Tri thức bản địa về ứng xử xã hội trong cộng đồng người Tày ở huyện Nà Hang - tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 1986 - 2010 - Pdf 41

i

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÁI NGUYÊN
--------------------------------

VŨ THỊ HÀ

TRI THỨC BẢN ĐỊA VỀ ỨNG XỬ XÃ HỘI
TRONG CỘNG ĐỒNG NGƯỜI TÀY Ở
HUYỆN NÀ HANG - TỈNH TUYÊN QUANG
GIAI ĐOẠN 1986 – 2010
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60.22.54

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: TS. Hà Thị Thu Thuỷ

Thái Nguyên, tháng 8 năm 2011

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn


ii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài .......................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ........................................................................... 2


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn


1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tri thức tộc người là một thành tố không thể thiếu của văn hoá tộc người,
không những góp phần khẳng định mà còn là nhân tố quan trọng quyết định
việc duy trì, bảo tồn bản sắc văn hoá của một cộng đồng. Nghiên cứu văn hoá
tộc người không thể không tìm hiểu kho tàng tri thức dân gian. Những kết quả
nghiên cứu về tri thức tộc người sẽ bổ sung tư liệu góp phần hoàn thiện bức
tranh văn hoá tộc người.
Trong kho tàng tri thức đồ sộ, đa dạng và phong phú của các tộc người
thiểu số, tri thức về văn hoá ứng xử là một trong những bộ phận quan trọng.
Nó không những cho ta hiểu về văn hoá ứng xử của một tộc người nào đó
mà còn góp phần tạo nên nền văn hoá bản địa chung của các dân tộc thiểu số
ở Việt Nam.
Ngày nay, trong bối cảnh xã hội hiện đại, khoa học kỹ thuật tiên tiến đang
là động lực quan trọng trong sự nghiệp tăng trưởng kinh tế, đảm bảo trật tự an
ninh xã hội, giữ gìn môi truờng và bảo tồn văn hoá. Tri thức dân gian của các
dân tộc thiểu số đóng vai trò quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế xã
hội của đất nước. Tri thức dân gian của các tộc người ở Việt Nam đã và đang là
một trong các nguồn lực quan tâm của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
hiện nay ở nước ta. Chính vì vậy, tìm hiểu nghiên cứu về tri thức các tộc người
nói chung và của người Tày nói riêng là nhiệm vụ cần thiết hiện nay. Tri thức
về văn hoá ứng xử của họ cũng như vậy.
Trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam, dân tộc Tày là một cộng đồng người

chất, tinh thần cổ truyền của các dân tộc Tày Nùng ở Việt Bắc. Đây là nguồn tư
liệu cần thiết giúp tác giả tiếp cận về đặc điểm văn hóa truyền thống của dân
tộc Tày ở Nà Hang- Tuyên Quang.
Công trình “Văn hoá truyền thống Tày - Nùng” của các tác giả Hoàng
Quyết, Ma Khánh Bằng, Hoàng Huy Phách, Cung Văn Lược, Vương Toàn,
Nxb Văn hoá dân tộc, 1993, đã đề cập đến một cách khái quát về đặc điểm

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn


3
của hai dân tộc Tày, Nùng ở Việt Bắc trên hai phương diện lớn của nền văn
hóa vật chất và văn hóa tinh thần.
Tác phẩm “Văn hoá dân gian Tày” của Hoàng Ngọc La, Hoàng Hoa
Toàn, Vũ Anh Tuấn đã trình bày về nguồn gốc tộc người, văn hoá vật chất
truyền thống và văn hoá tinh thần của người Tày ở Việt Bắc.
Tác phẩm “Các dân tộc thiểu số ở Tuyên Quang” Hà Văn Viễn và Hà Văn
Phụng - Ban dân tộc tỉnh Tuyên Quang, xuất bản năm 1997, đã đề cập tới các
dân tộc tỉnh Tuyên Quang như Tày, Dao, Mông….bằng những tư liệu thực tế,
công trình viết với mục đích phục vụ công tác dân tộc của tỉnh Tuyên Quang
trong những năm gần đây.
Công trình “Văn hoá truyền thống các dân tộc Tày, Dao, Sán Dìu ở Tuyên
Quang”(2003) của Nịnh Văn Độ (chủ biên), Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội, là
chuyên khảo về văn hóa dân tộc ở Tuyên Quang. Tác phẩm đề cập một cách
khái quát về văn hóa dân tộc Tày dưới các góc độ, các loại hình văn hóa, đặc
biệt là văn hóa ứng xử của cộng đồng người Tày ở Nà Hang- Tuyên Quang.
Nhìn chung, đề tài được thừa hưởng một khối lượng lớn các công trình
nghiên cứu về người Tày. Đây là cơ sở để tác giả tiếp cận, nghiên cứu hoàn

