BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGÔ HẢI TIẾN
ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP VÀ GIẢI QUYẾT
VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN HUYỆN VĂN GIANG
TỈNH HƯNG YÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, NĂM 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGÔ HẢI TIẾN
ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP VÀ GIẢI QUYẾT
VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN HUYỆN VĂN GIANG
TỈNH HƯNG YÊN
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ SỐ: 60.34.01.02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. PHẠM THỊ MINH NGUYỆT
HÀ NỘI, NĂM 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, các số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận
văn là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ bất kỳ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được
cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày 24 tháng 11 năm 2014
Tác giả luận văn
Ngô Hải Tiến
i
LỜI CẢM ƠN
Các phòng ban tham gia tạo nghề, bao gồm; Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Hội nông dân, Hội cựu
chiến binh, phòng Lao động – TBXH, phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, phòng Công
thương 53
Như vậy, gia đình, nhà trường và các tổ chức xã hội đóng vai trò quan trọng trong định hướng nghề
nghiệp cho thanh niên. Vì vậy cần phải kết hợp 3 tổ chức trên một cách nhuần nhuyễn để tìm đúng
hướng đi cho thanh niên trong việc lựa chọn nghề nghiệp 54
4.1.4.2 Nhân tố ảnh hưởng đến giải quyết việc làm cho thanh niên 54
+ Chất lượng của lao động là thanh niên trong huyện còn thấp 54
+ Thiếu vốn cho sản xuất – kinh doanh 56
+ Chính sách hỗ trợ cho học nghề của nhà nước còn hạn chế 56
+ Điều kiện khó khăn của bản thân người học 57
DANH MỤC BẢNG
STT Tên bảng Trang
Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất đai của huyện qua 3 năm từ 2011 – 2013 24
Bảng 3.2 Tình hình dân số và lao động của huyện Văn Giang 25
Bảng 3.3. Hiện trạng hệ thống giao thông cuả huyện 27
Bảng 3.4 Tình hình sản xuất kinh doanh của huyện 28
Bảng 3.5 Quy mô mẫu điều tra 29
Bảng 4.1 Tình hình lao động là thanh niên ở Văn Giang 33
Bảng 4.2 Số lượng thanh niên được định hướng nghề nghiệp 3 năm 42
iii
Bảng 4.3. Tình hình việc làm của thanh niên 44
Bảng 4.4 Số lượng thanh niên được đào tạo ngắn hạn trong 3 năm 45
Bảng 4.5 Số lượng thanh niên được tập huấn, chuyển giao tiến bộ KHKT 3 năm từ năm 2011 – 2013. 47
Bảng 4.6. Số lao động thanh niên trong hộ gia đình 49
Bảng 4.7 Mạng lưới tạo việc làm cho lao động thanh niên 52
Bảng 4.8 Các làng nghề 53
iv
PHẦN I. MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
những người không có tư tưởng lập trường vững vàng mà lựa chọn nghề
nghiệp theo ý kiến của người khác, không tìm ra điểm mạnh điểm yếu của
mình trong việc áp dụng vào việc lựa chọn nghề nghiệp tạo nên sự bị động
trong lựa chọn…Tất cả những vấn để bất cập nêu trên là một động lực thúc
dẩy chúng ta nghiên cứu đề tài “Định hướng nghề nghiệp và giải quyết việc
làm cho thanh niên”, qua đó tìm ra đặc điểm, tính chất và xu thế chung của
thanh niên hiện nay trong việc định hướng nghề nghiệp cho mình.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
- Đánh giá thực trạng định hướng nghề nghiệp và giải quyết việc làm cho
thanh niên, tìm ra những nhân tố ảnh hưởng từ đó đưa ra giải pháp giúp thanh
niên có định hướng nghề nghiệp phù hợp và việc làm phù hợp.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về định hướng nghề
nghiệp và giải quyết việc làm cho thanh niên.
- Đánh giá thực trạng và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến định
hướng nghiệp và giải quyết việc làm cho thanh niên ở huyện Văn giang, tỉnh
Hưng Yên.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu để định hướng và giải quyết việc
làm cho thanh niên ở huyện Văn Giang , tỉnh Hưng Yên.
