1
A. MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, nó chi phối mạnh mẽ mọi mặt của
đời sống con người, trong các quan hệ xã hội ĐĐ (đạo đức) là gốc của mọi sự tốt
đẹp, đặt nền tảng cho mọi công việc như Chủ Tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định:
"Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải
có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo
đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” [44, tr. 252 - 253].
Trong hoàn cảnh toàn cầu hoá nền kinh tế, Việt Nam chính thức trở thành
thành viên của WTO, điều này đã tạo ra một sức sống mới cho sự phát triển kinh tế
của đất nước. Nhưng, ngược lại có nguy cơ cắt đứt mối dây liên hệ với các giá trị
truyền thống của dân tộc. Văn kiện Đại Hội Đảng lần thứ VIII khẳng định: Đi vào
cơ chế thị trường, mở rộng giao lưu quốc tế, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước, tiếp thu những tinh hoa nhân loại song phải luôn coi trong những giá trị
truyền thống và bản sắc dân tộc, quyết không tự đánh mất mình trở thành bóng mờ
hoặc sao chép người khác…. Trong thời gian vừa qua tình trạng suy thoái ĐĐ nói
chung và ĐĐNN (đạo đức nghề nghiệp) nói riêng ở nhiều tầng lớp nhân dân, nhiều
lĩnh vực của đời sống xã hội, nhiều nghành nghề. Đặc biệt ở thế hệ trẻ nói chung và
HS,SV nói riêng đã trở thành một hồi chuông cảnh báo buộc chúng ta những người
làm công tác lí luận và công tác giáo dục không thể làm ngơ.
Vì vậy, Đảng ta đã mở cuộc vận động: “Học tập và làm theo tấm gương ĐĐ
Hồ Chí Minh ” Theo Chỉ thị số 06 -TC/TW ngày 17/11/2006 của Bộ Chính Trị. Tại
hội nghị tổng kết năm học 2006-2007 do Bộ GD - ĐT tổ chức ngày 22-7-2007 tại
Vũng Tàu từ Cuộc vận động “hai không” năm học 2007-2008 của ngành sẽ được
tiếp tục thành cuộc vận động “bốn không”: Nói không với tiêu cực trong thi cử ; nói
không với bệnh thành tích trong giáo dục; nói không với giáo viên không đạt chuẩn
và nói không với học sinh ngồi “nhầm” lớp…với những bước đột phá về nhận thức
của Đảng, Bộ giáo dục sẽ giúp cho công tác giáo dục và giáo dục ĐĐ sẽ có những
3
trên mặt trận tư tưởng và là một nhiệm vụ chính trị của Đảng trong sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ Quốc.
Cùng với sự nghiệp giáo dục của cả nước nói chung, Trường Cao Đẳng LT
TP Đà Nẵng trong những năm qua đã đào tạo được rất nhiều cán bộ, kĩ sư, công
nhân giỏi về chuyên môn và nghiệp vụ đáp ứng được nhu cầu của xã hội. Tuy
nhiên, trong thời gian gần đây, trước sự tác động mạnh mẽ của công cuộc đổi mới
và nhất là cơ chế thị trường nó đã làm ảnh hưởng không nhỏ tới những biểu hiện
tiêu cực trong tư tưởng và lối sống của HS,SV. Đặc biệt, với những ngành nghề
mang tính chất “nhạy cảm” nếu HS,SV không được giáo dục ĐĐNN thì sau khi ra
trường có nhiều điểm đáng lo ngại khi các em bước vào nghề. Việc nhìn nhận đánh
giá đúng tình hình thực tế đã giúp chúng ta sớm đưa ra những biện pháp khắc phục
mặt tiêu cực, phát huy mặt tích cực trong giáo dục ĐĐNN cho HS,SV để sau khi ra
trường các em sẽ trở thành những cán bộ, kĩ sư, công nhân “vừa hồng, vừa chuyên”.
Trên đây là những lí do thôi thúc tác giả chọn đề tài: “ Ý thức ĐĐ và vấn đề
giáo dục ĐĐNN cho HS,SV Trường Cao Đẳng LT - TP Đà Nẵng trong giai đoạn
hiện nay ” làm đề tài luận văn cao học của mình.
2. Tổng quan nghiên cứu đề tài
Trong lịch sử triết học, vấn đề ĐĐ, ý thức ĐĐ, chuẩn mực ĐĐ, giáo dục ĐĐ
là những đề tài được đưa ra bàn luận rất gay gắt. Mỗi trường phái có quan điểm
riêng trên lập trường thế giới quan của họ. Quan niệm về ĐĐ, ý thức ĐĐ và chuẩn
mực ĐĐ, giáo dục ĐĐ của mỗi trường phái tuy khác nhau, chưa được đề cập một
cách toàn diện và giải quyết một cách triệt để, nhưng nhìn chung đã có những đóng
góp nhất định cho nhân loại.
