PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Hiện nay nước ta đã trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế
giới WTO. Nền kinh tế nước ta ngày càng hội nhập sâu rộng với nền kinh tế tế
giới. Cơ cấu xã hội cũng đang trong quá trình biến đổi. Phân hóa giàu nghèo,
phân tầng xã hội diễn ra phức tạp. Tình hình trên đã và đang tác động đến sinh
viên về ý thức chính trị, tâm trạng, đạo đức, lối sống… Quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước, mở cửa, hội nhập kinh tế thế giới đang làm cho
những tác động đó ngày càng mạnh mẽ và sâu rộng hơn.
Trải qua hơn 20 năm đổi mới, những thành tựu đạt được trong mọi lĩnh
vực đã tác động tích cực đến thế hệ trẻ, tạo điều kiện cho họ tiến bộ về chính trị,
tư tưởng, đạo đức, lối sông, trình độ học vấn, khoa học công nghệ. Họ đã kế tục
xứng đáng sự nghiệp cách mạng của Đảng. Nét nổi bật của sin viên là ý chí
vươn lên, tinh thần cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất, ham mê nghiên cứu
ứng dụng khoa học công nghệ.
Đại bộ phận sinh viên giữ vững đạo đức cách mạng, sống trong sạch, giản
dị, lành mạnh biết vươn tới những giá trị chân, thiện, mỹ. Họ sống có hoài bão, lý
tưởng, niềm tin vào tương lai tươi sáng của dân tộc. Họ tích cực học tập, rèn luyện
đạo đức, Giám đấu tranh bảo vệ lẽ phải, bảo vệ công bằng, lên án cái xấu, cái ác,
tham nhũng, lãng phí…những tấm gương cao đẹp hi sinh thân mình vì hạnh phúc,
lý tưởng độc lập dân tộc được sinh viên học tập và làm theo. Điều đó cho thấy, thế
hệ trẻ của nước ta hiện nay vẫn ý thức rõ trách nhiệm trước Tổ quốc.
Tuy nhiên, mặt trái của nền kinh tế thị trường, những thách thức của hội
nhập kinh tế thế giới, đặc biệt những âm mưu của các thế lực thù địch đang tác
động mạnh mẽ đến sinh viên, khiến cho không ít người chạy theo lối sống thực
dụng xa ngã, hư hỏng, xa rời các giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc, có thái độ
thờ ơ, bàng quang trước các vấn đề chính trị, xã hội của đất nước. Một số sinh
viên bỏ bê việc học, ham chơi, lười lao động. Rất nhiều sinh viên ra Thành phố
học tập nhiễm các thói hư tật xấu. Đa số những sinh viên đó thường nghiện net
1
bỏ bê học hành, xa vào các tệ nạn lô đề, cờ bạc, rượu chè… Và khi hết tiền thì
hiện nay” là đề tài cho khóa luận tốt nghiệp của mình với những hy vọng nâng
cao hiệu quả việc giáo dục đạo đức cho sinh viên ĐHSP Hà Nội trong giai đoạn
hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài.
Bàn về giáo dục đạo đức đã có nhiều công trình nghiên cứu của nhiều nhà
khoa học nổi tiếng trong nước như sau:
- Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn văn Phúc: "Những vấn đề đạo đức trong điều
kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay". Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội -2003.
Tác phẩm nghiên cứu về những tác động của kinh tế thị trường đến đạo đức của con
người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Thực trạng và những biến đổi cả tích cực
lẫn tiêu cực của đạo đức trong thời kì hội nhập kinh tế thế giới. Từ đó đưa ra những
vấn đề của đạo đức trong giai đoạn hiện nay, và các biện pháp phát huy những mặt
tích cực cũng như khắc phục những hạn chế của đạo đức trong giai đoạn hiện nay.
- Phạm Quốc Thành với “Tư tưởng Hồ Chí Minh về rèn luyện đạo đức
cho cán bộ đảng viên“. Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội -2004. Tác phẩm bàn về
vai trò, tầm quan trọng của yếu tố đạo đức đối với người casv bộ Đảng viên.
