Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nông dân nghèo ở huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang. - Pdf 29


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NHỮ HÙNG CAO
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG
ĐẾN THU NHẬP CỦA HỘ NÔNG DÂN NGHÈO
Ở HUYỆN NA HANG TỈNH TUYÊN QUANG LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

THÁI NGUYÊN - 2014


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn
toàn trung thực, và chưa từng được sử dụng hoặc công bố trong bất kỳ một
công trình nào khác.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và thông tin trích dẫn trong luận văn được ghi rõ nguồn gốc.
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn
Nhữ Hùng Cao Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ii
LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được hoàn thành là quá trình nghiên cứu và tích luỹ kinh
nghiệm của tác giả. Trước hết tôi xin được bày tỏ lòng trân thành cảm ơn đối
với các lãnh đạo Chi cục thuế huyện Na Hang, lãnh đạo Cục thuế tỉnh Tuyên
Quang đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn đối với Ban giám hiệu trường Đại học
Kinh tế và Quản trị kinh doanh, lãnh đạo Khoa Đào tạo Sau đại học trường
Đại học Kinh tế và QTKD.
Để có được kết quả này, tôi vô cùng biết ơn và tỏ lòng kính trọng sâu sắc

1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
3.Đối tượng nghiên cứu 2
4. Phạm vi nghiên cứu 2
5. Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu 3
6. Những đóng góp mới của luận văn 3
7. Bố cục của luận văn 3
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THU NHẬP VÀ NÂNG CAO THU NHẬP
CỦA HỘ NÔNG DÂN NGHÈO 4
1.1. Cơ sở lý luận 4
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản 4
1.1.2. Các lý thuyết về thu nhập 6
1.1.3.Những đặc trưng cơ bản và vai trò của kinh tế hộ nông dân 6
1.1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến kinh tế hộ nông dân 9
1.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài 10
1.2.1. Thực trạng và xu hướng phát triển kinh tế nông hộ ở Việt Nam 10
1.2.2. Một số loại hình nông hộ chủ yếu hiện nay 14
1.2.3. Kinh nghiệm phát triển kinh tế nông hộ ở một số nước trên thế giới 15
Chƣơng 2: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1. Câu hỏi nghiên cứu 20
2.2. Các phương pháp nghiên cứu 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

iv
2.2.1. Cơ sở phương pháp luận 20
2.2.2. Phương pháp thu thập thông tin 20
2.2.3. Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu 21
2.3. Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 21
2.3.1. Các chỉ tiêu nghiên cứu về điều kiện phát triển kinh tế đem lại thu

Ký hiệu, viết tắt
1
Đồng Đô la Mỹ
USD
2
Ngân hàng thế giới
WB
3
Nhà xuất bản
NXB
4
Tổng thu nhập quốc nội
GDP
5
Xoá đói giảm nghèo
XĐGN
6
Bình quân
BQ
7
Lao động - Thương binh và xã hội
LĐ-TB&XH

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

vi
DANH MỤC CÁC BẢNG

Để xem xét nền kinh tế của một đất nước tăng trưởng hay suy thoái
người ta đưa ra nhiều chỉ tiêu khác nhau: Tỷ lệ lạm phát, tình trạng thất
nghiệp, tốc độ tăng trưởng v.v… Trong đó chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng là chỉ
tiêu khá quan trọng tức là biết được thu nhập bình quân đầu người (GNP) là
bao nhiêu. Như chúng ta thấy thu nhập bình quân đầu người trong một hộ
phản ánh tình trạng một đất nước, thu nhập bình quân đó nói lên mức sống
của người dân ở một địa phương, một vùng hay một đất nước. Khi thu nhập
thực tế của người dân tăng lên thi khả năng được tiêu dùng hàng hoá và dịch
vụ được tăng lên do vây mức sống được cải thiện
Việt Nam với gần 80% dân số sống ở nông thôn và trên 70% lực lượng
lao động huyện hội làm việc ở nông thôn do đó phát triển một cách toàn diện
ở nông thôn để cải thiện và nâng cao mức sống có một ý nghĩa hết sức to lớn
vì vậy sản xuất Nông nghiệp của nước ta có vai trò quan trọng trong việc ổn
định đời sống kinh tế chính trị huyện hội
Mức sống của người dân nước ta như thế nào qua thu nhập trung bình
của họ đặc biệt là thu nhập trung bình hộ ở nông thôn.
Huyện Na Hang là một huyện miền núi của tỉnh Tuyên Quang. Trong
những năm qua, mặc dù Huyện đã được Đảng và nhà nước quan tâm, giúp đỡ
để cải thiện đời sống cho các hộ nông dân có thu nhập thấp trong Huyện.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

