TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
NGUYỄN THIỆN THẮNG
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THU NHẬP
CỦA HỘ KHAI THÁC LƯỚI RÊ VEN BỜ (
1
1 GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề
Kiên Giang là một tỉnh ven biển thuộc Đồng bằng Sông Cửu Long, được nhiều người biết
đến là vùng đất văn hoá và du lịch nổi tiếng. Kiên Giang còn có tiềm năng kinh tế với
nguồn lợi vô cùng to lớn về thuỷ sản. Thủy sản được xem như là thế mạnh của Kiên
Giang, trong đó khai thác thủy sản được đánh giá là có tiềm năng lớn nhất của cả nước.
Năm 2012, tỉnh đã phát triển thêm 115 chiếc tàu, dẫn đến tổng số tàu cá của tỉnh được nâng lên
đến 12.365 chiếc với tổng công suất là 1.671.514 cv, bình quân 135,18cv/chiếc. Sản lượng khai
thác 421.201 tấn, đạt 100,29 % kế hoạch, tăng 6,12% so với cùng kỳ (Sở Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn, 2013). Trong số các huyện ở Kiên Giang, Phú Quốc được xem là một trong
những địa phương có sản lượng khai thác thủy sản đứng đầu tỉnh. Phú Quốc được mệnh
danh là Đảo Ngọc, là một trong những đảo lớn nhất của Việt Nam, cùng với các đảo khác
tạo thành huyện huyện đảo Phú Quốc trực thuộc tỉnh Kiên Giang. Ngư trường Phú Quốc
rất phong phú và đa dạng có nhiều loài thủy hải sản có giá trị kinh tế cao như: tôm, mực,
ghẹ, các loài cá, ngọc trai. Qua 10 năm từ 2002 – 2012, sản lượng khai thác hải sản liên tục
tăng, từ 270.000 tấn lên 421.201 tấn, đạt tốc độ tăng bình quân 4,5%/năm (Phân viện Quy
hoạch thủy sản phía Nam, 2013). Các loại nghề khai thác sử dụng thuyền thủ công, tàu
thuyền công suất nhỏ chủ yếu khai thác gần bờ có tỷ lệ lao động bình quân từ 4-5
người/tàu, tỷ lệ này cao hơn ở các tàu khai thác hải sản xa bờ (trên 10 lao động/tàu). Các
nghề khai thác chính của huyện Phú Quốc gồm có lưới vây, lưới rê, nghề câu. Trong đó, lưới
rê là nghề mang lại thu nhập ổn định cho ngư dân. Tuy nhiên, việc khai thác thủy sản nói
chung và nghề lưới rê ven bờ nói riêng hiện tại còn gặp nhiều khó khăn như nguồn lợi thủy
sản ven bờ bị khai thác có xu hướng giảm về sản lượng, thu nhập mang lại còn bấp bênh
và những rủi ro từ khai thác đến tiêu thụ sản phẩm. Từ thực tế trên, việc thực hiện đề tài
“Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới thu nhập của hộ khai thác lưới rê ven bờ (
tổng số lao động,…
Phương trình hồi quy tuyến tính về thu nhập của hộ khai thác thủy sản trong năm (triệu
đồng/hộ/tháng) của các tàu khai thác ven bờ được viết như sau:
YTN = A + β1X1 + β2X2 + β3X3 + β4X4 + β5X5 + β6X6 +….. + βnXn
Trong đó: YTN: Hàm thu nhập (triệu đồng/người/tháng)
A: Hằng số
β1..... βn: Hệ số chặn β
Giả định các biến độc lập có ảnh hưởng tới thu nhập như sau:
X1: Lượng nhớt cả năm (lít)
X2: Chiều dài ngư cụ (m)
X3: Tổng số chuyến một năm (chuyến)
Phương pháp phân tích SWOT: dùng để phân tích điểm mạnh, cơ hội cũng như điểm yếu
và thách thức để đưa ra giải pháp và giải pháp nâng cao thu nhập cho phù hợp với điều
kiện thực tiễn của nông hộ tại địa bàn khảo sát.
3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Thông tin chung về hộ khai thác lưới rê ven bờ tại huyện Phú Quốc
Lưới rê ở Phú Quốc có hai loại là lưới rê ghẹ hay lưới rê tầng đáy. Chiều dài lưới dao động
từ 2.000-4.000 m, chiều cao lưới từ 0,5-1,5 m. Kích thức mắt lưới 2a=50-100 mm. Đối
tượng khai thác chủ yếu của lưới là ghẹ, ngoài ra còn có một số loài thủy sản khác. Kết quả
phân tích Bảng 1 cho thấy, ngư dân khai thác lưới rê phần lớn ở độ tuổi trung niên 48,10
tuổi (±9,97), nên các ngư dân này đều có kinh nghiệm trung bình là 20,50 năm (±7,48).