Trong những thập kỷ gần đây có rất nhiều công trình khoa học của nhiều nhà
nghiên cứu trong và ngoài nước bàn về vấn đề này. Ở nước ngoài, các công trình
viết về vấn đề này cũng chiếm một vị trí đáng kể. Đó là các tác phẩm:
- “ P.R.Apecian. ĐĐ và chức năng xã hội cơ bản của nó ”, Nxb khoa học, Mockva
1988.
Sinh viên; Trong tạp chí Triết học số 125 (2001), có bài viết của TS triết học
Nguyễn Văn Phúc: “Vấn đề xây dựng đạo đức nghề nghiệp trong nền kinh tế thị
5
trường ở nước ta hiện nay” tác giả chủ yếu đi sâu phân tích tác động của cơ chế thị
trường đến các hoạt động nghề nghiệp từ đó xây dựng ĐĐ kinh doanh; Hay trong
cuốn sách “PR kiến thức cơ bản và đạo đức nghề nghiệp” TS. Đinh Thúy Hằng
(chủ biên) (2007), Nxb Lao động Xã hội, Hà Nội. Tác giả đi sâu phân tích các đặc
điểm của tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước. Từ đó nêu lên sự cần thiết
của hoạt động chuyên nghiệp PR, và hơn hết là đặt ra các vấn đề về ĐĐNN PR.
Từ những công trình nghiên cứu trên các tác giả đã đề cập tới nhiều khía
cạnh của vấn đề ĐĐ, những giải pháp thiết thực nhằm định hướng cho công tác giáo
dục ĐĐ đối với thế hệ trẻ nói chung và HS,SV nói riêng. Đồng thời, các công trình
trên cũng chính là tài liệu hết sức bổ ích khi nghiên cứu những vấn đề này. Tuy
nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách có hệ
thống về “Ý thức đạo đức và vấn đề giáo dục đạo đức nghê nghiệp cho HS,SV
Trường Cao Đẳng LT - TP Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay” dưới góc độ triết
học ở trình độ luận văn thạc sĩ.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích của luận văn:
Thông qua việc nghiên cứu nội dung cơ bản của ý thức ĐĐ trong lịch sử triết
học để nhằm định hướng giá trị ĐĐ nghề nghiệp đúng đắn cho HS, SV Trường Cao
đẳng LT – TP Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ: Để thực hiện mục đích trên, Luận văn đề ra và giải quyết
những nhiệm vụ sau đây:
- Làm rõ những nội dung cơ bản của ĐĐ, ý thức ĐĐ, giáo dục ĐĐ, giáo dục
ĐĐ và ĐĐNN.
- Đánh giá những thực trạng từ đó đưa ra phương hướng và giải pháp cụ thể
trong việc giáo dục ĐĐNN cho HS,SV Trường Cao đẳng LT -TP Đà Nẵng trong
giai đoạn hiện nay.
Luận văn gồm có 2 chương, 6 tiết (ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục,
Mục lục và Tài liệu tham khảo) 7
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1:
QUAN NIỆM VỀ Ý THỨC ĐẠO ĐỨC TRONG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC
Để xây dựng, rèn luyện ý thức ĐĐNN của HS,SV đòi hỏi chúng ta trước hết
phải hiểu thế nào là ĐĐ, ý thức ĐĐ, chuẩn mực ĐĐ và giáo dục nghề nghiệp,
ĐĐNN? Trên cơ sở đó chúng ta mới có thể đi sâu tìm hiểu thực trạng, phương
hướng và đề ra những giải pháp thực tiễn để xây dựng và rèn luyện ĐĐNN cho
HS,SV trong giai đoạn hiện nay.
1.1 Khái niệm đạo đức và ý thức đạo đức
1.1.1. Khái niệm đạo đức
Với tư cách là một bộ phận của tri thức triết học, những tư tưởng ĐĐ học đã
xuất hiện hơn 26 thế kỷ trước đây trong các trường phái triết học Trung Quốc, Ấn
Độ, Hy Lạp cổ đại. Danh từ ĐĐ bắt nguồn từ tiếng La tinh là mos (moris) có nghĩa
là lề thói, và moralis nghĩa là có liên quan đến lề thói, đạo nghĩa. Còn “luân lí”
thường xem như đồng nghĩa với “ĐĐ” thì gốc ở chữ Hy Lạp là Êthicos nghĩa là lề
thói, tập tục. Hai danh từ đó chứng tỏ rằng, khi ta nói đến ĐĐ, tức là nói đến những
lề thói, tập tục và biểu hiện mối quan hệ nhất định giữa người và người trong sự
giao tiếp với nhau hàng ngày. Sau này người ta thường phân biệt hai khái niệm
moral là ĐĐ, còn Ethicos là ĐĐ học.