như Đà Vị, Yên Hoa, Năng Khả, Lăng Can.
- Về thời gian, đề tài nghiên cứu những tri thức bản địa về ứng xử xã hội
của người Tày ở Nà Hang từ 1986 đến 2010 nghĩa là từ thời kỳ đổi mới đất
nước tới năm 2010.
4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu:
4.1. Nguồn tư liệu
- Tài liệu thành văn: Đề tài kế thừa nguồn tư liệu khá phong phú của đã
các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước bao gồm các công trình nghiên cứu
như sách báo, chuyên khảo, tạp chí, báo cáo khoa học, các đề tài nghiên cứu về
người Tày đã công bố, xuất bản.
- Tư liệu địa phương bao gồm các công trình nghiên cứu về lịch sử, văn
hoá tộc người ở tỉnh Tuyên Quang nói chung và huyện Nà Hang nói riêng.
- Tư liệu điền dã bao gồm các tài liệu thu thập được qua quan sát trực tiếp,
địa bàn nghiên cứu và phỏng vấn các nhân chứng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn


5
4.2. Phương pháp nghiên cứu:
Để nghiên cứu đề tài, tác giả sử dụng 2 phương pháp chủ yếu là: Phương
pháp lịch sử và phương pháp lôgic. Phương pháp lịch sử nghiên cứu khái quát
về huyện Nà Hang, nguồn gốc tộc người, các tập quán trong giáo dục cộng
đồng của người Tày nơi đây và những biến đổi của nó trong thời kỳ công
nghiệp hoá, hiện đại hoá. Phương pháp lôgíc nhằm rút ra những nhận xét, đánh
giá kết quả về vấn đề nghiên cứu, giúp người đọc có cái nhìn hệ thống và kết
quả về những tri thức trong giáo dục cộng đồng của người Tày ở huyện Nà
Hang - Tuyên Quang.
Trên cơ sở đó, đề tài kết hợp sử dụng phương pháp điền dã dân tộc học nhằm

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn


7
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
1.1.Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên của huyện Nà Hang tỉnh
Tuyên Quang
Nà Hang là một huyện vùng cao nằm ở phía Bắc của tỉnh Tuyên Quang,
cách thị xã Tuyên Quang 113 km. Nằm trong hệ toạ độ từ 22o14’ đến 22o42’ vĩ
Bắc và 105o08’ đến 105o36’ kinh Đông. Phía Bắc huyện Nà Hang giáp với các
huyện Bảo Lạc (tỉnh Cao Bằng) huyện Ba Bể (tỉnh Bắc Kạn), huyện Bắc Mê
(tỉnh Hà Giang); Phía Nam giáp với huyện Chiêm Hoá (tỉnh Tuyên Quang);
Phía Đông giáp với huyện Chợ Đồn (tỉnh Bắc Kạn); Phía Tây giáp với huyên
Bắc Quang (tỉnh Hà Giang).
Về địa hình, Nà Hang nằm trong vùng đồi núi cao của tỉnh Tuyên Quang,
độ chia cắt mạnh, nhiều sườn dốc và khe sâu. Địa thế Nà Hang có hướng thấp
dần từ Bắc xuống Nam. Điểm cao nhất trong huyện là 1.060 m so với mực
nước biển, điểm thấp nhất là 50 m. 65% đất đai Nà Hang có độ dốc 25-30o,
phía Bắc và phía Nam của huyện có rất nhiều dãy núi đá vôi hiểm trở. Huyện
được chia làm 3 khu:
Khu A: Ở phía Nam, gồm 5 xã Vĩnh Yên, Sơn Phú, Thanh Tương, Trùng
Khánh, Năng Khả và thị trấn Nà Hang, có độ cao từ 50 - dưới 300m. Khu vực
này có khí hậu ẩm, nhiều mưa và sương mù. Đây là vùng thấp nhất trong
huyện, có thị trấn huyện lỵ, các trọng điểm về kinh tế, chính trị, văn hoá và xã
hội của huyện. Dân cư khu vực này khá đông đúc, đường xá đi lại thuận lợi
nhiều hơn so với các khu vực khác.
Khu B: Ở phía Bắc, gồm các xã Thượng Lâm, Khuôn Hà, Lăng Can,



data error !!! can't not
read....


data error !!! can't not
read....


data error !!! can't not
read....


data error !!! can't not
read....


data error !!! can't not
read....

data error !!! can't not
read....


data error !!! can't not
read....

data error !!! can't not
read....


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status