Yêu cầu cần phải bồi dưỡng đạo đức cho cán bộ Đảng viên trước những biểu
hiện xuống cấp về đạo đức, tham nhũng, lạm dụng chức quyền,… của một số
cán bộ Đảng viên. Từ đó đặt ra yêu cầu cho người cán bộ Đảng viên cần phải
rèn luyện đạo đức và cụ thể là đạo đức cách mạng. Để có thể phục vụ đất nước,
phục vụ nhân dân.
- GS.La Quốc Kiệt với “Tu dưỡng đạo đức tư tưởng” Nxb.CTQG, Hà Nội
-2003. Tác phẩm bàn về vấn đề đạo đức, tư tưởng của con người trước những
biến đổi của điều kiện kinh tế xã hội. Những tư tưởng tích cực, lành mạnh, phát
huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, bên cạnh đó là những tư tưởng lệch lạc, đi
ngược lại với lợi ích chung của nhân dân, của dân tộc. Vai trò, tầm quan trọng
và yêu cầu cần thiết phải bồi dưỡng, rèn luyện đạo đức của mỗi con người.
3
Nói chung vấn đề giáo dục đạo đức cách mạng hiện đã và đang được Đảng,
Nhà nước và toàn xã hội ta quan tâm. Cũng đã có nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề
6. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
khóa luận gồm hai chương:
Chương 1: Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh về giáo dục đạo đức cho sinh viên.
Chương 2: Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức
cho sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội trong giai đoạn hiện nay.
5
CHƯƠNG I: TƯ TUỞNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH VỀ GIÁO DỤC
ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN
1.1. Các khái niệm.
1.1.1. Đạo đức.
Ở phương Tây, danh từ đạo đức bắt nguồn từ tiếng Latinh là mos, moris,
nghĩa là phong tục, tập quán. Đạo đức còn có gốc từ tiếng Hy Lạp là ethicos,
cũng có nghĩa là thói quen, tập quán. Như vậy, theo phần gốc của khái niệm thì
“đạo đức là nói đến những thói quen, tập quán sinh hoạt và ứng xử của con
người trong cộng đồng, trong xã hội”.
Ở phương Đông, theo các học thuyết về đạo đức của người Trung Quốc
cổ đại, đạo có nghĩa là con đường, đường đi, là đường sống của con người trong
xã hội. Đức dùng để nói đến nhân đức, đức tính và nhìn chung đức là biểu hiện
của đạo, là đạo nghĩa, là nguyên tắc luân lý. Theo đó, “đạo đức chính là những
yêu cầu, những nguyên tắc do cuộc sống đặt ra mà con người phải tuân theo”.
Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác–Lênin, đạo đức xét đến cùng
là sự phản ánh của các quan hệ xã hội. Giá trị đạo đức được xác định ở chỗ nó
phục vụ cho tiến bộ xã hội vì hạnh phúc của con người. “Đạo đức giúp cho xã
hội loài người tiến lên trình độ cao hơn, thoát khỏi ách bóc lột lao động” [7,
tr.371]. Bàn về đạo đức cộng sản chủ nghĩa, Lênin cho rằng: “Đó là những gì
góp phần phá hủy xã hội cũ của bọn bóc lột và góp phần đoàn kết tất cả những
người lao động chung quanh giai cấp vô sản đang sáng tạo ra xã hội mới của
những người cộng sản”. Đây là một quan niệm mang tính cách mạng và khoa
học về đạo đức mà quan niệm của các tôn giáo và các nền đạo đức khác không
giữa suy nghĩ và hành động của mỗi cá nhân trong mối quan hệ với cộng đồng,
cũng như với bản thân; trong sinh hoạt đời thường, cũng như trong hoạt động
nghề nghiệp, nó chi phối nhiều phẩm chất khác của con người.