2
Nhưng cho đến nay tỷ lệ hộ nghèo của huyện vẫn chiếm tỷ lệ cao. Đây là một
vấn đề nhức nhối được đặt ra đối với lãnh đạo Huyện nói riêng và với các cấp
lãnh đạo nhà nước nói chung. Câu hỏi đặt ra ở đây là làm thế nào để nâng cao
thu nhập cho hộ nông dân nghèo, giúp họ nâng cao mức sống, cải thiện điều
kiện sinh hoạt và giảm nghèo.
Đứng trước những thực tế cấp bách này, tác giả quyết định chọn đề tài
“Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nông dân nghèo ở

giúp huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang xây dựng một số chính sách, chương
trình nhằm gia tăng thu nhập cho các hộ nông dân trên địa bàn
6. Những đóng góp mới của luận văn
- Các giải pháp trong đề tài được đưa ra nhằm giúp các hộ nông dân
phát triển sản xuất, tăng thêm thu nhập và xoá đói giảm nghèo. Những đề tài
này được xây dựng thông qua phân tích, xác định các nguyên nhân dẫn đến
nghèo đói, do vậy các giải pháp sẽ sát với thực tế và phù hợp với điều kiện
của nhóm hộ hơn.
- Phân tích sự tác động của các yếu tố tới thu nhập dựa vào những thực
trang đưa ra trong quá trình điều tra.
7. Bố cục của luận văn
Kết cấu luận văn gồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về thu nhập và nâng cao thu nhập của hộ nông
dân nghèo
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng thu nhập của hộ nông dân nghèo ở Huyện Na
Hang Tỉnh Tuyên Quang
Chương 4: Một số phương hướng và giải pháp nâng cao thu nhập cho hộ
nông dân huyện Na Hang Tỉnh Tuyên Quang Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

4
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THU NHẬP VÀ NÂNG CAO THU NHẬP
CỦA HỘ NÔNG DÂN NGHÈO
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1. Khái niệm về hộ

ngân quỹ”.
“Ăn chung” được hiểu theo nghĩa là các thành viên trong hộ được phân
phối bởi nguồn thu nhập chung, cái mà họ đã cùng sáng tạo ra trong một
khoảng thời gian nhất định.
Theo GS. Đào Thế Tuấn (1996): “Hộ là một nhóm người cùng chung
huyết téc sống chung hay không sống chung với những người khác huyết téc
trong cùng một mái nhà. Ăn chung và có chung ngân quỹ, có phân phối chung
nguồn thu nhập mà các thành viên của họ sáng tạo ra”.
1.1.1.2. Khái niệm hộ nông dân
Hộ nông dân: Là hộ gia đình mà hoạt động sản xuất chủ yếu của họ là
nông nghiệp. Ngoài các hoạt động nông nghiệp, hộ nông dân còn có thể tiến
hành thêm các hoạt động khác, tuy nhiên đó chỉ là các hoạt động phụ.
Theo GS. Đào Thế Tuấn (1996): “Hộ nông dân là những người có
phương tiện kiếm sống từ ruộng đất, chủ yếu sử dụng lao động gia đình cho
sản xuất, luôn nằm trong hệ thống kinh tế rộng hơn nhưng về cơ bản được đặc
trưng bởi sự tham gia từng thành phần vào thị trường với mức độ hoàn hảo
không cao”.
Quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá đang và sẽ còn tiếp tục diễn ra làm
thay đổi cơ cấu kinh tế nông thôn từ đó hoạt động kinh tế của nông hộ cũng
có những biến đổi sâu sắc. Huyện hội chắc chắn sẽ xuất hiện những nông hộ
vì lý do nào đó không có đất canh tác mà phải đi làm thuê tạo thu nhập. Cũng
có hộ chuyển sang nghề khác và cho thuê đất sản xuất của mình theo kiểu
“Phát canh thu tô”. Tất cả những hộ này đều được coi là hộ nông dân. Ngược
lại, những hộ không kinh doanh kiếm lợi từ ruộng đất mà hoạt động kinh tế