1.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu
Thanh niên bao gồm:
- Thanh niên trong độ tuổi học phổ thông
2
- Thanh niên nông thôn
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu
1.3.2.1. Phạm vi về thời gian: nguồn số liệu phục vụ đề tài được thu thập
giai đoạn 2011 – 2013. Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra, phỏng
vấn thanh niên, hộ gia đình thanh niên, mạng lưới tạo việc làm, các cơ quan
chọn nghề đúng đắn, tinh thần sẵn sàng đi vào các ngành nghề đang cần phát
triển để xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và quê hương.
Đặc biệt qua các phân môn kỹ thuật phổ thông (trồng trọt, chăn nuôi,
lâm nghiệp, thuỷ sản, cơ khí, kỹ thuật điện, vô tuyến điện, v.v ) cần giới
thiệu cho học sinh các nghề cơ bản có liên quan trực tiếp tới môn học và tổ
chức cho học sinh thực hành kỹ thuật, sản xuất trong những ngành nghề đó.
Các phân môn kỹ thuật phục vụ giới thiệu cho học sinh ngành dệt, nghề may,
chế biến thực phẩm, các nghề thuộc lĩnh vực phục vụ
4
Để tiến hành hướng nghiệp qua các môn học, các nhà trường phải cải
tiến phương pháp giảng dạy, tăng cường thực hành môn học, kết hợp giảng
dạy với lao động sản xuất, tổ chức tham quan, xây dựng phòng bộ môn
Phải chấn chỉnh tình hình giảng dạy kỹ thuật hiện nay, tăng cường đào
tạo và bồi dưỡng nâng cao chất lượng của giáo viên giảng dạy kỹ thuật; kết
hợp với các cơ sở sản xuất tạo điều kiện cho nhà trường có thể tổ chức thực
hành kỹ thuật, có công nhân lành nghề và cán bộ kỹ thuật giúp đỡ nhà trường
trong giảng dạy kỹ thuật.
b) Hướng nghiệp qua hoạt động lao động sản xuất:
Tổ chức lao động sản xuất trong nhà trường là biện pháp rất quan trọng
để thực hiện công tác hướng nghiệp. Qua lao động sản xuất, giáo dục quan
điểm, thái độ, ý thức lao động cho học sinh; trên cơ sở đó giáo dục ý thức
đúng đắn đối với nghề nghiệp, tạo điều kiện cho học sinh tiếp xúc với nghề và
lao động trong các dạng nghề nghiệp khác nhau, phát triển hứng thú, năng lực
của học sinh đối với một vài dạng lao động nhất định, hướng dẫn học sinh lựa
chọn nghề nghiệp phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế và phù hợp với năng
lực của bản thân.
Trong thời gian tới, các trường cần tích cực tổ chức hướng dẫn học sinh
lao động sản xuất, chấm dứt những hình thức lao động tuỳ tiện, gắn nội dung
lao động với phương hướng sản xuất và các nghề đang cần phát triển. Các
trường vừa học vừa làm càng phải cần nâng cao chất lượng học lao động và
- Xây dựng các tổ ngoại khoá, đặc biệt là các tổ ngoại khoá về kỹ thuật,
nhằm phát triển hứng thú học tập và hứng thú nghề nghiệp của học sinh. Đối
với những học sinh có xu hướng và năng khiếu về các ngành nghề thuộc lĩnh
vực nghiên cứu khoa học, văn hoá, nghệ thuật, hoạt động xã hội, cũng cần
phát hiện và tổ chức các tổ ngoại khóa bộ môn để bồi dưỡng.
- Tổ chức xây dựng góc hoặc phòng hướng nghiệp.
6
- Kết hợp với đoàn thanh niên và đội thiếu niên tổ chức những buổi toạ
đàm hướng dẫn học sinh lựa chọn nghề, vận động nam nữ thanh niên đi vào
những nghề Nhà nước, địa phương đang cần nhiều nhân lực.