Trong quá trình hình thành và phát triển của ĐĐ thì các nhà nghiên cứu đã đưa
ra rất nhiều định nghĩa về ĐĐ, dưới đây là một trong hai định nghĩa được nhiều nhà
nghiên cứu chấp nhận đó là:
Theo Tầm nguyên từ điển viết: Đạo là nhiều tài nghệ, đức là tu hạnh tột cùng,
thức chính trị của họ đối với các vấn đề đang tồn tại.
Còn trong thời đại ngày nay thì ĐĐ được xem xét ở ba phương diện chủ yếu sau:
Thứ nhất, ĐĐ với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, bao gồm toàn bộ
những quan điểm, nguyên tắc, chuẩn mực nhằm điều chỉnh đánh giá cách ứng xử
trong quan hệ con người với con người, con người với xã hội nhằm bảo đảm quan
9
hệ lợi ích của cá nhân và cộng đồng.
Thứ hai, ĐĐ là phương thức điều chỉnh hành vi của con người mà những
chuẩn mực (khuôn phép) và quy tắc ấy lại là những yêu cầu của xã hội hoặc của
một giai cấp nhất định nhằm điều chỉnh mỗi hành vi của cá nhân trong quan hệ với
nhau và với xã hội. Những chuẩn mực và quy tắc, hành vi nhất định được công luận
xã hội, hay của một giai cấp, dân tộc thừa nhận, hướng dẫn các cá nhân hoạt động
trong khuôn khổ được phép và tránh những hành vi không được phép.
Thứ ba, ĐĐ là một hệ thống giá trị: đó là các giá trị vật chất tinh thần, giá trị
sản xuất và tiêu dùng, các giá trị chính trị - xã hội, nhận thức, ĐĐ, thẫm mỹ, tôn
giáo.
1.1.2. Chuẩn mực đạob đức
Từ những nghiên cứu trên cho thấy ĐĐ còn liên quan chặt chẽ đến các giá trị
chuẩn mực của cá nhân, làm cơ sở cho các hành vi và những lựa chọn ĐĐ của một
cá nhân trong tình huống cụ thể. Theo Học viện vì sự tiến bộ của ĐĐ Josenphson
cho rằng: “Những giá trị ĐĐ được đánh giá là cần thiết đối với cuộc sống là tính
trung thực, tính chính trực, sự giữ lời hứa, lòng trung thành, tính thẳng thắn, sự
quan tâm đến người khác, tôn trọng đến người khác, một công dân có trách nhiệm,
mưu cầu sự xuất sắc và có trách nhiệm giải trình” (Học viện Josephson 2003)
ĐĐ với tư cách là một hình thái ý thức xã hội là tổng số các nguyên tắc, các
quy tắc định hướng hành vi con người trong giao tiếp xã hội. Những nguyên tắc và
quy tắc ấy là sự biểu hiện những quan hệ hiện thực xác định của con người với
nhau, những cộng đồng người khác nhau như (gia đình, giai cấp và dân tộc…).
Về bản chất, ĐĐ thực chất là những hành vi của con người trong đời sống
là trách nhiệm, dục vọng của cá nhân và cùng với đó là cộng đồng xã hội thông qua
các chuẩn mực xã hội, tập quán ĐĐ, các quy phạm pháp luật và niềm tin. Những
chuẩn mực ấy gắn với các chủ thể khác nhau cùng tồn tại trong xã hội.
Trong quá trình phát triển của lịch sử loài người, của đời sống con người,
chuẩn mực ĐĐ như một hệ thống phát triển biện chứng, biến đổi cùng với sự phát
triển của các mối quan hệ xã hội. Theo thời gian có những chuẩn mực nó mất ý
11
nghĩa, biến dạng, nhưng cũng có những chuẩn mực tiếp tục phát triển, đổi mới và
nó được coi là bộ luật của xã hội, chi phối và quyết định hành vi ĐĐ của con người.
