BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-------
-------
NGÔ HẢI TIẾN
ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP VÀ GIẢI QUYẾT
VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN HUYỆN VĂN GIANG
TỈNH HƯNG YÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, NĂM 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-------
-------
NGÔ HẢI TIẾN
giám hiệu trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội nay là Học viện Nông nghiệp
Việt Nam, khoa Kế toán và Quản trị kinh doanh; cảm ơn các thầy, cô giáo đã
truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập và
nghiên cứu.
Nhân dịp này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới TS Phạm Thị
Minh Nguyệt- người đã dành nhiều thời gian, tạo điều kiện thuận lợi, hướng
dẫn về phương pháp khoa học và cách thức thực hiện các nội dung của đề tài.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, người thân, cơ quan, bạn bè
đồng nghiệp và các anh chị em học viên lớp Quản trị kinh doanh C – K21 đã chia
sẻ, động viên, khích lệ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện
luận văn này.
Hà Nội, ngày 31 tháng 12 năm 2014
Tác giả luận văn
Ngô Hải Tiến
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page ii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
i
LỜI CAM ĐOAN
i
2
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
2
1.3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu
3
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu
3
PHẦN II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
4
2.1. Cơ sở lý luận
4
2.1.1. Một số khái niệm liên quan
4
Page iii
PHẦN III. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
3.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
21
3.1.1.Vị trí địa lý
21
3.1.2. Tình hình phân bổ sử dụng đất đai của Văn Giang
22
3.1.3. Tình hình dân số và lao động
24
3.1.4. Tình hình cơ sở vật chất kỹ thuật
25
3.2. Phương pháp nghiên cứu
27
3.2.1. Phương pháp thu thập tài liệu
42
4.1.4. Những nhân tố ảnh hưởng đến định hướng nghề nghiệp và giải quyết
việc làm cho thanh niên
49
4.2. Giải pháp định hướng nghề nghiệp và giải quyết việc làm cho thanh
niên ở huyện văn Giang.
55
4.2.1. Giải pháp định hướng nghề nghiệp
55
4.2.2. Giải pháp nhằm giải quyết việc làm cho thanh niên huyện Văn Giang
58
PHẦN V. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
70
5.1. Kết luận
70
5.2. Kiến nghị
Đại học, cao đẳng
6. GD
Giáo dục
7. GDTX
Giáo dục thường xuyên
8. HTX
Hợp tác xã
9. HS
Học sinh
10. KHKT
Khoa học kỹ thuật
11. LĐTB&XH
Lao động thương binh và xã hội
12. LLLĐ
Lực lượng lao động
Sản xuất kinh doanh
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page v
DANH MỤC BẢNG
STT
Tên bảng
Trang
3.1 Tình hình sử dụng đất đai của huyện qua 3 năm từ 2011 – 2013
23
3.2 Tình hình dân số và lao động của huyện Văn Giang
24
3.3. Hiện trạng hệ thống giao thông cuả huyện
26
3.4 Tình hình sản xuất kinh doanh của huyện
27
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vi
PHẦN I. MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Thanh niên là lực lượng lao động lớn của xã hội và là nguồn lực quan
trọng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trước yêu cầu
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế và sự biến
đổi nhanh chóng của lực lượng thanh niên cũng như yêu cầu của công tác
chăm lo, bồi dưỡng và phát huy vai trò, sức mạnh của thanh niên trong thời
kỳ mới, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Thanh niên Việt Nam nói chung và thanh niên Văn Giang nói riêng luôn
coi trọng vấn đề phát triển nghề nghiệp là một trong những yếu tố quan trọng
nhằm góp phần vào sự phát triển chung của vùng. Thế nhưng trước yêu cầu
của thời đại, thanh niên Văn Giang luôn ra sức phấn đấu lao động để hướng
tới tương lai tốt đẹp. Điều đó đòi hỏi thanh niên phải có nghề nghiệp ổn định
trong tầm tay thì mới có thể góp sức của mình phát triển kinh tế - xã hội của
huyện Văn Giang nói chung được. Thế nhưng vấn đề lựa chọn nghề nghiệp
cho mình đang trở thành vấn đề bất cập của thanh niên Văn Giang hiện nay.