- Kết hợp với hội cha mẹ học sinh giúp đỡ, chỉ dẫn sự chọn nghề cho
học sinh.
- Phối hợp với các cơ sở sản xuất ở địa phương tạo điều kiện cho học
sinh tham quan cơ sở sản xuất, giới thiệu các nghề và có thể tổ chức cho học
sinh tham gia lao động nghề nghiệp.
2.1.3. Việc làm và thất nghiệp
2.1.3.1. Việc làm
Việc làm là một phạm trù tồn tại khách quan trong nền sản xuất xã hội,
là vấn đề chủ yếu của toàn bộ đời sống xã hội. Tại hội nghị quốc tế lần thứ 13
của tổ chức lao động thế giới (ILO), các nhà thống kê lao động đã đưa ra khái
niệm người có việc làm như sau: Người có việc làm là những người làm việc
gì đó có được trả tiền công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật,
hoặc người tham gia và các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi
ích hay thu nhập gia đình không được nhận tiền công hoặc hiện vật [8].
Theo Bộ luật lao động thì: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu
nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm” [8].
Còn theo từ điển Tiếng việt (xuất bản năm 1992) xác định việc làm như
sau: 1. Hành động cụ thể; 2. Công việc được giao cho làm và được trả tiền công.
Như vậy, việc làm được nhận thức là những hoạt động lao động có ích
cho bản thân, gia đình và xã hội và được thể hiện dưới các hình thức:
các ngành kinh tế quốc dân mà trong tuần lễ liền kề trước thời điểm điều tra
có thời gian làm việc không ít hơn mức chuẩn quy định cho người được coi là
có việc làm. ở nhiều nước sử dụng mức chuẩn này là 1 giờ, còn ở nước ta
mức chuẩn này là 8 giờ.
8
Riêng với những người trong tuần lễ tham khảo không có việc làm vì
các lý do bất khả kháng hoặc do nghỉ ốm, thai sản, nghỉ phép, nghỉ hè, đi học
có hưởng lương, nhưng trước đó họ đã có một công việc nào đó với thời gian
thực tế làm việc không ít hơn mức chuẩn quy định cho người được coi là có
việc làm và họ sẽ tiếp tục trở lại làm việc bình thường sau thời gian tạm nghỉ,
vẫn được tính là người có việc làm.
Căn cứ vào chế độ làm việc, thời gian thực tế và nhu cầu làm thêm của
người được xác định là có việc làm trong tuần lễ trước điều tra. Người có việc
làm chia thành hai nhóm: Người đủ việc làm và người thiếu việc làm.
- Người đủ việc làm: Là người có số giờ làm việc trong tuần lễ tham
khảo lớn hơn hoặc bằng 36 giờ nhưng không có nhu cầu làm thêm hoặc có số
giờ làm việc nhỏ hơn 36 giờ nhưng bằng hoặc lớn hơn số giờ quy định đối với
người làm các công việc nặng nhọc, độc hại.
- Người thiếu việc làm: Là người có số thời gian làm việc trong tuần lễ
tham khảo dưới 36 giờ, hoặc ít hơn giờ chế độ quy định đối với các công việc
nặng nhọc, độc hại, có nhu cầu làm thêm giờ và sẵn sàng làm việc khi có việc
làm.
2.1.3.2. Thất nghiệp
Thất nghiệp là từ Hán - Việt (thất: mất mát, nghiệp là việc làm) chỉ tình
trạng không có việc làm mang lại thu nhập, người cần có việc làm nhưng lại
không có việc sẽ gặp khó khăn hoặc không thể chi trả các khoản đóng góp, thuế,
nợ nần…Đây là những nguyên nhân chính dẫn đến nhiều tệ nạn xã hội như cờ
bạc, rượu chè, nghiện hút, mại dâm…Theo luật lao động nước ta sửa đổi và bổ
sung năm 2002: “Thất nghiệp là những người trong độ tuổi lao động muốn làm
việc nhưng chưa tìm được việc làm”. Căn cứ vào thời gian thất nghiệp mà người
- Thất nghiệp tạm thời: Phát sinh do sự di chuyển không ngừng của con
người giữa các vùng, các công việc hoặc là các giai đoạn khác nhau của cuộc
10
sống. Thậm chí trong nền kinh tế có đầy đủ việc làm, vẫn luôn có một số
chuyển động nào đó do người ta đi tìm việc làm khi tốt nghiệp các trường
hoặc chuyển đến một nơi sinh sống mới. Hay phụ nữ có thể trở lại lực lượng
lao động sau khi sinh con. Do những công nhân thất nghiệp tạm thời thường
chuyển công việc hoặc tìm những công việc mới tốt hơn, cho nên người ta
thường cho rằng họ là những người thất nghiệp “Tự nguyện”.