Như vậy, từ những quan điểm trên về đạo đức của các nhà nghiên cứu ta
có thể rút ra kết luận về khái niệm của đạo đức như sau: đạo đức là hệ thống
những qui tắc chuẩn mực về hành vi, cách ứng xử giữa con người với con người
và giữa con người với tự nhiên. Thể hiện ý thức tự giác của mỗi người thông
qua hành động của họ. Và được đánh giá và điều chỉnh bởi dư luận xã hội.
7
1.1.2. Đạo đức Hồ Chí Minh.
Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức của một người cộng sản mẫu mực, kiên
định trên lập trường, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp giữa chủ nghĩa
yêu nước của dân tộc Việt Nam với chủ nghĩa quốc tế chân chính của giai cấp công
nhân cách mạng.
Đó là đạo đức của người chiến sĩ suốt đời đấu tranh, dâng hiến cả cuộc đời và
sự nghiệp của mình cho lý tưởng và mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp
công nhân, giải phóng xã hội và giải phóng con người. Do đó, đạo đức Hồ Chí Minh
là đạo đức cách mạng, đạo đức hành động vì độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.
* Quan điểm của Hồ Chí Minh về đạo đức.
Hồ Chí Minh quan niệm đạo đức của người cách mạng là trung với nước,
hiếu với dân, suốt đời phấn đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì CNXH,
nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng
đánh thắng; là cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; luôn yêu thương, quý
trọng con người, sống có tình, có nghĩa và tinh thần quốc tế trong sáng…
Theo Hồ Chí Minh, tiêu chí để đánh giá chính xác đạo đức con người là ở
hành động, ở việc làm, ở cách đối nhân xử thế. Đạo đức phải được xem xét
trong 3 mối quan hệ cơ bản: với mình, với người và với công việc. Trong 3 mối
quan hệ đó, hoạt động của con người hình thành nên những hành vi, chuẩn mực
đạo đức. Đó là việc mình có nghiêm khắc với chính bản thân hay không? Thái
độ của mình đối với ông bà, bố mẹ, anh chị, em, đối với đồng chí, đồng đội, cấp
tác đến sinh hoạt hàng ngày. Hồ Chí Minh cũng bàn đến đạo đức ở mọi phạm vi
từ gia đình tới ngoài xã hội, từ giai cấp đến dân tộc, từ quốc gia đến quốc tế.
Việc Hồ Chí Minh xem xét vấn đề đạo đức một cách toàn diện là một cách nhìn
mang tính khách quan, phù hợp với hoạt động phong phú đa dạng của đời sống
xã hội và mỗi con người.
Hồ Chí Minh đã nêu những nội dung, những chuẩn mực chung có ý nghĩa
cơ bản và có tính phổ cập đối với mọi người, mọi tầng lớp, đồng thời Người
cũng chỉ rõ những chuẩn mực cụ thể đối với từng tầng lớp như: công nhân, nông
9
dân, TN, phụ nữ, thiếu niên, nhi đồng, bộ đội, công an … Song đối tượng Người
chú ý nhiều nhất là đạo đức của người cách mạng, người cán bộ, đảng viên.
Đạo đức mới, đạo đức cách mạng do Chủ tịch Hồ Chí Minh đề xướng và
cùng với Đảng ta dày công xây dựng, bồi đắp khác với đạo đức cũ về chất,
ngược lại nó hoàn toàn thống nhất với đạo đức của chủ nghĩa Mác–Lênin. Đó là
kết hợp truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc với đạo đức mang bản chất giai
cấp công nhân và tinh hoa đạo đức của nhân loại. Hồ Chí Minh đã làm cuộc
cách mạng trong lĩnh vực đạo đức. Người nói: “Đạo đức cũ như người đầu
ngược xuống đất chân chổng lên trời. Đạo đức mới như người hai chân đứng
vững được dưới đất, đầu ngửng lên trời” [13, tr.320-321]. Đạo đức cũ - đạo đức
thực dân, phong kiến, là thứ đạo đức ích kỷ, nó kìm hãm trói buộc con người,
tàn phá con người. Còn đạo đức mới là vì nước, vì dân; là “dĩ công vi thượng”.