Các chuẩn mực ĐĐ giúp con người hiểu được rằng, trong cuộc sống có những việc
có thể làm được, có những việc không nên làm giúp con người nên hành động như
thế nào, điều đó con người lại phải tự kiềm chế…Nghĩa là nó làm cho con người khi
hành động phải tuân theo những yêu cầu, những ràng buộc hoặc những điều ngăn
cấm của xã hội. Tuy nhiên việc tuân theo những chuẩn mực ĐĐ khác với việc tuân
thủ pháp luật. Trong ĐĐ việc hành động theo các chuẩn mực là do sự tự nguyện,
hay nói cách khác, “ Các chuẩn mực đạo đức phản ánh tính tất yếu đạo đức mà
không có các sắc luật đặc biệt để hợp pháp hoá sự hoạt động của nó” [40, tr.46].
Ngược lại, pháp luật được ấn định dưới dạng các sắc luật do nhà nước ban hành.
Mặt khác, chủ thể của sự sáng tạo các chuẩn mực trong luật pháp bao giờ cũng được
xác định dưới dạng người sáng tạo ra luật pháp; còn chủ thể của việc sáng tạo ra các
chuẩn mực ĐĐ là toàn thể xã hội. Và nếu như trong ĐĐ, tự ý thức của con người
hoặc dư luận xã hội bảo đảm cho việc tuân thủ các chuẩn mực thì trong luật pháp,
ngoài điều đó ra, việc tuân thủ các chuẩn mực được bảo đảm bởi một hệ thống
cưỡng chế của nhà nước.
Như vậy, chuẩn mực ĐĐ còn gọi là ( giá trị ĐĐ) là những phẩm chất ĐĐ có
tính chất chuẩn mực, được nhiều người thừa nhận, được dư luận xác định như một
đòi hỏi khách quan, là thước đo giá trị cần có ở mỗi người. Những chuẩn mực ĐĐ
ấy được coi như là mục tiêu giáo dục, rèn luyện ở mỗi người, ở nhiều bậc học, cấp
học, lứa tuổi, ngành nghề. Đồng thời, chuẩn mực ĐĐ đó lại có giá trị định hướng,
chi phối, chế ước quá trình nhận thức, điều chỉnh thái độ, hành vi của mỗi người.
nhân. Hành vi ĐĐ được điều chỉnh bằng lương tâm và dư luận xã hội, bằng truyền
thống. Còn hành vi pháp luật được điều tiết bằng cơ chế quản lý và giám sát của cơ
quan chức năng.
1.1.3. Ý thức đạo đức
Khi nghiên cứu ĐĐ chúng ta đều biết rằng, mỗi hành động ĐĐ đều xuất phát
từ những cơ sở nhất định của một ý thức ĐĐ. Trên cơ sở của ý thức ĐĐ, chủ thể
13
hành động đưa ra những nhận định và phán quyết của mình cho một sự kiện cần
phải có sự đánh giá về mặt ĐĐ. Do vậy, việc hiểu những cơ sở ý thức đó là gì và
bản chất của nó như thế nào? Đó là điều có ý nghĩa quan trọng trong việc định
hướng xây dựng, đồng thời giúp chúng ta có được những lí giải về rất nhiều vấn đề
ĐĐ phức tạp trong thực tiễn, nhất là trong bối cảnh phức tạp của một giai đoạn đang
có sự chuyển đổi những giá trị ĐĐ ở nước ta khi bước vào cơ chế thị trường, toàn
cầu hoá kinh tế tri thức và hội nhập thế giới.
Trong lịch sử tư tưởng ĐĐ đã có nhiều quan điểm khác nhau về cơ sở ý thức
của ĐĐ. Trong số những quan điểm khác nhau đó, nổi lên hai khuynh hướng đối lập
nhau giữa một bên đề cao tình cảm, xúc cảm và một bên là lý trí trong ý thức ĐĐ.
Theo quan điểm thứ nhất, G. Rutxô cho rằng khởi nguyên của ý thức là tình thương.
Đối với ông, tình thương là loại tình cảm nguyên thuỷ của “ con người tự nhiên ”,
và chính sự mở rộng tình thương nguyên thuỷ này sẽ tạo nên cơ sở ĐĐ của xã hội.
Coi tình thương là hiện tượng thứ nhất của ĐĐ, là đầu nguồn của những nghĩa vụ
pháp lý nghiêm ngặt và nghĩa vụ ĐĐ, là ngọn nguồn của chính nghĩa lẫn lòng nhân,
ông đã cho rằng nhờ có tình cảm nguyên thuỷ này mà con người mở rộng lòng độ
lượng, khoan dung, nhân ái với những kẻ yếu, những người phạm tội và cả loài
người nói chung.