- Thất nghiệp có tính cơ cấu xảy ra khi có sự mất cân đối giữa cung
và cầu lao động, sự mất cân đối này có thể diễn ra vì mức cầu đối với một loại
lao động tăng lên trong khi mức cầu đối với một loại lao động khác giảm đi,
trong khi đó mức cung không được điều chỉnh nhanh chóng. Như vậy trong
thực tế xảy ra sự mất cân đối trong các ngành nghề hoặc các vùng do một số
lĩnh vực phát triển so với một số lĩnh vực khác và do quá trình đổi mới công
nghệ. Nếu tiền lương rất linh hoạt trong những khu vực có nguồn cung cao và
tăng lên trong những khu vực có mức cầu cao.
2.1.4 Thanh niên và đặc điểm của thanh niên
2.1.4.1 Thanh niên
Trong lịch sử đã diễn ra nhiều cuộc tranh luận sôi nổi giữa các nhà
khoa học về định nghĩa TN. Có thể tiếp cận đối tượng này dưới nhiều góc độ
khác nhau: Triết học, tâm lý hoc, xã hội học, khoa học thể chất…
Tiêu điểm của các cuộc tranh luận là vấn đề có nên coi TN là một
nhóm nhân khẩu - xã hội độc lập hay không? Do quan điểm giai cấp chi phối,
nếu coi TN là một tầng lớp độc lập thì sợ bị nhầm lẫn với “giai cấp thanh
niên” – theo quan điểm của một số nhà xã hội học phương Tây xuyên tạc. Còn
nếu không coi TN là một nhóm nhân khẩu xã hội độc lập thì không thấy được
đặc thù của tầng lớp này, dễ hoà tan lợi ích của nó vào các tầng lớp xã hội khác.
Tuy nhiên, cuộc tranh luận dần dần cũng được thống nhất. Quan điểm
cho rằng TN là một nhóm nhân khẩu xã hội đặc thù ấy là: Đặc trưng về độ
hy sinh.
- Thanh niên có tinh thần đổi mới, rất nhạy cảm với cái mới, nhanh
chóng tiếp thu cái mới. Trong học tập, lao động và hoạt động xã hội , thanh
niên thể hiện tính tổ chức, tính kỷ luật rõ rệt.
- Nhu cầu của thanh niên: Nhu cầu của TN ngày nay khá đa dạng và
phong phú và phù hợp với xu thế phát triển chung của xã hội . Mối quan tâm
lớn nhất của TN là việc làm, nghề nghiệp . tiếp theo là nhu cầu học tập, nâng
cao nhận thức, phát triển tài năng. TN có nhu cầu nâng cao thu nhập và ổn định
cuộc sống. Bên cạnh đó TN còn có các nhu cầu về vui chơi giải trí, thể thao, nhu
cầu về tình bạn, tình yêu và hôn nhân gia đình…TN đã thể hiện tích cực, chủ động
trong việc thoả mãn nhu cầu của mình thông qua hoạt động lao động học tập, giao
tiếp, giải trí… bằng chính sức lực và trí tuệ của thế hệ trẻ. Tuy nhiên vẫn còn một
bộ phận TN có những nhu cầu lệch lạc, lười lao động, thích hưởng thụ đòi hỏi
vượt quá khả năng đáp ứng của gia đình và xã hội nên đã có biểu hiện lối sống
không lành mạnh hoặc vi phạm pháp luật.