Đây là đạo đức vĩ đại. Bởi lẽ, đạo đức đó “không vì danh vọng của cá nhân, mà
vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người” [12, tr.252].
Hồ Chí Minh xem đạo đức là nền tảng của người cách mạng, cũng giống
như gốc của cây, ngọn nguồn của sông, của suối. Người còn ví đạo đức đối với
người cách mạng như là sức khỏe của người gánh nặng và đi xa. Theo Hồ Chí
Minh, nhiệm vụ cách mạng hoàn toàn không dễ dàng, đơn giản mà bao giờ cũng
khó khăn, phức tạp. Thực hiện nhiệm vụ cách mạng, đòi hỏi người cách mạng
phải có quyết tâm phấn đấu thật cao, phải dám hy sinh, phải kiên trì bền bỉ
“thắng không kiêu, bại không nản”. Vì thế “Người cách mạng phải có đạo đức
làm và về nghĩa vụ phải làm.
* Quan điểm của Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của đạo đức
Hồ Chí Minh quan niệm đạo đức là nền tảng và là sức mạnh của người
cách mạng, coi đó là cái gốc của cây, ngọn nguồn của sông nước: Người cách
mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng thì mới hoàn thành được nhiệm
vụ cách mạng vẻ vang vì sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Người
viết: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn.
Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức,
11
không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”
Người quan niệm đạo đức tạo ra sức mạnh, nhân tố quyết định sự thắng lợi của
mọi công việc: “Công việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hay
kém”. Quan niệm lấy đức làm gốc của Hồ Chí Minh không có nghĩa là tuyệt đối
hoá mặt đức, coi nhẹ mặt tài. Người cho rằng có tài mà không có đức là người
vô dụng nhưng có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó. Cho nên, đức là
gốc nhưng đức và tài phải kết hợp với nhau để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng.
* Tính thống nhất và phạm vi đề cập của tư tưởng Hồ Chí Minh về
đạo đức
Tư tưởng đạo đức của Người là sự thống nhất giữa chính trị và đạo đức
giữa tư tưởng đạo đức và hành vi đạo đức, giữa đức và tài, giữa đạo đức cách
mạng và đạo đức đời thường.
Tư tưởng đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh bao quát mọi đối tượng,
tầng lớp nhân dân, đề cập đến mọi lĩnh vực hoạt động của con người, trên mọi
quan hệ xã hội với phạm vi rộng, hẹp khác nhau.
* Những phẩm chất đạo đức cơ bản của con người Việt Nam thời đại
mới
Một là, trung với nước hiếu với dân.
Đây là phẩm chất quan trọng nhất, bao trùm nhất và chi phối các phẩm
chất khác.
Từ khái niệm cũ "trung với vua, hiếu với cha mẹ" trong đạo đức truyền
Trong Di chúc, Người căn dặn Đảng: Phải có tình đồng chí thương yêu
lẫn nhau, nhắc nhở mỗi cán bộ, đảng viên luôn luôn chú ý đến phẩm chất yêu
thương con người.
Ba là, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. - Theo Hồ Chí Minh thì: Cần
tức là lao động cần cù, siêng năng; lao động có kế hoạch, sáng tạo, có năng suất
cao; lao động với tinh thần tự lực cánh sinh, không lười biếng, không ỷ lại,
không dựa dẫm. Phải thấy rõ "lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống,
nguồn hạnh phúc của chúng ta".
13
Kiệm tức là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thì giờ, tiết kiệm tiền của của
dân, của nước, của bản thân mình; phải tiết kiệm từ cái to đến cái nhỏ, nhiều cái
nhỏ cộng lại thành cái to; "không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi", không
phô trương hình thức, không liên hoan, chè chén lu bù, quí trọng sức lao động.