ĐĐ là sự thống nhất biện chứng giữa ý thức về hệ thống những nguyên tắc,
chuẩn mực, hành vi phù hợp với những quan hệ ĐĐ, nó đều có những ranh giới của
hành vi và những quan hệ ĐĐ đang tồn tại. Mặt khác, nó còn bao trùm cả những
cảm xúc, những tình cảm ĐĐ con người. Trong quan hệ giữa người và người về mặt
ĐĐ đều có những ranh giới của hành vi và giá trị ĐĐ. Đó là ranh giới giữa cái thiện
ĐĐ, hành vi ĐĐ và quan hệ ĐĐ.
Như vậy, ý thức phản ánh lĩnh vực nào của xã hội? Với tư cách là một hình
thái ý thức, ĐĐ không là kết quả riêng biệt của bất kỳ một tác động nào, mà tính
phức tạp và thống nhất của hiện tượng cũng như biện chứng của sự phát triển của
nó luôn đặt ra và gắn liền với chính các tác động đa tầng và đa hướng đó. Nhưng
vấn đề đặt ra là: vậy phải chăng trong sự hình thành và phát triển của ĐĐ, các yếu
15
tố đã tác động vào xã hội khác nhau đều mang vai trò và ý nghĩa như nhau? Về thực
chất chúng bao gồm những yếu tố nào? Về vấn đề này theo sự nhận định của các tác
giả Xô viết trong công trình “đạo đức học macxit ” là tương đối hợp lý đó là: Sự
hình thành và phát triển của ĐĐ ở đây được xác định gắn liền với các yếu tố là
hướng vận động của các lợi ích hiện có trong xã hội; là hệ thống các giá trị ĐĐ
đang tác động; là sự thay đổi các tình huống của sự lựa chọn ĐĐ (chẳng hạn sự thay
đổi các chuẩn mực trong cách mạng khoa học kỹ thuật); là sự tác động của các
phương tiện điều chỉnh xã hội khác (quy định của pháp luật, các thiết chế hành
chính ); là điều kiện giao tiếp, dư luận xã hội, kinh nghiệm ĐĐ cá nhân; là trạng
thái tâm lý xã hội; là sự tác động của các yếu tố trong lĩnh vực văn hóa tinh thần:
khoa học, nghệ thuật, tôn giáo… Và xét đến cùng đó là sự tự quy định của các điều
kiện kinh tế, xã hội. Trong hệ thống các yếu tố kể trên thì sự tác động của các lợi
ích được coi là một trong những yếu tố có vai trò trực tiếp và gần gũi nhất trong
việc tạo ra các định hướng ĐĐ ở con người.
Tóm lại: Ý thức ĐĐ như ở trên chúng ta đã xem xét, con người không thể
sống bên ngoài các mối quan hệ xã hội. Cốt lõi của những mối quan hệ đó là tương
quan của những quyền lợi cá nhân và những quyền lợi cộng đồng. Để tồn tại, con
người phải dựa vào nhau trên cơ sở những lợi ích cá nhân phải phù hợp với những
lợi ích của cộng đồng. Những nguyên tắc bảo đảm cho sự phù hợp của những quyền
lợi ấy khi đã trở thành tình cảm, quan điểm, quan niệm sống chính là ý thức ĐĐ.
1.2. Quan điểm về đạo đức trong lịch sử triết học
Trong lịch sử triết học, vấn đề ĐĐ và giáo dục ĐĐ luôn được các nhà triết
học quan tâm sâu sắc kể cả triết học Phương Đông và triết học Phương Tây. Nhưng
trước để lại cho con cháu”. Theo Khổng Tử làm người thì phải “khắc kỷ tu thân”,
có nghĩa là để đạt được đức con người phải tu dưỡng, phải hoàn thiện về mặt ĐĐ,
làm những việc chính đáng mà không gượng ép, đây cũng chính là hạnh kiểm của
nhân cách con người.
Trong hệ thống triết học Trung Quốc nói chung, đều lấy ĐĐ – luân lý làm
nội dung chủ yếu cho các luận thuyết, xem nó là yếu tố chi phối toàn bộ đời sống
17
tinh thần của xã hội, thậm chí luân lý còn nằm trong cả vạn vật. Vì vậy, những
nguyên tắc ĐĐ được xem như là “khuôn vàng, thước ngọc” [74, tr. 66] để đánh giá
con người và vạn vật. Trong cuộc sống con người phải “tồn kỳ tâm, dưỡng kỳ tính”,
có nghĩa là phải rèn luyện ĐĐ, nhân cách. Khi có được phẩm chất ĐĐ cao đẹp thì
lúc đó con người không chỉ biết mình mà còn biết được cả thiên hạ, sẵn sàng chấp
nhận gian khổ, hy sinh để đạt được luân lý - ĐĐ và khi đó sẽ được xã hội đánh giá
cao. Mặc dù, ở một khía cạnh nào đó quan niệm trên có ý nghĩa tích cực trong việc
điều chỉnh hoạt động ĐĐ của con người, xây dựng mẫu hình nhân cách lý tưởng
cho thời đại, nhưng xét về góc độ triết học các quan niệm về ĐĐ, đạo lý của triết
học Trung Quốc cổ đại với hạn chế là: đều mang tính chất duy tâm và quá đề cao
ĐĐ - luân lý, coi đây là phương thức chủ yếu để xây dựng xã hội. Nhưng, trong xã
hội đương thời hay ngay cả thời đại hiện nay thật khó khi chỉ dùng ĐĐ, luân lí để
điều chỉnh, xây dựng trật tự xã hội mà không cần đến những quy định của pháp luật.
