đề vận động quần chúng nói riêng.
Tuy nhiên, các nhà yêu nước nổi tiếng này chưa có phương pháp đánh
giá và công tác vận động nhân dân một cách khoa học, nên phải chịu “trăm
thất bại” mà không một thành công.
Chủ tịch Hồ Chí Minh kế thừa truyền thống “yêu nước, trọng dân” của

Vì thế trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, C.Mác và Ph.Ăngghen viết:
“Vô sản tất cả các nước, đoàn kết lại!” [9, tr.646].
Vận dụng tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen vào thời đại của mình thời đại đế quốc chủ nghĩa và cách mạng vô sản, Lênin kêu gọi mở rộng khối
đại đoàn kết của giai cấp công nhân với các dân tộc bị áp bức trên toàn thế
giới.
Về phương hướng công tác dân vận, chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ rõ cần
phải dùng phương pháp nêu gương và giúp đỡ; trong công tác dân vận thì
những tấm gương, những mô hình thực tiễn cụ thể có tác dụng cổ vũ, động
viên, hướng dẫn quần chúng nhân dân rất to lớn; đối với quần chúng nhân dân
không được dùng mệnh lệnh áp đặt ý chí chủ quan của cá nhân lãnh đạo đối
với họ.
V.I.Lênin rất coi trọng công tác thuyết phục, giáo dục và nêu gương đối
với quần chúng nhân dân. Người đề ra nhiệm vụ hàng đầu cho các đảng cộng
sản là phải “thuyết phục cho đa số nhân dân thấy được sự đúng đắn của cương
lĩnh và sách lược của mình” [44, tr.208].
Nhiệm vụ chiến lược quan trọng trong thời kỳ giành được chính quyền,
xây dựng chủ nghĩa xã hội là quản lý, nhưng “Chúng ta phải suy nghĩ kỹ rằng
muốn quản lý được tốt, thì ngoài cái tài biết thuyết phục, biết chiến thắng
trong cuộc nội chiến, còn cần phải biết tổ chức trong lĩnh vực thực tiễn” [44,
tr.210].
Đồng thời, V.I.Lênin phê phán những đảng viên, cán bộ, những tổ chức
đảng không gương mẫu, không dũng cảm hoặc “rất ít dùng những điển hình,


16

những tấm gương cụ thể, sinh động, lấy trong mọi lĩnh vực của đời sống, để
giáo dục quần chúng” [45, tr.109]. Người yêu cầu lấy kinh nghiệm, lấy ví dụ
thực tế để chứng minh cho quần chúng thấy rõ sự cần thiết của công việc
đang làm và coi đó là một biện pháp có hiệu quả.

như trong chống giặc ngoại xâm của cộng đồng người Việt.
Lịch sử đã chứng minh truyền thống đoàn kết, ý chí độc lập, tự chủ, tự
lực, tự cường của dân tộc ta đã được hun đúc qua hàng nghìn năm dựng nước
và giữ nước.
Hồ Chí Minh là người am hiểu sâu sắc lịch sử đấu tranh dựng nước và
giữ nước của dân tộc; đã nhận thức được lịch sử Việt Nam thời phong kiến,
tuy chỉ là những việc đấu tranh thay đổi triều đại nhưng đã ghi lại những tấm
gương tâm huyết dựng nước và giữ nước của cha ông ta.
Khi đất nước bị giặc xâm lăng, “Vua tôi đồng lòng, anh em hoà thuận, cả
nước góp sức” và “Khoan thử sức dân để làm kế sâu rễ, bền gốc là thượng
sách giữ nước”. Hội nghị Diên Hồng đời Nhà Trần là một điển hình của
truyền thống đoàn kết toàn dân tộc nhằm tập hợp mọi lực lượng, thu phục
tướng sĩ, nhân tài, phát huy sức mạnh của cả dân tộc để đánh đuổi kẻ thù.
Truyền thống này được Hồ Chí Minh kế thừa và phát huy lên một tầm cao
mới, trong thời đại mới.
Năm 1858, thực dân Pháp tấn công bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng), mở đầu
cuộc vũ trang xâm lược và áp bức của chúng đối với dân tộc ta. Chúng đã thi
hành nhiều chính sách nguy hiểm và bằng mọi thủ đoạn độc ác, đê hèn để bóc
lột nhân dân ta, đặc biệt là chính sách “chia để trị”.
Với chính sách đó kẻ thù hòng phân biệt, tách rời giữa đồng bào miền
xuôi với đồng bào miền ngược, giữa đồng bào không theo đạo với đồng bào
theo đạo … Nguy hiểm hơn, chúng đã chia đất nước ta thành ba miền: Bắc,
Trung, Nam; mỗi miền có một chế độ cai trị khác nhau nhằm tập trung phá
hoại khối đại đoàn kết dân tộc, một truyền thống có từ lâu đời của chúng ta.
Thực tế đó đặt ra cho cách mạng nước ta phải thực hiện chiến lược đoàn
kết để tập hợp mọi lực lượng yêu nước có thể đoàn kết được, không phân biệt
đảng phái, giai cấp, giàu nghèo thành một mặt trận thống nhất, tạo thành sức


18

Quốc và của lãnh tụ đấu tranh đòi độc lập Mahatma Ganđi ở ấn Độ.