- Hứng thú của thanh niên: Hứng thú của TN có tính ổn định bền vững,
liên quan đến nhu cầu. Hứng thú có tính phân hoá cao, đa dạng, ảnh hưởng đến
khát vọng hành động và sáng tạo của TN. Nhìn chung TN rất hứng thú với cái
mới, cái đẹp.
- Lý tưởng của thanh niên: TN là lứa tuổi có ước mơ, có hoài bão lớn
lao và cố gắng học tập, rèn luyện, phấn đấu để đạt ước mơ đó. Nhìn chung TN
ngày nay có lý tưởng xã hội chủ nghĩa, muốn đem sức mình cống hiến cho xã
hội, phấn đấu vì một xã hội tốt đẹp hơn.
- Về thế giới quan: Do trí tuệ đã phát triển, TN đã xây dựng được thế
giới quan hoàn chỉnh với tư cách là một hệ thống. TN đã có quan điểm riêng
với các vấn đề xã hội, chính trị, đạo đức, lao động [12].
2.2. Nội dung định hướng nghề nghiệp
13
2.2.1. Cơ quan định hướng, giải quyết việc làm
Cơ quan đinh hướng, giải quyết việc làm bao gồm: Đoàn TN, Hội Phụ
đề giữa phụ huynh với HS, nhà trường với HS, đồng thời có cả các bài trắc
nghiệm hướng nghiệp được thiết kế trên cơ sở khoa học… giúp các em đánh
giá bản thân xem phù hợp với nghề nào. Các buổi nói chuyện với những
người thành đạt cũng là một biện pháp hiệu quả.
Ở Liên bang Nga HN được thực hiện nhằm mục tiêu:
- Đảm bảo quyền tự chọn nghề của học sinh giúp các em tự thể hiện nhân
cách trong điều kiện quan hệ thị trường
- Tôn trọng hứng thú nghề nghiệp của con người cũng chỉ rõ nhu cầu của
thị trường lao động.
- Không ngừng nâng cao trình độ thạo nghề của cá nhân như là điều kiện quan
trọng nhất được thoả nguyện yêu cầu phát triển của con người trong lao động
Nhật Bản sớm quan tâm giải quyết tốt mối quan hệ giữa học vấn văn hoá
phổ thông với kiến thức và kỹ năng lao động - nghề nghiệp ở tất cả các bậc
học. Có khoảng 27,9% số trường phổ thông trung học vừa học văn hoá phổ
thông vừa học các môn học kỹ thuật thuộc các lĩnh vực cơ khí, ngư nghiệp,
công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ vv… Sau cấp II có đến 94% học sinh vào
cấp III, trong đó 70% học sinh theo học loại hình trường PT cơ bản và 30%
HS theo hướng học nghề.
Tại Hàn Quốc, trong các loại hình trường phổ thông, nội dung giảng dạy
kỹ thuật - lao động là một bộ phận cấu thành quan trọng trong chương trình
GD. Hết cấp II học sinh sẽ đi theo hai luồng chính: phổ thông và chuyên
15
nghiệp. Các trường kỹ thuật nghề nghiệp tuyển sinh trước rồi mới chọn HS
theo luồng phổ thông.
Trung Quốc khuyến khích GD suốt đời một cách tích cực. Hiện nay,
GD dựa trên cộng đồng đang được phát triển mạnh mẽ. Trong chương trình
giảng dạy thường có các môn học tự chọn với mục tiêu trang bị cho HS
những kiến thức và kỹ năng chuyên môn cần thiết để HS có khả năng tham
gia lao động nghề nghiệp ở các lĩnh vực kinh tế - xã hội khác nhau hoặc tiếp
tục học lên trình độ nghề nghiệp cao hơn ở bậc đại học.