Liêm tức là "luôn luôn tôn trọng giữ gìn của công và của dân"; "không
xâm phạm một đồng xu, hạt thóc của Nhà nước, của nhân dân". Phải "trong
sạch, không tham lam". "Không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham
sung sướng. Không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại,
không bao giờ hủ hoá".
Chính, "nghĩa là không tà, thẳng thắn, đứng đắn". Đối với mình: không tự
cao, tự đại, luôn chịu khó học tập cầu tiến bộ, luôn tự kiểm điểm để phát triển
điều hay, sửa đổi điều dở của bản thân mình.
Đối với người: không nịnh hót người trên, không xem khinh người dưới,
luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết thật thà, không dối trá, lừa lọc.
Đối với việc: để việc công lên trên, lên trước việc tư, việc nhà.
Chí công vô tư, Người nói: "Đem lòng chí công vô tư mà đối với người, với
việc". “Khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì
mình nên đi sau”; phải "lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ", đặt việc chung lên trên
hết.
Bốn là, tinh thần quốc tế trong sáng, thủy chung. Đó là, tinh thần đoàn kết
quốc tế vô sản, mà Hồ Chí Minh đã nêu lên bằng mệnh đề "Bốn phương vô sản
đạo đức Hồ Chí Minh, chủ trương, chính sách của Đảng, sống và làm việc theo
pháp luật, sống có kỷ cương, nền nếp, có văn hóa trong các mối quan hệ giữa
con người với tự nhiên, với xã hội và giữa con người với nhau.
+ Giáo dục đạo đức cho sinh viên
- Mục đích: Giúp sinh viên nhận thức được các chuẩn mực đạo đức của xã
hội, rèn luyện kỹ năng, hành vi theo các chuẩn mực đó và hình thành thái độ, ý
thức trong sinh viên về đạo đức.
15
- Nội dung: Lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, yêu hoà bình, có tinh
thần cộng đồng và quốc tế, có tinh thần lao động sáng tạo, có thái độ xây dựng
và bảo vệ môi trường
- Phương pháp: Phương pháp tác động vào nhận thức tình cảm: đàm thoại,
tranh luận, kể chuyện, giảng giải, khuyên răn; phương pháp tổ chức hoạt động
thực tiễn: giao việc, rèn luyện, tập thói quen…; phương pháp kích thích tình
cảm và hành vi: thi đua, nêu gương, khen thưởng, trách phạt…
1.2. Những nội dung cơ bản của Tư tưởng Hồ chí minh về giáo dục
đạo đức cho sinh viên
1.2.1.Vị trí, vai trò, tầm quan trọng của sinh viên với sự nghiệp xây
dựng và phát triển đất nước theo quan điểm Hồ chí minh
* Quan điểm của Hồ Chí Minh về sinh viên, thanh niên
Lúc sinh thời Hồ Chí Minh luôn coi thanh niên, sinh viên là lực lượng
rường cột của đất nước, tương lai của dân tộc. Người có niềm tin lớn lao vào các
thế hệ thanh niên,sinh viên và thấy được khả năng sáng tạo to lớn của họ đối với
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Từ nhận thức đó, Hồ Chí Minh thường nói và viết về thanh niên, sinh viên
rất ngắn gọn, đơn giản nhưn rất sâu sắc, mục đích là làm cho mọi thanh niên,
sinh viên đều có thể hiểu và thấy được trách nhiệm của mình để tham gia vào
công cuộ giải phóng dân tộc xây dựng đất nước.
Hồ Chí Minh cho rằng thanh niên có ước mơ, hoài bão, có ý chí và nghị lực,
khát khao với lý tưởng cao đẹp và sẵn sàng xả thân vì nghĩa lớn. Thanh niên, sinh viên
cấp khác nhau nên các sĩ phu yêu nước chưa thấy hết và đánh giá đúng vị trí, vai
trò của thanh niên đối với sự nghiệp cứu nước giải phóng dân tộc.