19

1.1.1.3. Quá trình phát triển tư tưởng dân vận của Chủ tịch Hồ Chí
Minh
Tư tưởng dân vận của Người được hình thành, phát triển và hoàn thiện
gắn liền với quá trình hoạt động cách mạng của Người; gắn liền với quá trình
phát triển, thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Thời kỳ thơ ấu đến năm 1920: tham gia hoạt động yêu nước và hình
thành tư tưởng yêu nước, tư tưởng dân vận
Trong thời kỳ này, Hồ Chí Minh tiếp thu truyền thống yêu nước và lòng
nhân ái từ gia đình và quê hương. Tại quê hương, Hồ Chí Minh được khai tâm
bằng chữ Hán, hấp thụ tinh thần yêu nước bất khuất của phong trào chống
Pháp, cách đối nhân xử thế, nhân nghĩa thuỷ chung, khí khái của các nhà nho
yêu nước. Tại Huế (1895 - 1901 và 1906 - 1909), Hồ Chí Minh học được kiến
thức về tự nhiên, xã hội, bước đầu tiếp xúc với văn minh phương Tây.
Thời kỳ này, Hồ Chí Minh cũng đã chứng kiến cảnh đàn áp dã man của
thực dân Pháp đối với những người yêu nước Việt Nam; cảnh sống cơ cực,
đói rách của nhân dân lao động; cuộc sống xa hoa của bọn thực dân Pháp và
quan lại tay sai. Hồ Chí Minh tham gia phong trào biểu tình chống thuế của
nhân dân Trung Kỳ, thấy được thất bại của phong trào Đông Du (1906 - 1908) do
Phan Bội Châu tổ chức, lãnh đạo và phong trào “Đông kinh Nghĩa thục” (1907).
Tìm hiểu nguyên nhân thất bại của các phong trào yêu nước lúc bấy giờ,
Hồ chí Minh nhận xét như sau: chủ trương dựa vào Nhật để đánh Pháp của
Phan Bội Châu, “Điều đó rất nguy hiểm, chẳng khác gì đưa hổ cửa trước,
rước beo cửa sau”
Chủ trương của Phan Chu Trinh dựa vào Pháp để “Duy Tân” đất nước
“chẳng khác gì đến xin giặc rủ lòng thương”; còn cuộc khởi nghĩa Yên Thế

đến kết luận về Kế hoạch 14 điểm của Tổng thống Mỹ Uyn-Xơn rêu rao về
quyền tự quyết dân tộc: “Chủ nghĩa Uyn - Xơn chỉ là trò bịp lớn”, và “muốn
được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào mình, trông cậy vào lực
lượng của bản thân mình”.
Trong thời gian này, Hồ Chí Minh qua nhiều nước ở châu á, châu Phi,
châu Mỹ và châu Âu, chú ý xem xét tình hình các nước, suy nghĩ về thực tế
đang diễn ra ở các nước đó và nhận định rằng: trên thế giới này chỉ có hai
giống người: bị bóc lột và bóc lột mà thôi. Người kết luận giai cấp công nhân
và nhân dân lao động ở đâu cũng là bạn; chủ nghĩa đế quốc ở đâu cũng là thù.


21

Từ đó đã làm nảy nở ở Người tình cảm và ý thức giai cấp cũng như tình đoàn
kết quốc tế. Người cũng đã tìm hiểu các cuộc cách mạng lớn trên thế giới,
khảo sát cuộc sống, tình cảnh của nhân dân bị áp bức và ảnh hưởng về con
đường Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, một cuộc cách mạng đã thành
công đến nơi, vì “Cách mạng rồi quyền giao cho dân chúng số nhiều”. Bằng
những hoạt động tích cực ấy, Hồ Chí Minh đã đi trước một đoạn đường khá
thành công của công tác dân vận.
Năm 1920, đọc Luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc
địa, Hồ Chí Minh tìm thấy con đường chân chính cho sự nghiệp cứu nước,
tìm thấy lực lượng cách mạng hùng hậu cho thắng lợi của cách mạng thuộc
địa. Tháng 12/1920, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 18 Đảng Xã hội
Pháp họp tại thành phố Tua, Hồ Chí Minh bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc
tế III. Tiếp đó, Người tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và trở thành
người cộng sản Việt Nam đầu tiên. Sự kiện đó đánh dấu bước chuyển biến về
chất trong nhận thức tư tưởng và lập trường chính trị của Người. Từ đây, khát
vọng giải phóng dân tộc của Người được soi sáng bởi một hệ tư tưởng cách
mạng và khoa học. Đó là chủ nghĩa Mác - Lênin.