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

6
trong lĩnh vực ngành nghề phi nông nghiệp tuy sống ở nông thôn nhưng
không được coi là hộ nông dân.

Kinh tế hộ nông dân có 6 đặc trưng cơ bản là:
Thứ nhất: Có sự thống nhất chặt chẽ giữa quyền sở hữu với quá trình
quản lý và sử dụng các yếu tố sản xuất. Bởi vì sở hữu trong nông hộ là sở hữu
chung, mọi thành viên đều có thể sử dụng và tự quản lý các yếu tố sản xuất
như vốn, đất đai để tạo ra của cải đóng góp vào ngân quỹ chung của nông hộ.
Thứ hai: Lao động quản lý và lao động trực tiếp có sự gắn bó chặt chẽ
với nhau và được chi phối bởi quan hệ huyết thống. Thông thường chủ hộ
thường là người quản lý, điều hành và trực tiếp tham gia sản xuất. Với đặc
điểm này, việc tổ chức sản xuất trong nông hộ diễn ra tương đối linh hoạt và
thống nhất, cơ cấu tổ chức rất đơn giản.
Thứ ba: Quy mô sản xuất nhỏ, hơn nữa các nguồn lực có thể được huy
động hay thu hồi dễ dàng nên các nông hộ hoàn toàn có khả năng thích nghi
và tự điều chỉnh tốt. Gặp điều kiện thuận lợi, nông hộ có thể phát huy tối đa
nguồn lực cho sản xuất ngay cả khi giảm khẩu phần ăn tất yếu của mình.
Trong hoàn cảnh bất lợi, sản xuất được thu hẹp, thậm chí có thể quay về với
sản xuất giản đơn.
Thứ tư: Quan hệ huyết thống, họ téc, văn hoá và đặc biệt là lợi Ých kinh
tế chung của các thành viên Tất cả nằm đan xen trong một trật tự tổ chức hết
sức đa dạng và phức tạp, song chúng cùng tác động tạo nên sự đồng tâm, hiệp
lực giữa các thành viên, họ cùng tự giác lao động để phát triển kinh tế mà
không cần đến thưởng phạt. Điều này không thể có ở các đơn vị kinh tế khác.
Thứ năm: Kinh tế hộ được đặc trưng bởi sự tham gia từng phần vào thị
trường. Chính vì thế, trên thị trường đầu vào, hộ chỉ bán từng phần nguồn lực
của mình như: đất đai, sức lao động với thị trường đầu ra, nông hộ chỉ mua
những gì mà họ không có khả năng tự túc như: quần áo, thuốc men hay các đồ
gia dụng khác
Thứ sáu: Kinh tế hộ nông dân sử dụng sức lao động, nguồn vốn của
mình là chủ yếu. Chỉ khi nào quy mô sản xuất vượt quá nguồn lực sẵn có, các