Được trực tiếp chứng kiến các phong trào yêu nước của dân tộc trong
những năm đầu thế kỷ XX như phong trào Đông Du, Đông Kinh nghĩa thục,
Duy Tân, phong trào chống thuế Trung Kỳ… với sự tham gia đông đảo, nhiệt
tình cùa thanh niên, sinh viên, Hồ Chí Minh đã cảm nhận sâu sắc lòng yêu nước
và khát vọng giải phóng dân tộc của thế hệ trẻ Việt Nam. Ra đi tìm đường cứu
17
nước, Hồ Chí Minh đã mang trong mình niềm tin tưởng sâu sắc rằng, thế hệ trẻ
Việt Nam sẽ kế tục truyền thống của cha anh ta làm cách mạng đánh đuổi thực
dân pháp giải phóng dân tộc, giành độc lập tự do cho Tổ quốc. Khác với các bậc
tiền bối và đương thời, Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, đứng trên
lập trường của giai cấp công nhân, kế thừa và phát triển sáng tạo di sản tư tưởng
tiến bộ của dân tộc và thời đại, với tầm nhìn chiến lược và phương pháp khoa
học người đã đánh giá một cách đúng đắn, khách quan, toàn diện về thanh niên -
sinh viên. Hồ Chí Minh cho rằng sinh viên - thanh niên là một bộ phận quan
trọng của dân tộc, là người chủ nhân tương lai của đất nước.
Ngay từ đầu những năm hai mươi của thế kỉ XX, đất nước còn chìm đắm
trong đêm trường nô lệ. Người đã nhận thấy rằng chỉ có dựa vào thanh niên -
sinh viên mới đủ sức giải phóng dân tộc đem lại độc lập, tự do cho Tổ quốc. Lúc
đó thực dân Pháp đã “nặn ra” những chính sách “ru ngủ” thanh niên, làm họ
quên đi nỗi nhục mất nước. Trong thư gửi thanh niên An Nam Người đã viết:
“Hỡi Đông Dương đáng thương hại! Người sẽ chết mất nếu đám thanh niên sớm
già của Người không sớm hồi sinh” [ 10, tr 01]
Từ nhìn nhận đó, Hồ Chí Minh đã quyết tâm hồi sinh cho thế hệ trẻ. Năm
1923, khi từ giã những người bạn trong Hội liên hiệp thuộc địa, Người đã nói:
“Đối với tôi, câu trả lời đã rõ ràng, trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ,
tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do, độc
lập” [9, tr 192].
Người đã nhận thấy thanh niên – sinh viên là một bộ phận ưu tú của dân
mọi khó khăn gian khổ kể cả hi sinh tính mạng đã cùng với Đảng với dân tộc
làm nên thắng lợi tổng khởi nghĩa cách mạng Tháng Tám 1945. Trong vòng 15
năm đấu tranh cách mạng, 1930 – 1945, đã có hàng ngàn thanh niên, sinh viên
trở thành những cán bộ trung kiên của Đảng, những anh hùng, liệt sĩ anh dũng hi
sinh trong thời kì này hầu hết là tuổi trẻ như: Trần Phú, Lý Tự Trọng, Nguyễn
Đức Cảnh, Nguyễn Văn Cừ, Lê Hồng Phong, Phùng Chí Kiên, Hoàng Văn
Thụ…
19
Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra
đời, thù trong giặc ngoài, cấu kết với nhau hòng tiêu diệt chính quyền non trẻ,
giặc đói, giặc dốt hoành hành. Trong bối cảnh đó, Hôc Chí Minh không những
chỉ ra khả năng to lớn của thanh niên – sinh viên trong cách mạng giải phóng
dân tộc mà còn chỉ ra vai trò và tiềm năng của tuổi trẻ trong sự nghiệp xây dựng
nước nhà.