Ngoài ra, một số ngư dân có kinh nghiệm ít nhất là 6 năm (2,40%) và lâu năm nhất là 35
năm (2,40%).
Bảng 1: Một số thông tin cơ bản của hộ khai thác thủy sản ở Phú Quốc
Nội dung
Tuổi của chủ hộ khai thác (tuổi)
Số năm kinh nghiệm (năm)
Số người trong gia đình (người)
Số người trong độ tuổi lao động (người)
Lao động gia đình tham gia (người)
Lao động thuê tại địa phương (người)
Lao động thuê từ vùng khác đến (người)
Giá trị
3,73±0,92
1,78±0,61
1,78±1,06
0,29±0,93
Ngoài ra, lao động trên tàu bao gồm: lao động gia đình tham gia, lao động thuê tại địa
phương và lao động thuê từ vùng khác đến. Đối với lao động gia đình tham gia bình quân
1,78 người (±0,61) trong một gia đình và mỗi hộ có từ 1 đến 3 người tham gia. Trong đó,
gia đình có 2 người tham gia là nhiều nhất (58,50%). Đối với lao động được thuê tại địa
phương, thì bình quân khoảng 1,78 người (±1,06) và số lao động mà chủ hộ thuê nhiều
nhất là 2 người (36,60%). Mặt khác, có một vài hộ không thuê lao động tại địa phương mà
họ thuê lao động từ vùng khác đến. Số lượng lao động này rất ít, trung bình 0,29 người
(±0,93) và có đến 35 hộ (85,40%) không thuê lao động ngoài địa phương.
3.2 Phân tích hiện trạng khai thác lưới rê ven bờ tại huyện Phú Quốc
Vụ Bắc (tháng 10 đến tháng 3 AL hoặc tháng 9 đến tháng 4 AL): Trung bình một năm ngư
dân khai thác khoảng 5 tháng (±1,36) và đánh bắt 1 ngày/chuyến, điều này cho biết bình
quân số chuyến biển/vụ mà ngư dân khai thác là 129 chuyến (±54,10), và đánh được 1,05
mẻ lưới/ngày (±0,22) .
4
Vụ Nam (tháng 4 đến tháng 9 AL): ở Vụ Nam số ngày/chuyến và số mẻ lưới/ngày tương
tự như ở vụ Bắc. Chỉ có sự chênh lệch không lớn về số chuyến biển/vụ và số tháng khai
thác/năm. Cụ thể là: bình quân ngư dân đi biển khoảng 122 chuyến/vụ (±24,40) và 4,37
đổi. Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thanh Long và Nguyễn Thanh Phương (2010),
mặc dù nghề lưới rê có thể hoạt động đánh bắt quanh năm, nhưng những tháng cho sản
lượng cao chỉ tập trung vào tháng 10 đến tháng 2 năm sau (Âm lịch), những tháng cho sản
lượng thấp là từ tháng 3 đến tháng 9 (Âm lịch). Qua khảo sát, ngư dân chủ yếu đánh bắt ở
2 ngư trường khai thác chính là vùng ven biển Đông Bắc và Tây Nam của đảo, vì đây là
những nơi có thảm cỏ biển và là môi trường tự nhiện mà phần lớn loài ghẹ sinh sống. Bên
cạnh đó, khảo sát cho thấy ở cả hai mùa vụ khoảng cách hải lý mà ngư dân đánh bắt gần
nhất là 3 hải lý và xa nhất là 20 hải lý, bình quân khoảng 10,60 hải lý (±4,87). Và độ sâu
bình quân khoảng 13 m (±4,29), so với khoảng cách hải lý và độ sâu của các tàu lưới khác
thì tàu đánh bắt lưới rê gần và không sâu.
Bảng 4: Khoảng cách hải lý và độ sâu đánh bắt của tàu lưới rê
Thông tin
Vụ Bắc
Khoảng cách (hải lý)
10,60±4,87
Độ sâu (m)
13±4,29
Vụ Nam
10,60±4,87
13±4,29
Từ kết quả khảo sát 41 hộ ngư dân khai thác lưới rê ven bờ cho thấy, sản lượng khai thác
bình quân mỗi chuyến biển là 34,30 kg/chuyến (±10,10). Trong đó, sản lượng khai thác
thấp nhất là 18 kg/chuyến và nhiều nhất là 70 kg/chuyến.