Nghề nghiệp luôn được coi là một trong nhiều yếu tố quan trọng quyết
định tương lai của mỗi con người. Vì thế lựa chọn cho mình một ngành nghề
phù hợp là vấn đề được nhiều bạn trẻ quan tâm, đặc biệt là thanh niên. Trong
xã hội hiện nay, thanh niên có rất nhiều lựa chọn cho mình để tìm một công
việc, đó có thể là những công việc lao động chân tay, cũng có thể là những
công việc đòi hỏi phải có trình độ chất xám, …. Mỗi ngành nghề lại có một
đặc thù riêng. Vậy họ sẽ lựa chọn như thế nào?
Trong quá trình lựa chọn ngành nghề cho mình có nhiều yếu tố tác động
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu để định hướng và giải quyết việc
làm cho thanh niên ở huyện Văn Giang , tỉnh Hưng Yên.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 2
1.3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu
Thanh niên bao gồm:
- Thanh niên trong độ tuổi học phổ thông
- Thanh niên nông thôn
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu
1.3.2.1. Phạm vi về thời gian: nguồn số liệu phục vụ đề tài được thu thập
giai đoạn 2011 – 2013. Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra, phỏng
vấn thanh niên, hộ gia đình thanh niên, mạng lưới tạo việc làm, các cơ quan
năm 2014.
1.3.2.2. Phạm vi về không gian
Tiến hành nghiên cứu trên địa bàn huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.
1.3.2.3. Phạm vi nội dung
Nghiên cứu thực trạng hướng nghiệp và việc làm cho thanh niên huyện
Văn Giang, tỉnh Hưng Yên từ đó đề xuất giải pháp hướng nghiệp và giải
quyết việc làm cho thanh niên.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 3
Các phân môn kỹ thuật phục vụ giới thiệu cho học sinh ngành dệt, nghề may,
chế biến thực phẩm, các nghề thuộc lĩnh vực phục vụ ...
Để tiến hành hướng nghiệp qua các môn học, các nhà trường phải cải
tiến phương pháp giảng dạy, tăng cường thực hành môn học, kết hợp giảng
dạy với lao động sản xuất, tổ chức tham quan, xây dựng phòng bộ môn...
Phải chấn chỉnh tình hình giảng dạy kỹ thuật hiện nay, tăng cường đào
tạo và bồi dưỡng nâng cao chất lượng của giáo viên giảng dạy kỹ thuật; kết
hợp với các cơ sở sản xuất tạo điều kiện cho nhà trường có thể tổ chức thực
hành kỹ thuật, có công nhân lành nghề và cán bộ kỹ thuật giúp đỡ nhà trường
trong giảng dạy kỹ thuật.
b) Hướng nghiệp qua hoạt động lao động sản xuất:
Tổ chức lao động sản xuất trong nhà trường là biện pháp rất quan trọng
để thực hiện công tác hướng nghiệp. Qua lao động sản xuất, giáo dục quan
điểm, thái độ, ý thức lao động cho học sinh; trên cơ sở đó giáo dục ý thức
đúng đắn đối với nghề nghiệp, tạo điều kiện cho học sinh tiếp xúc với nghề và
lao động trong các dạng nghề nghiệp khác nhau, phát triển hứng thú, năng lực
của học sinh đối với một vài dạng lao động nhất định, hướng dẫn học sinh lựa
chọn nghề nghiệp phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế và phù hợp với năng
lực của bản thân.
Trong thời gian tới, các trường cần tích cực tổ chức hướng dẫn học sinh
lao động sản xuất, chấm dứt những hình thức lao động tuỳ tiện, gắn nội dung
lao động với phương hướng sản xuất và các nghề đang cần phát triển. Các
trường vừa học vừa làm càng phải cần nâng cao chất lượng học lao động và
có tác dụng thực sự hướng nghiệp.
Ở vùng nông thôn cần chú trọng ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư
nghiệp, tiểu thủ công như các nghề trồng trọt, chăn nuôi (trồng cây lương
thực, cây lấy gỗ, cây thuốc nam, xây dựng vườn cây Bác Hồ, ao cá Bác Hồ,
chăn nuôi gia cầm, gia súc ...); nghề phổ biến như mộc, nề, rèn, cơ khí ...;
nhằm phát triển hứng thú học tập và hứng thú nghề nghiệp của học sinh. Đối
với những học sinh có xu hướng và năng khiếu về các ngành nghề thuộc lĩnh
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 6
vực nghiên cứu khoa học, văn hoá, nghệ thuật, hoạt động xã hội, cũng cần
phát hiện và tổ chức các tổ ngoại khóa bộ môn để bồi dưỡng.