Hồ Chí Minh chủ trương diệt giặc dốt, thực hiện phong trào bình dân học
vụ và đã đăng kí sắc lệnh thành lập trường Đại học nhân dân để giáo dục thanh
niên. Nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Ciệt Nam dân chủ cộng hòa,
tháng 9 năm 1945, Người đã gửi gắm niềm tin vào thế hệ trẻ: “Non ông Việt
Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh
quang để sánh vai cùng các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ
một phần lớn ở công học tập của các em”[11, tr 33]
Trong quá trình lãnh đạo dân tộc tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp,
chống Mỹ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Hồ Chí Minh
luôn nhấn mạnh vị trí, ai trò xung kích của thanh niên trong hành động cách
mạng, Người chỉ rõ: “việc gì khó có thanh niên, ở đâu khó có thanh niên”. Theo
Hồ Chí Minh sự nghiệp cách mạng càng phát triển thì càng đòi hỏi thanh niên
thực hiện tốt hơn vai trò xung kích của mình. Người nói: “thời đại này là thời
đại vẻ vang của thanh niên. Mà thanh niên phải là những đội xung phog trên các
mặt trận chính trị, kinh tế, khoa học, kỹ thuật”[17, tr 390]
Từ đó lớp lớp thanh niên – sinh viên được đào tạo đông đảo, họ đã góp
của nhân dân, hi sinh lợi ích riêng cho lợi ích chung cua dân tộc” [14, tr 387]
Nếu không giáo dục đạo đức cho thế hệ sau được tốt thì họ có thể không
kế tục được sự nghiệp cách mạng thế hệ trước để lại. Vì vậy, Người coi nhiệm
vụ giáo dục đạo đức cho thanh niên – sinh viên là hết sức quan trọng.
Theo Hồ Chí Minh, việc trồng người ngoài nhiệm vụ quan trọng phục vụ
cho lợi ích cách mạng, còn phải đạt được mục tiêu sâu xa hơn là để mỗi con
21
người tự hoàn thiện mình vươn tới chân, thiện, mỹ. Đó chính là nhân tố then
chốt quyết định sự thành công của cách mạng, sự tiến bộ của xã hội và dân tộc.
Như vậy, thanh niên – sinh viên là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp
cách mạng của Đảng và dân tộc ta là lực lượng quyết định vận mệnh của dân
tộc, sự phát triển của đất nước.
1.2.2. Những nội dung giáo dục đạo đức cho thanh niên - sinh viên.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm chăm lo giáo dục đạo đức
sinh viên để đào tạo họ thành những công dân tốt, cán bộ tốt cho nước nhà. Hồ
Chí Minh cho rằng, sinh viên là những thanh niên có học thức, có ước mơ, hoài
bão; có ý chí và nghị lực, khát khao với lý tưởng cao đẹp và sẵn sàng xả thân vì
nghĩa lớn. Sinh viên là lớp người ở lứa tuổi đôi mươi, đang thời kỳ sung sức; lứa
tuổi ham hiểu biết, khám phá, tự thể nghiệm mình, có khả năng để thực hiện
mục tiêu, lý tưởng cao quý của xã hội. Đồng thời cũng là lứa tuổi có tính nhạy
cảm với cái mới, cái đẹp và cái tiến bộ, mà ít chịu ảnh hưởng của những tiêu cực
và thành kiến của quá khứ. Nhưng sinh viên còn thiếu kinh nghiệm do chưa từng
trải. Chính vì vậy, nếu được giáo dục tốt, phù hợp với tính cách, tâm lý, tạo ra sự
say mê nghề nghiệp, say mê với lý tưởng sống cao đẹp thì họ sẽ phát huy được
tính năng động, sáng tạo họ sẽ có những đóng góp to lớn trong sự nghiệp cách
mạng của của Đảng, của dân tộc. Qua các bài nói, bài viết của Hồ Chí Minh, tư