Trong những năm 1930 - 1940, do điều kiện khách quan, Hồ Chí Minh
tiếp tục hoạt động cách mạng ở nước ngoài. Lúc này, toà án thực dân, phong
kiến ở Việt Nam kết án tử hình vắng mặt Hồ Chí Minh. Tháng 6/1931 đế
quốc Anh bắt giam trái phép Hồ Chí Minh tại Hương Cảng (Trung Quốc).
Chúng bịa ra nhiều lý do để trao Người cho thực dân Pháp. Nhờ sự giúp đỡ
của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, của những nhân sĩ dân chủ và
tiến bộ, nhất là của luật sư Lô - Dơ - By và kinh nghiệm hoạt động bí mật của
mình, Hồ Chí Minh đã thoát khỏi nanh vuốt của kẻ thù.
Mùa hè năm 1933, Hồ Chí Minh sang Liên Xô. ở đây Người vào học tại
trường Đại học Lênin và sau đó làm nghiên cứu sinh ở Ban sử của Viện
Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa của Quốc tế Cộng sản. Người tập
trung nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin và
kinh nghiệm phong trào cách mạng thế giới. Trong thời gian này, Người tiếp
tục bảo vệ và phát triển những tư tưởng, quan điểm đúng đắn của mình về
cách mạng vô sản, chống lại những biểu hiện tả khuynh và biệt phái trong
phong trào cộng sản và phong trào công nhân quốc tế.
Tháng 7/1935, Đại hội lần thứ 7 Quốc tế Cộng sản được tổ chức ở
Mátxcơva, Hồ Chí Minh tham gia đoàn đại biểu Đảng ta với tư cách là đại
biểu tư vấn. Căn cứ vào tình hình quốc tế lúc này, Đại hội 7 Quốc tế Cộng sản
đã thay đổi sự chỉ đạo chiến lược và chủ trương mở rộng mặt trận thống nhất
nhằm tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân, đấu tranh chống phát xít, bảo


24

vệ tự do, dân chủ,hoà bình. Đại hội 7 Quốc tế Cộng sản đã khắc phục được
một bước quan trọng xu hướng tả khuynh trong phong trào cộng sản và phong
trào quốc tế, tạo điều kiện để cách mạng nhiều nước có bước tiến mới.
Như vậy, thực tiễn cách mạng thế giới và cách mạng Việt Nam đã chứng
minh những quan điểm của Hồ Chí Minh về sự cần thiết phải tổ chức mặt trận

miền Nam, 6 vạn quân Anh giúp Pháp quay trở lại nổ súng xâm lược nước ta
lần thứ hai. Trong khi đó tình hình kinh tế - tài chính của Nhà nước mới cực
kỳ khó khăn, kho bạc trống rỗng; hơn nữa, nạn đói do hậu quả của chính sách
vơ vét của Pháp và Nhật trước đó vẫn diễn ra gay gắt.
Đứng trước tình thế vô cùng khó khăn, nguy hiểm đó, Đảng và Chủ tịch
Hồ Chí Minh bình tĩnh, khôn khéo đề ra nhiều biện pháp linh hoạt, phát huy
được sức mạnh của cả dân tộc để giải quyết những vấn đề vừa cơ bản, vừa
cấp thiết của cách mạng; nhờ đó từng bước đẩy lùi giặc đói, giặc dốt, giặc
ngoại xâm, bảo vệ được chính quyền cách mạng và chuẩn bị lực lượng kháng
chiến.
Thực dân Pháp vốn dã tâm cướp bằng được nước ta, chúng từng bước
đơn phương xoá bỏ những điều khoản đã ký kết với Chủ tịch Hồ Chí Minh
trong Hiệp định Sơ bộ 6/3/1946 và Tạm ước 14/9/1946. Trước tình hình đó,
Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”, quyết tâm chống thực
dân Pháp đến cùng. Người viết: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ không chịu
mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” [28, tr.480].
Trong lời kêu gọi lịch sử này, Hồ Chí Minh vạch ra đường lối kháng
chiến đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn của đất nước; do đó đã vận
động, tập hợp, đoàn kết và huy động cả dân tộc Việt Nam vào cuộc trường
chinh vĩ đại, bảo vệ nền độc lập, tự do của Tổ quốc và từng bước xây dựng
chế độ dân chủ nhân dân.
Năm 1947, Hồ Chí Minh viết tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”. Qua tác
phẩm này, Người ý thức cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân sự cần thiết phải
có phương pháp và cách thức làm việc, cách thức giải quyết các vấn đề trong
điều kiện kháng chiến. Hơn thế nữa, tác phẩm còn nêu lên những phẩm chất
cần có của người cách mạng để tập hợp sức mạnh của quần chúng, đưa sự
nghiệp kháng chiến đến thắng lợi, kiến quốc đến thành công.
Năm 1949, Hồ Chí Minh viết tác phẩm: “Dân vận”. Ở tác phẩm này,
Người đã nêu lên những quan điểm và phương pháp chỉ đạo công tác dân vận


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status