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

9
dịch vụ ở nông thôn theo điều kiện từng vùng, từng bước xoá bỏ cơ chế sản
xuất tù cung tự cấp sang sản xuất hàng hoá theo hình thức trang trại gia đình
để tăng khả năng đầu tư cũng như các tiềm lực khác, góp phần nâng cao năng
suất cây trồng, vật nuôi, phát triển các ngành nghề dịch vụ, nâng cao thu nhập
cho người nông dân, từng bước “thành thị hoá” trong lòng nông thôn để phát
triển một nền nông nghiệp mạnh và bền vững.
1.1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến kinh tế hộ nông dân
* Các yếu tố về nguồn lực sản xuất của hộ nông dân
Hộ nông dân muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh nông lâm
nghiệp thì vấn đề có tính quyết định trước tiên là các yếu tố sản xuất bao gồm
đất đai, lao động, cơ sở vật chất như tư liệu sản xuất và tiền vốn, các yếu tố
này quyết định kết quả sản xuất kinh doanh của từng hộ.
- Đất đai là yếu tố sản xuất quan trọng và không thể thay thế trong hoạt
động sản xuất nông lâm nghiệp. Nếu quỹ đất nhiều, chất đất tốt, cơ cấu đất đai
phong phú thì càng có điều kiện sản xuất thuận lợi cho hộ nông dân lựa chọn
phương thức canh tác phù hợp. Nếu quỹ đất nhỏ, chất đất không màu mỡ sẽ
gây trở ngại đến quá trình sản xuất của hộ.
- Lao động là yếu tố sản xuất không thể thiếu được của bất kỳ quá trình
sản xuất xã hội nào. Khi nghiên cứu yếu tố lao động phải kể đến số lượng và
chất lượng của lao động. Chất lượng lao động thể hiện ở trình độ học vấn để
có khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật, đó là kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm
tập quán sản xuất được tích luỹ từ lâu đời. Số lượng lao động là yếu tố mặt
lượng bao gồm số thành viên trong gia đình hộ nông dân có khả năng lao
động. Nó chi phối đến kết quả sản xuất của nông hộ, đặc biệt là những vùng
chậm phát triển thì nhân tố lao động là nhân tố cơ bản để tạo ra của cải vật
chất cho gia đình. Ở vùng núi cao, vốn không nhiều, đất đai rộng lao động sẽ

ở đây không phải chỉ phụ thuộc vào cường độ, tính chất lao động mà còn phụ
thuộc nhiều vào điều kiện thiên nhiên và thời tiết. Sản xuất nông nghiệp lại
mang tính thời vụ cao và là một quá trình sản xuất liên tục. Chất lượng và
hiệu quả của mỗi khâu canh tác khó có thể dánh giá chính xác một cách riêng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

11
rẽ. Thước đo quyết định hiệu quả của hoạt động đầu tư là kết quả sản xuất
cuối cùng. Bởi thế, đơn vị sản xuất cơ bản có tính phổ biến trong nông nghiệp
là từng hộ gia đình nông dân chứ không phải là xí nghiệp quy mô lớn với
đông đảo công nhân như trong công nghiệp. Lao động cụ thể của từng hộ gia
đình có điều kiện gắn bó mật thiết với đất đai, cây trồng và vật nuôi để kịp
thời ứng phó với những thay đổi bất ngờ của ngoại cảnh và đòi hỏi của đối
tượng lao động. Điều đó càng trở nên thuận lợi và có hiệu quả hơn nếu người
lao động đồng thời cũng là người chủ đất đai cây trồng, vật nuôi, người chủ
trong tổ chức sản xuất và kinh doanh. Ở nước ta, kinh tế hộ nông dân đã trải
qua nhiều bước thăng trầm để đi đến được sự xác lập vai trò là một đơn vị
kinh tế tự chủ trong nông nghiệp và nông thôn. Những chủ trương và quyết
sách của Đảng và Nhà nước trong công cuộc đổi mới đã giải phóng hộ nông
dân khỏi sự trói buộc của cơ chế cũ, để họ làm chủ quá trình sản xuất kinh
doanh của mình, trực tiếp đối mặt với cơ chế thị trường Điều này đã trở
thành động lực để khơi dậy những tiềm năng trong mỗi hộ nông dân, góp
phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế nông nghiệp làm cho bộ mặt nông thôn
Việt Nam trong những năm đổi mới có nhiều khởi sắc.
Ở hầu hết các vùng, các miền đều xuất hiện những nông hộ làm ăn giỏi
vươn lên giàu có, đời sống văn hoá huyện hội nông thôn đã từng bước được
nâng cao, kinh tế nông hộ ngày càng đa dạng hơn về thành phần. Nhiều hộ đã
chuyển sang đa ngành chứ không còn tình trạng nông nghiệp thuần tuý nữa. Cơ
cấu thu nhập trong nông hộ cũng thay đổi, huyện hội nông thôn ngày càng ổn