tưởng giáo dục đạo đức cách mạng cho sinh viên của Người được thể hiện ở các
nội dung chủ yếu sau:
Một là, phải làm cho sinh viên nắm được vị trí, tầm quan trọng của đạo
đức cách mạng đối với mỗi người. Đạo đức là một trong hai thành phần cấu trúc
thờ vua trong bất kỳ điều kiện nào. Hiếu là hiếu với cha mẹ, phải kính trọng
thương yêu và hết lòng phụng dưỡng cha mẹ đền đáp công ơn sinh thành, dưỡng
dục. Khái niệm trung, hiếu đó thể hiện mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân,
được Hồ Chí Minh nâng cao phát triển với ý nghĩa mới, mối quan hệ mới giữa
cá nhân với cộng đồng, quốc gia, mang tính giai cấp công nhân sâu sắc để giáo
dục sinh viên. Trung với nước, hiếu với dân trước hết phải có tinh thần yêu nước
23
nồng nàn, phấn đấu hy sinh vì lợi ích của quốc gia, dân tộc, làm sao cho “dân
giàu, nước mạnh". Đối với sinh viên, trung với nước, hiếu với dân, “trước hết
phải yêu Tổ quốc, yêu nhân dân”. Yêu Tổ quốc, yêu nhân dân không phải là lý
thuyết, siêu hình mà được thể hiện cụ thể, thiết thực trong học tập, tu dưỡng,
trong mọi hoạt động của cuộc sống thường ngày. Nói chuyện với nam nữ
thanh niên, học sinh các trường Trung học ở Hà Nội, Hồ Chí Minh căn dặn: “-
Yêu Tổ quốc: việc gì trái với quyền lợi của Tổ quốc, chúng ta kiên quyết chống
lại.
Yêu nhân dân: việc gì hay người nào phạm đến lợi ích chung của nhân
dân, chúng ta kiên quyết chống lại”[14, tr 398]. Nhiệm vụ quan trọng hàng đầu
của sinh viên là học tập thật tốt, học để nâng cao nhận thức, học để nắm bắt
khoa học kỹ thuật, nắm vững chuyên môn nghiệp vụ. Nhưng mục đích của
học tập tốt cũng nhằm phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân. Đó chính là sự
thể hiện trung với nước, hiếu với dân. Theo Người phải giáo dục cho sinh viên
“luôn luôn nâng cao chí khí cách mạng “trung với nước, hiếu với dân, nhiệm vụ
nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng".
Không sợ khó khăn, gian khổ, hy sinh hăng hái thi đưa tăng gia sản xuất và anh
dũng chiến đấu, xung phong đi đầu trong trong mọi công tác. Theo Hồ Chí
Minh, mỗi sinh viên phải có lòng yêu nước nồng nàn, tuyệt đối trung thành với
Tổ quốc, với giai cấp công nhân; phải căm thù sâu sắc lũ giặc cướp nước và bè
lũ phản động bán nước; phải quyết tâm phấn đấu vì sự nghiệp cách mạng vẻ
vang của Đảng và của dân tộc, đặt lợi ích của Đảng, của giai cấp công nhân, của
dân tộc lên trên hết, trước hết. Người chỉ rõ: "Đạo đức cách mạng là ra sức phấn
đông đảo, trai có, gái có. Các cháu phải thương yêu giúp đỡ nhau như anh em,
chị em; đồng thời phải kính trọng nhau như đồng học, đồng chí”[14, tr 456].
Mỗi sinh viên một quê hương khác nhau, có hoàn cảnh, phong tục tập qúan khác
nhau, tựu trường cùng học tập phải thấu hiểu và giúp đỡ nhau để không ngừng
tiến bộ. Tuy vậy, trong sinh viên vẫn cón sự ganh tị, phân biệt giữa nam và nữ,
chưa thật sự quan tâm giúp đỡ nhau. Nói chuyện tại trường Đại học Sư phạm
Hà Nội (21-10-1964), Hồ Chí Minh nhắc nhở: “Các cháu trai, cháu gái chưa
thật sự coi nhau như anh em, chị em ruột thịt trong nhà. Trái lại, còn có ý
25