- Tổ chức xây dựng góc hoặc phòng hướng nghiệp.
- Kết hợp với đoàn thanh niên và đội thiếu niên tổ chức những buổi toạ
đàm hướng dẫn học sinh lựa chọn nghề, vận động nam nữ thanh niên đi vào
những nghề Nhà nước, địa phương đang cần nhiều nhân lực.
- Kết hợp với hội cha mẹ học sinh giúp đỡ, chỉ dẫn sự chọn nghề cho
học sinh.
- Phối hợp với các cơ sở sản xuất ở địa phương tạo điều kiện cho học
sinh tham quan cơ sở sản xuất, giới thiệu các nghề và có thể tổ chức cho học
sinh tham gia lao động nghề nghiệp.
2.1.3. Việc làm và thất nghiệp
2.1.3.1. Việc làm
Việc làm là một phạm trù tồn tại khách quan trong nền sản xuất xã hội,
là vấn đề chủ yếu của toàn bộ đời sống xã hội. Tại hội nghị quốc tế lần thứ 13
của tổ chức lao động thế giới (ILO), các nhà thống kê lao động đã đưa ra khái
niệm người có việc làm như sau: Người có việc làm là những người làm việc
gì đó có được trả tiền công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật,
hoặc người tham gia và các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi
ích hay thu nhập gia đình không được nhận tiền công hoặc hiện vật [8].
Theo Bộ luật lao động thì: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu
nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm” [8].
và khả năng to lớn nhằm giải phóng sức lao động, giải quyết việc làm cho
người lao động ở mọi thành phần kinh tế, ở mọi khu vực, trong đó đặc biệt
chú ý đến khả năng tự tạo việc làm của chính bản thân người lao động. Hơn
nữa, quan niệm mới hiện nay không chỉ chú ý đảm bảo có đủ việc làm cho
người lao động, mà còn coi trọng nâng cao chất lượng việc làm tiến tới việc
làm có năng suất, có thu nhập cao và được tự do lựa chọn việc làm, tức là
đảm bảo tính nhân văn của việc làm.
- Người có việc làm là người có đủ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong
các ngành kinh tế quốc dân mà trong tuần lễ liền kề trước thời điểm điều tra
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 8
có thời gian làm việc không ít hơn mức chuẩn quy định cho người được coi là
có việc làm. ở nhiều nước sử dụng mức chuẩn này là 1 giờ, còn ở nước ta
mức chuẩn này là 8 giờ.
Riêng với những người trong tuần lễ tham khảo không có việc làm vì
các lý do bất khả kháng hoặc do nghỉ ốm, thai sản, nghỉ phép, nghỉ hè, đi học
có hưởng lương, nhưng trước đó họ đã có một công việc nào đó với thời gian
thực tế làm việc không ít hơn mức chuẩn quy định cho người được coi là có
việc làm và họ sẽ tiếp tục trở lại làm việc bình thường sau thời gian tạm nghỉ,
vẫn được tính là người có việc làm.
Căn cứ vào chế độ làm việc, thời gian thực tế và nhu cầu làm thêm của
người được xác định là có việc làm trong tuần lễ trước điều tra. Người có việc
làm chia thành hai nhóm: Người đủ việc làm và người thiếu việc làm.
- Người đủ việc làm: Là người có số giờ làm việc trong tuần lễ tham
khảo lớn hơn hoặc bằng 36 giờ nhưng không có nhu cầu làm thêm hoặc có số
giờ làm việc nhỏ hơn 36 giờ nhưng bằng hoặc lớn hơn số giờ quy định đối với
người làm các công việc nặng nhọc, độc hại.
nghiệp được định nghĩa là: “người đang đóng bảo hiểm thất nghiệp mà bị mất
việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, hợp dồng làm việc nhưng chưa
tìm được việc làm”
* Căn cứ vào thời gian thất nghiệp,người thất nghiệp được chia thành:
Thất nghiệp ngắn hạn và thất nghiệp dài hạn.