Bắc 17,39%; Bắc Trung bộ 15,01%; Tây Nguyên 15%; Duyên hải miền
Trung 12,2%; đồng bằng sông Cửu Long 9,24%; đồng bằng sông Hồng
4,89%; và Đông Nam bộ vùng có tỷ lệ hộ nghèo thấp nhất là, 1,27%. Một số
tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo còn cao như: Điện Biên 38,25%; Lai Châu 31,82%; Hà
Giang 30,13%; Cao Bằng 28,22%; Yên Bái 29,23% Có tất cả 10 tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương với tỷ lệ hộ nghèo dưới 5% là: Quảng Ninh
3,52%; Hà Nội 1,52%; Bắc Ninh 4,27%; Hải Phòng 4,21%; Đà Nẵng 0,97%;

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

13
Tây Ninh 2,97%; Đồng Nai 0,91%; Bà Rịa - Vũng Tàu 1,71%; TP.Hồ Chí
Minh 0,00033%; Long An 4,58%.
- Sản xuất nông hộ vẫn còn mang tính tự cung tự cấp chưa thoát hẳn
những tư tưởng cũ, năng suất sản phẩm thấp và chưa ổn định.
- Thất nghiệp: thực tế cho thấy chúng ta dư thừa khoảng 20 - 30% lao động.
- Thất học: hiện nay trình độ văn hoá của nông hộ còn rất thấp, nhiều nơi
bà con nông dân còn chưa được đi học.
- Suy dinh dưỡng, bệnh tật, thiếu nước sạch.
Đây là những vấn đề cần giải quyết khi phát triển kinh tế nông hộ.
1.2.1.2. Xu hướng phát triển
Cũng như tất cả các nước kinh tế nông hộ nước ta không nằm ngoài quy
luật vận động tất yếu. Trong những năm tới, kinh tế nông hộ nói riêng và
nông thôn nói chung có thể phát triển theo những xu hướng sau:
- Xu hướng thứ nhất: Một bộ phận nông hộ sẽ trở thành các chủ thể sản
xuất kinh doanh độc lập hay nói cách khác một bộ phận kinh tế mang tính tự
cung tự cấp sẽ chuyển sang kinh tế hàng hoá, các nông trại sản xuất hàng hoá
được hình thành và phát triển.
- Xu hướng thứ hai: Sự hình thành các dịch vụ kinh tế, kĩ thuật phục vụ
cho ngành nông thương phẩm và đời sống của cư dân nông thôn. Quá trình

chăn nuôi). Loại hình này vẫn còn mang nặng tính tự cung tự cấp, đời sống
thành viên trong hộ không cao và phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên.
Tuy nhiên, cũng có một số hộ sản xuất hàng hoá theo kiểu nông trại nên có
sản phẩm là hàng hoá. Song loại hình này ở nước ta hiện còn chưa nhiều. Để
các hộ này phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập thì ngoài việc đầu tư thâm
canh phát triển kinh tế, phát triển những cây con có giá trị kinh tế, phá thế độc
canh còn phải có kĩ thuật canh tác tốt.
- Loại hình kinh tế hộ kiêm: Đây là loại hình kinh tế hộ đa dạng trong sản
xuất kinh doanh, họ vừa trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp (nơi có rừng), thuỷ
sản (nơi có biển, ao hồ ) vừa làm các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp hoặc