Trong triết học Kitôgiáo, dựa vào Kinh thánh đã khẳng định ĐĐ có nguồn
gốc từ thượng đế. Trong vũ trụ bao la này, con người là thực thể duy nhất có khả
năng điều chỉnh hành vi của mình thông qua sự cảm nhận về ý nghĩa của hành vi.
Đó không phải là kết quả hợp thành từ thực tiễn sinh tồn của con người mà là sự
mặc định sẵn bởi Thiên chúa. Con người là hình ảnh của chúa nhưng là một hình
ảnh không hoàn chỉnh, vì con người đã tự đánh mất cái chân, thiện, mỹ vĩnh cửu,
những tặng vật của Thiên chúa chỉ có ban cho con người và trong quá trình sáng tạo
ra muôn loài, do không vâng lời Chúa nên đã phạm “tội tổ tông”. Chính vì thế, ĐĐ
ở trần gian và ĐĐ của loài người tuy cùng cái tâm nhưng có khác biệt với ĐĐ của
Đức chúa. Theo quan niệm của Kitôgiáo, cuộc sống của con người trên hành tinh
khi dùng lăng kính của tôn giáo để thay thế cho thế giới quan khoa học, và vẫn xa
rời thực tiễn của cuộc sống con người.
1.2.2. Quan điểm triết học Phương Tây về đạo đức
Ngay từ thời cổ đại, các nhà triết học Phương Tây kể cả trường phái duy vật và
duy tâm, đều bàn về ĐĐ, khác với ở Phương Đông họ coi ĐĐ là nội dung chủ yếu
trong các học thuyết chính trị - xã hội, và là khuôn mẫu để cả xã hội tuân theo thì ở
19
Phương Tây, ĐĐ được bàn đến như là một bộ phận của hệ thống triết học, có mối
quan hệ mật thiết với triết học.
Khi bàn về ĐĐ, Democrit (460-370 TCN) nhà triết học cổ đại Hy lạp đã cho
rằng: ĐĐ đã trở thành nhân tố quyết định đời sống của con người, chính vì thế mà khi
đứng trên lập trường duy vật thì ông lại tìm thấy đúng đối tượng nghiên cứu của ĐĐ
học là cuộc sống của con người, ông viết: “Cuộc sống, hành vi, số phận của mỗi con
người cụ thể là đối tượng nghiên cứu của ĐĐ học và để nhận biết một người trung
thực và nhận biết một người không trung thực, không những căn cứ vào việc làm của
họ mà còn phải căn cứ vào ý muốn của họ” [ 36, tr.65] .
Với luận điểm nổi tiếng “con người hãy nhận thức chính mình”, Socrate đã bàn
nhiều vấn đề liên quan đến con người trong đó có ĐĐ. Ông cho rằng, ĐĐ không phải
tự nó có mà phải do mỗi con người tự ý thức, mà muốn có điều này thì phải có tri
thức. Vì vậy, tri thức là cái cốt lõi của ĐĐ, tri thức chính là cái thiện. Còn Aristote thì
cho rằng, ĐĐ là cái vốn có của con người, sống trong xã hội con người phải tuân theo
những quy tắc, để hướng tới cái cao cả, cái thiện: “Chúng ta không bất tử, song
chúng ta không nên phục tùng những điều xấu xa mà hãy vươn tới sự bất tử sống phù
hợp với những gì tốt nhất ở nơi ta, ta đang có” [36, tr. 68]. Theo Aristote, phẩm
hạnh là cái quan trọng nhất của ĐĐ, phẩm hạnh có được một mặt là do kết quả của
giáo dục khi con người có tri thức, mặt khác, kinh nghiệm còn là “con đẻ” của thói
quen, tập quán. Như vậy, Aristote đã nhìn thấy ảnh hưởng của hoàn cảnh đối với sự
hình thành ĐĐ, nhân cách của con người, và nhân cách đó không chỉ thuần tuý phụ
thuộc vào sự tác động của hoàn cảnh mà còn phụ thuộc vào khả năng con người tiếp
nhận nó như thế nào. Tuy nhiên, đứng trên lập trường giai cấp chủ nô, ông lại biện
ảo giác của nhà siêu hình học. Khi xét về bản chất của mối quan hệ giữa ĐĐ và tôn
giáo, ông vẫn đánh giá cao vai trò của ĐĐ, ông cho rằng tôn giáo dựa trên ĐĐ, chứ
không phải ĐĐ dựa trên tôn giáo.