- Thất nghiệp ngắn hạn: Là người thất nghiệp liên tục từ dưới 12 tháng
tính từ ngày đăng ký thất nghiệp hoặc từ thời điểm điều tra trở về trước.
- Thất nghiệp dài hạn: Là người thất nghiệp liên tục từ 12 tháng trở lên
tính từ ngày đăng ký thất nghiệp hoặc từ thời điểm điều tra trở về trước.
Phần lớn các nước đều sử dụng khái niệm trên để xác định người thất
nghiệp. Tuy nhiên cũng có sự khác biệt khi xác định mức thời gian không có
việc làm.
* Trong khi phân loại cơ cấu các thị trường lao động hiện nay, thất
nghiệp phân ra thành ba loại khác nhau: Thất nghiệp tạm thời, thất nghiệp
theo chu kỳ và thất nghiệp có tính cơ cấu.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 10
- Thất nghiệp tạm thời: Phát sinh do sự di chuyển không ngừng của con
người giữa các vùng, các công việc hoặc là các giai đoạn khác nhau của cuộc
sống. Thậm chí trong nền kinh tế có đầy đủ việc làm, vẫn luôn có một số
chuyển động nào đó do người ta đi tìm việc làm khi tốt nghiệp các trường
hoặc chuyển đến một nơi sinh sống mới. Hay phụ nữ có thể trở lại lực lượng
lao động sau khi sinh con. Do những công nhân thất nghiệp tạm thời thường
chuyển công việc hoặc tìm những công việc mới tốt hơn, cho nên người ta
thường cho rằng họ là những người thất nghiệp “Tự nguyện”.
- Thất nghiệp có tính cơ cấu xảy ra khi có sự mất cân đối giữa cung
và cầu lao động, sự mất cân đối này có thể diễn ra vì mức cầu đối với một loại
nêu trên là có bản chất xã hội – lịch sử, tuỳ thuộc vào chế độ xã hội cụ thể,
vào văn hoá, vào những quy luật xã hội hoá của xã hội đó” [12].
Theo quy ước hiện nay độ tuổi thanh niên Việt Nam hiện nay được tính từ
16 - 30 tuổi.Thanh niên là lứa tuổi đã trưởng thành, có đầy đủ tố chất của người
lớn, là thời kỳ dồi dào về trí lực và thể lực do đó thanh niên có đầy đủ những
điều kiện cần thiết để tham gia hoạt động học tập, lao động, hoạt động chính trị
xã hội đạt hiệu quả cao, có khả năng đóng góp cống hiến thể lực và trí lực cho
công cuộc đổi mới đất nước.
2.1.4.2. Đặc điểm của thanh niên liên quan đến định hướng nghề
nghiệp và giải quyết việc làm
a) Sở thích nghề nghiệp
Sở thích là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định sự
lựa chọn của thanh niên. Nếu thích làm việc trong môi trường tự do, thích
được thể hiện mình thì họ sẽ chon các ngành nghề như: kinh doanh , bảo
hiểm, marketting.. Mặt khác nếu thích môi trường ổn định , ít biến động và có
thu nhập cao thì họ sẽ chọn các ngành như kế toán, tài chính, ngân hàng…
b) Tiềm năng bẩm sinh
Tiềm năng bẩm sinh là yếu tố quan trọng quyết định việc định hướng nghề
nghiệp của thanh niên. Nếu lúc còn nhỏ đã được phát hiện có khả năng về một lĩnh
vực nào đó thì nó là cơ sở , tiền đề để khi lớn nên thanh niên sẽ tìm cho mình một
nghề phù hợp với tiềm năng của mình mà từ nhỏ đã được phát hiện.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 12
c) Xu hướng xã hội
Trong xã hội hiên nay thì thu nhập của các ngành nghề sẽ là nhân tố
không nhỏ quyết định đến sự lựa chọn của thanh niên mặc dù nghành nghề đó
không phù hợp với sở thích của họ mà họ sẽ tìm cho mình một ngành nghề
hướng theo nghề MC, Công tác xã hội…
+ Yếu tố thuộc về tố chất:
Tổ chất là yếu tố quan trọng trong việc định hướng nghề nghiệp. Nếu có
khả năng nắm bắt thông tin thì nên hướng theo nghề marketting, có khả năng
ngoại giao thì định hướng theo nghề công tác xã hội, kinh doanh, bảo hiểm,
giảng dạy, có khả năng nhận định đánh giá người khác thì theo nghề quản trị
nhân sự… Vì vậy khi định hướng nghề nghiệp cho thanh niên cần dựa vào
khả năng của thanh niên.