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

15
kết hợp với buôn bán. Trong thực tế, loại hộ này thường có vốn lại biết kinh
doanh, phát huy thế mạnh của mình để phát triển ngành nghề, buôn bán nhằm
tăng thu nhập cho hộ gia đình. Các loại hộ này thường có thu nhập cao hơn
các hộ thần nông thuần tuý.
- Loại hộ chuyên và hộ buôn bán: Đây là loại hình của hình thức mới hoặc
là hộ có vốn hoặc đi vay để phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp
(thường là hộ có tay nghề hoặc nghề truyền thống) hoặc là những hộ chuyên
buôn bán các mặt hàng ở nông thôn. Hình thức loại hộ này có thu nhập cao vì
họ biết cách tổ chức sản xuất, sản phẩm làm ra là sản phẩm hàng hoá.
Đối với loại hộ chuyên kinh doanh ở nông thôn ra đời là sự phát triển
của nền kinh tế thị trường nên một số hộ có vốn lại có đầu óc kinh doanh đi
theo hướng này và thấy được hiệu quả của nó mang lại nên họ tách hoặc
nhượng lại ruộng đất của mình cho người khác để tham gia vào thị trường.
Trong sự vận động của nền kinh tế, quá trình biến đổi cơ cấu kinh tế diễn
ra rất khác nhau. Có vùng sản xuất hàng hoá thuần nông, có vùng sản xuất
hàng hoá tuỳ theo điều kiện địa lí và điều kiện tự nhiên của mỗi vùng. Tuy

phẩm tươi sống.
Khoản đầu tư thứ hai là cho xây dựng hệ thống thuỷ lợi: Năm 1988 Thái
Lan có 604 dự án thuỷ lợi quy mô vừa và lớn, 4988 dự án quy mô vừa và
nhỏ, tạo điều kiện cung cấp đủ nước tưới cho các nông trại. Bên cạnh đó
Chính phủ còn đầu tư vào việc cung cấp phân bón cho các nông trại. Trong
thời kỳ “cách mạng xanh” Thái Lan đã cho phộp nhập khẩu phân bón không
tính thuế.
- Chính sách tín dụng nông nghiệp: Thái Lan là một trong những nước
rất thành công trong việc cung cấp tín dụng nông nghiệp.Tín dụng nông
nghiệp của Thái Lan thông qua Ngân hàng quốc gia, Ngân hàng thương mại,
Ngân hàng nông nghiệp và các HTX nông nghiệp. Ngoài ra còn có các tổ
chức phi chính phủ khác cũng cung cấp tín dụng cho nông dân. Các tổ chức
này có rất nhiều cách cho vay như: tín chấp hoặc thế chấp bằng mọi tài sản cố
định thậm chí cả bằng thóc. Song phần lớn các khoản cho vay của HTX là

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

17
dành cho vốn lưu động ngắn hạn, các khoản cho vay cũng gắn liền với từng
loại cây trồng và định hướng phát triển cây trồng theo ý đồ của Chính phủ.
Các tổ chức này rất có uy tín đối với nông dân và đã lôi kéo thu hút được hơn
một nửa số hộ nông dân tham gia.
1.2.4.2. Kinh nghiệm phát triển kinh tế hộ của Trung Quốc
Trung Quốc là nước đông dân nhất thế giới (khoảng 1,2 tỷ) trong đó có
hơn 800 triệu người là nông dân. Chính vì vậy mà vấn đề phát triển kinh tế
nông hộ được chính phủ Trung Quốc quan tâm đặt lên hàng đầu. Và trong
vòng 15 năm trở lại đây kinh tế nông nghiệp nông thôn đã đạt được thành tựu
đáng kể. Và để đạt được những điều đó Trung Quốc đã đặc biệt coi trọng đến
sự phát triển kinh tế nông hộ với ba mòi nhọn là: Dùa vào chính sách, dùa vào
đầu tư và dùa vào khoa học kĩ thuật.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status