Là một nhà triết học duy lý ông cho rằng, chỉ có lý tính mới có thể kìm nén
và hạn chế các nhu cầu cảm tính, bởi những nhu cầu này sẽ đưa con người tới sự
hưởng thụ cá nhân, thực hiện những hành vi phi ĐĐ, ích kỷ. Ông cũng cho rằng,
21
nguyên tắc ĐĐ là phải tuân theo mệnh lệnh tuyệt đối và chính mệnh lệnh này sẽ
hướng con người vào hoạt động cộng đồng, tôn trọng bản thân, tôn trọng người
khác, sống đúng với trách nhiệm công dân trong xã hội. Phạm trù trung tâm của ĐĐ
học của Kant là phạm trù “Tự do”, tự do đó chính là sự bất diệt của linh hồn, là
những chuẩn mực lý tưởng mà con người phải luôn hướng tới, tự do cũng chính là
niềm tin để con người thực hiện các nguyên tắc và chuẩn mực ĐĐ.
Trong hệ thống triết học của Kant, các quy tắc ĐĐ có quyền uy tối thượng, là
mệnh lệnh tuyệt đối mà con người phải tuân theo. Bởi theo ông, nhiệm vụ của triết
học không gì khác hơn là phải giải quyết các vấn đề mà con người băn khoăn, trăn
trở trong suốt quá trình tồn tại của mình. Tuy nhiên, so với các nhà triết học duy
tâm chủ quan thời bấy giờ, quan điểm ĐĐ của Kant có những nhân tố hợp lý nhưng
khi lý giải bản chất của vấn đề ông vẫn chưa thoát được khỏi ngưỡng thời đại mà
ông đang sống, mặc dù ông có đề cao vai trò của chủ thể ĐĐ thì ĐĐ cũng mới chỉ
là điểm hội tụ của kinh nghiệm mà thôi.
Tuy thấm đượm tính nhân văn sâu sắc, lên án chế độ phong kiến, hướng con
người tới một xã hội tốt đẹp hơn, mong muốn cuộc sống tự do cho con người, v.v
…nhưng những quan niệm của Kant đã thể hiện lập trường duy tâm rõ rệt, thể hiện
tính phi lịch sử, phi giai cấp, thiếu cơ sở thực tiễn trong các quan niệm về ĐĐ.
Hegel (1770-1831) nhà triết học Đức và là đỉnh cao của chủ nghĩa duy tâm
khách quan trước Mác. Mặc dù có thế giới quan duy tâm, nhưng ông vẫn được lịch
sử tư tưởng thế giới thừa nhận là một nhà biện chứng lỗi lạc. Hệ thống triết học của
ông được coi là một hệ thống quan trọng để hình thành triết học Mác.
Nếu như Platon cho rằng ĐĐ của con người là sự mô phỏng ý niệm thiện thì
quan niệm của ông cũng vẫn chỉ là năng lực bẩm sinh. Engel đã nhận xét:
Tình yêu luôn luôn và bất cứ ở đâu, đối với Feurbach cũng là ông thần có lắm
phép lạ…và điều đó có ở cả trong xã hội đã phân chia thành các giai cấp với
những quyền lợi hoàn toàn đối lập nhau. Do đó mà những di tích cuối cùng
của tính chất cách mạng đã biến khỏi triết học của ông và chỉ còn lại bài hát
cổ: Hãy yêu nhau đi, hãy hôn nhau đi không không phân biệt trai gái và địa vị.
23
Thật say sưa hoà thuận khắp nơi [ 27, tr. 365 ].
Tóm lại, những quan điểm về ĐĐ trong lịch sử triết học, tuy được rất nhiều
các nhà triết học bàn đến nhưng những quan niệm đó vẫn mang đậm tính chất duy
tâm, họ cho rằng ĐĐ là cái nằm ngoài và là cái có trước con người và nó tách ra
khỏi đời sống thực tiễn, xã hội của con người và không mang tính khoa học. Để
khắc phục những hạn chế của các nhà triết học trong lịch sử về vấn đề ĐĐ thì đây là
nhiệm vụ của triết học Mác – Lênin.