+ Một số yếu tố khác:
Các yếu tố khác như khả năng bẩm sinh, điều kiện kinh tế tài chính , điều
kiện gia đình, bị khuyết tật bẩm sinh, nhu cầu về thị trường lao động việc
làm… cũng là yếu tố quan trọng để định hướng thanh niên sao cho phù hợp
với bản thân và điều kiện bản thân.
b) Tổ chức định hướng nghề nghiệp
Sau khi nắm được các lĩnh vực nghề nghiệp tương ứng và các căn cứ thuộc
về bản thân của thanh niên và các yếu tố khác tiến hành tổ chức định hướng nghề
nghiệp sau cho phù hợp với bản thân và điều kiện của mỗi thanh niên.
2.1.5.2. Nội dung giải quyết việc làm
a) Công tác phối hợp
- Phối hợp với NHCS xã hội tổ chức giải ngân quỹ vốn vay giải quyết
việc làm cho thanh niên.
- Phối hợp với phòng LĐTB&XH và phòng công thương huyện xây
dựng chương trình tư vấn, hỗ trợ thanh niên lập nghiệp, khởi sự doanh
nghiệp, chuyển giao tiến bộ KHKT.
b) Công tác triển khai và thực hiện các giải pháp
- Triển khai các chương trình, dự án cụ thể về dạy nghề, tạo việc làm,
dịch vụ việc làm cho thanh niên,… theo hướng dẫn của Nhà nước.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 14
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 15
Theo thống kê cho thấy, nếu trong lớp học có nhiều em chọn thi vào một
trường nào đó thì những học sinh còn phân vân lưỡng lự thường "a dua" thi
theo bạn bè.
c) Bản Thân
*Sức khỏe:
Sức khoẻ là yếu tố quan trọng đến việc lựa chọn ngành nghề bời vì có
những nghành nghề đòi hỏi cao về yêu cầu sức khoẻ như nếu bạn muốn làm
phi công, thuyền trưởng thì nhất thiết bạn không được mắc các bệnh về tim
mạch… muốn đi vào nghề hội họa, lái xe, nhuộm vải thì tối kỵ bệnh mù màu
(không phân biệt được các màu sắc).
* Năng lực:
Các chỉ số IQ, EQ… giúp các bạn xác định được năng lực và khả năng
của mình tới đâu. Nếu IQ của bạn dưới 100 thì hãy cân nhắc kỹ trước khi
đăng ký ngành công nghệ thông tin. Trường hợp bạn không có điều kiện để
thực hiện các bài test về chỉ số thông minh, cảm xúc thì hãy xem mình có thể
hợp với công việc gì, khả năng của mình được thể hiện tốt nhất khi nào.
Tố chất:
Nếu bạn có khả năng về giao tiếp , khả năng nói trước đám đông thì nên
theo ngành công tác xã hội và MC, bạn có khả năng về văn hoa văn nghệ thì
nên theo con đường nghệ thuật vì ở đó bạn có cơ hội phát huy hết tất cả
những gì mình có...
Tóm lại bạn có khả năng nào đó thì nên hướng theo nghề nghiệp để cho
bạn phát huy khă năng đó. Vì vậy tố chất đóng vai trò quan trọng trong việc
định hướng nghề nghiệp cho mỗi thanh niên trước ngưỡng cửa lựa chọn.
* Năng khiếu:
học. Có khoảng 27,9% số trường phổ thông trung học vừa học văn hoá phổ
thông vừa học các môn học kỹ thuật thuộc các lĩnh vực cơ khí, ngư nghiệp,
công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ vv… Sau cấp II có đến 94% học sinh vào
cấp III, trong đó 70% học sinh theo học loại hình trường PT cơ bản và 30%
HS theo hướng học nghề.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 17