2.3.1.2. Tình hình định hướng nghề nghiệp ở Việt Nam
Ở Việt Nam công tác hướng nghiệp và việc triển khai hoạt động này ở
nước ta hiện nay còn nhiều hạn chế; Khi hỏi các em học sinh lớp 10 là
chương trình hướng nghiệp có những nội dung gì thì đa số các em vẫn còn
chưa rõ. Sang lớp 11 tình hình cũng không khả quan mấy và tất cả chờ lên lớp
12. Ở lớp 12, việc hướng nghiệp gần như chỉ thực hiện nội dung tư vấn tuyển
sinh. Trong các buổi hướng nghiệp, việc trao đổi giữa học sinh và các chuyên
gia tư vấn chỉ xoay quanh vấn đề chọn khối nào, trường nào. Ở nhiều trường,
hoạt động ngoài giờ lên lớp về hướng nghiệp chỉ là cho phép một cơ sở đào
tạo nào đó đến “tư vấn” (thực chất chỉ là giới thiệu về trường mình, phục vụ
cho việc tuyển sinh của cơ sở đó).
Về phía gia đình, nói một cách công bằng, bố mẹ nào cũng lo lắng cho
con ở giai đoạn chuyển tiếp quan trọng này, ai cũng mong muốn con mình sẽ
có nghề nghiệp tốt để có tương lai tốt đẹp. Nhưng do nhiều yếu tố khách quan
và chủ quan, cách họ triển khai thực hiện hướng nghiệp cũng theo xu hướng
của nhà trường, chủ yếu vẫn bằng mọi hình thức, mọi thời gian cho con học
để “nhồi nhét” kiến thức, để hy vọng thi đỗ một trường nào đó.
Với cách hướng nghiệp như vậy dẫn đến kết quả là học sinh cũng chủ yếu
quan tâm thi vào trường nào, khoa nào, khổi nào “… phần lớn học sinh đến
17
làm tư vấn hướng nghiệp đều hỏi các câu như: “Trường đó có những khối gì,
điểm chuẩn bao nhiêu. Em học khối này thì nên thi vào trường gì?…” (Đỗ
Thị Lệ Hằng (2009) Vài nét về thực trạng tư vấn hướng nghiệp tại Việt Nam)
Tẩt cả những điều trên đây đã làm xuất hiện ý nghĩ: chúng ta đang thực
hiện hướng nghiệp hay hướng trường thi vào cao đẳng, đại học cho học sinh?
Để thực hiện nội dung Quyết định số 126-CP, công tác hướng nghiệp
phải được tiến hành từ lớp đầu cấp của trường phổ thông cơ sở tới lớp cuối
cấp của trường phổ thông trung học; đồng thời hướng nghiệp phải được tiến
hành thông qua các nhiệm vụ giáo dục, qua các hoạt động giáo dục và phải
kết hợp chặt chẽ giữa các hình thức trong nhà trường và ngoài nhà trường.
nghiệp của thanh niên hiện nay vì trong xu hướng hiện nay, những ngành
nghề mang tính kinh tế cao như: quản trị kinh doanh, du lịch, công nghệ
thông tin… hay những nghề mới lên như PR, Event, chuyên viên quảng cáo…
đang thu hút khá đông bạn trẻ đăng ký học. Và tương lai còn những ngành
nghề nào mới, thời thượng hơn thì chưa thể đoán trước được. Xã hội đòi hỏi
chúng ta phải phát triển cho kịp tốc độ, nếu không sẽ bị đào thải nhanh chóng.
Theo thống kê cho thấy, nếu trong lớp học có nhiều em chọn thi vào một
trường nào đó thì những học sinh còn phân vân lưỡng lự thường "a dua" thi
theo bạn bè.
Có thể nói bạn bè ảnh hưởng đến cuộc sống của ta không ít, nhưng tương
lai thì phải do chính chúng ta quyết định. Nếu cùng sở thích, chí hướng thì khi đi
cùng con đường bạn sẽ có người chia sẻ, cùng nhau tiến bộ như thời xưa, nhưng
khi thấy không thể đi cùng đường thì bạn hãy mạnh dạn nói lên suy nghĩ của
mình, đừng gò ép theo bạn bè. Bạn cũng nên góp những ý kiến có thể quan trọng
với một người bạn khi người này còn đang phân vân hay đang chọn hướng sai.
Và nên nhớ chỉ khuyên thôi còn quyết định thì là của bạn mình.
19