1.2.3. Quan điểm triết học Mác – Lênin về đạo đức
Từ những quan điểm triết học trước Mác về ĐĐ đã cho chúng ta thấy rằng dù
là quan điểm triết học duy tâm hay duy vật về ĐĐ đều rơi vào quan niệm duy tâm
khi xem xét vấn đề xã hội và ĐĐ. Họ không thấy được tính quy định của nhân tố
kinh tế đối với sự vận động của xã hội nói chung và ĐĐ nói riêng. Do vậy, với tính
cách là một lĩnh vực hoạt động đặc thù của con người và xã hội, ĐĐ được nhìn
nhận một cách tách rời bởi cơ sở kinh tế - xã hội sinh ra và quy định nó. Các nhà
triết học cho rằng, ĐĐ trước Mác đã tìm nguồn gốc, bản chất của ĐĐ hoặc ở ngay
chính bản tính của con người, hoặc ở một bản thể siêu nhiên bên ngoài con người,
bên ngoài xã hội. Nét chung của các lý thuyết này là không coi ĐĐ phản ánh cơ sở
xã hội và hiện thực khách quan.
Các nhà triết học, thần học coi con người và xã hội chẳng qua chỉ là những
hình thái biểu hiện cụ thể khác nhau của một đấng siêu nhiên nào đó. Những chuẩn
mực ĐĐ, do vậy là những chuẩn mực do thần thánh tạo ra để răn dạy con người.
Mọi biểu hiện ĐĐ của con người do vậy đều là sự thể hiện cái thiện tối cao từ đấng
siêu nhiên và tiêu chuẩn tối cao để thẩm định cái thiện, cái ác chính là sự phán xét
thực tiễn, chứ không phải con người thuần túy ý thức hay con người sinh học, hai
ông đi đến quan niệm về phương thức sản xuất quyết định đối với toàn bộ các hoạt
động của con người, xã hội loài người. Trong “Lời tựa” của tác phẩm “Góp phần
phê phán chính trị - kinh tế học”, Mác viết: “Phương thức sản xuất đời sống vật
chất quyết định quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói chung. Không
phải ý thức của con người quyết định sự tồn tại của họ; trái lại chính sự tồn tại xã
25
hội của họ quyết định ý thức của họ” [28, tr.15]. Luận điểm này chính là chìa khóa
để khám phá tất cả các hiện tượng xã hội trong đó có ĐĐ.
Như vậy, ĐĐ không phải là sự biểu hiện của một sức mạnh nào đó ở bên
ngoài xã hội, bên ngoài các quan hệ con người; cũng không phải là sự biểu hiện của
những năng lực “tiên thiên”, nhất thành bất biến của con người mà với tư cách là sự
phản ánh tồn tại xã hội, ĐĐ là sản phẩm của những điều kiện sinh hoạt vật chất của
xã hội và cơ sở kinh tế. “Xét cho cùng, mọi học thuyết về ĐĐ đã có từ trước đến
nay đều là sản phẩm của tình hình kinh tế của xã hội lúc bấy giờ” [ 29, tr. 137].
Những phong tục ĐĐ của người nguyên thủy được thể hiện trong đời sống
của xã hội văn minh, là sản phẩm của hoạt động thực tiễn và các hoạt động nhận
thức của xã hội đó. Mà, sự phát triển từ phong tục ĐĐ của người nguyên thủy đến ý
thức ĐĐ của xã hội văn minh là kết quả của sự phát triển từ thấp đến cao của hoạt
động thực tiễn và hoạt động nhận thức của con người.
Xã hội Cộng sản nguyên thủy là bước đầu tiên con người thoát khỏi trạng
thái động vật. Hoạt động thực tiễn của xã hội hết sức thấp kém, chưa tạo nên sản
phẩm thặng dư, và do đó, tư hữu và chế độ tư hữu chưa có tiền đề khách quan để
xuất hiện. Trong xã hội chưa có hiện tượng áp bức xã hội, nhưng con người vẫn bị
nô dịch bởi những lực lượng tự phát của tự nhiên. Tuy nhiên, xã hội nguyên thủy đã
đem lại nội dung “ngây thơ”, “thuần phác” nhưng “tốt đẹp thơ mộng” cho ĐĐ
người nguyên thuỷ. ĐĐ này chưa biết nói đến thói xấu, cái ác trong xã hội văn minh
vì đây là “ý thức bầy đàn đơn thuần” của “bản năng được ý thức”. Ý thức ĐĐ chưa
tách ra thành hình thái độc lập mà ĐĐ của con người nguyên thuỷ là hình thái sinh
thành trừu tượng của ĐĐ và không có tính duy lý.