Vụ Bắc: Tổng sản lượng bình quân đạt 34,90 kg/chuyến (±11,00) và 4,55 tấn/vụ Bắc
(±2,81). Trong đó, ghẹ là loài được đánh bắt chủ yếu, bình quân ngư dân khai thác đánh
bắt được 24,40 kg/chuyến (±5,27). Tùy theo sự biến động giá trên thị trường mà giá ghẹ
bán ra thay đổi, giá ghẹ thường dao động từ 80.000 đồng/kg – 150.000 đồng/kg.
Khảo sát ở Bãi Thơm và An Thới cho thấy, bình quân giá bán ở mức 107 ngàn đồng/kg
1. Ghẹ vụ Bắc
24,40±5,27
107±28,80
2. Tôm vụ Bắc
6,89±3,93
110±10,00
3. Cá Xô vụ Bắc
11,10±4,04
29±3,54
Tổng sản lượng vụ Bắc (tấn/vụ)
4,55±2,81
Sản lượng vụ Nam (kg/chuyến)
33,70±9,83
1. Ghẹ vụ Nam
24,40±5,27
107±28,80
2. Tôm vụ Nam
5,67±4,21
110±10,00
3. Cá Xô vụ Nam
10,40±4,09
29,20±3,01
Tổng sản lượng vụ Nam (tấn/vụ)
4,09±1,46
Sản lượng cả năm (tấn/năm)
8,64±3,88
Tổng sản lượng bình quân cả năm mà ngư dân khai thác được là 8,64 tấn/vụ (±3,88). Theo
nghiên cứu của Nguyễn Thanh Long và Nguyễn Thanh Phương (2010) thì sản lượng khai
thác cả năm của tàu lưới rê ở tỉnh Sóc Trăng là 15,07 tấn/năm (±10,27). So với kết quả
khảo sát thì mức sản lượng bình quân cao gần gấp đôi sản lượng khai thác của ngư dân
2,75 năm/lần (±1,28).
Bảng 7: Thông tin về chi phí sửa chữa phương tiện khai thác
Nội dung
Giá trị/lần sửa (triệu đồng)
Định kỳ sửa (năm/lần)
Vỏ tàu
7,27±3,50
1,02±0,16
Máy tàu
4,16±1,91
1,42±0,71
Thiết bị khác
2,63±1,60
2,75±1,28
Chi phí biến đổi bình quân cho mỗi chuyến biển được khảo sát từ các ngư dân là 1,14 triệu
đồng (±0,46) ở mỗi vụ. Chi phí dầu trung bình mỗi chuyến biển là 420.000 đồng (±0,18)
tương ứng với 18,20 lít dầu/chuyến (±7,31). Bên cạnh đó, lương thực thực phẩm rất quan
trọng cho một chuyến ra khơi, bình quân chi phí lương thực và thực phẩm cho mỗi chuyến
biến là 450.000 đồng (±0,33). Ngoài hai khoản mục trên, nhớt và sửa chữa nhỏ cũng tốn
một khoản chi phí đáng kể, cụ thể như là trong một chuyến biển, bình quân mỗi chuyến
biến cần 2,21 lít nhớt (±1,07), với chi phí là 170.000 đồng/chuyến (±0,83), còn lại khoản
chi phí sửa chữa nhỏ là 170.000 đồng/chuyến (±0,80). Những khoản tiền cho nước đá và
chi phí khác tương đối thấp, mỗi chuyến biển chỉ sử dụng 1 cây nước đá tương ứng với chi
phí là 20.000 đồng. Như vậy, chi phí cho việc đi biển sẽ phụ thuộc vào khoảng cách mà
tàu đánh bắt và thời tiết mùa vụ khai thác.
Bảng 8: Chi phí biến đổi bình quân cho mỗi chuyến biển
Vụ Bắc
Khoản mục chi phí
Số lượng
Lương thực, thực phẫm
Sửa chữa nhỏ
Chi phí khác
Chi phí mỗi chuyến
(triệu đồng/chuyến)
Chi phí biến đổi hàng
năm (triệu đồng/năm)
Vụ Nam
1,14±0,46
296±157
Tổng chi phí bình quân mà mỗi hộ chi ra cho mỗi chuyến biển là 1,38 triệu đồng (±0,45),
chi phí này bao gồm chi phí cố định và chi phí biến đổi. Mức thu nhập của các ngư dân
khai thác lưới rê ven bờ mỗi chuyến biển từ 1,4 đến 7 triệu đồng, bình quân mỗi chuyến
7
thu được 3,13 triệu đồng (±1,12). Và lợi nhuận bình quân sau mỗi chuyến biển mà các ngư
dân đạt được là 1,75 triệu đồng (±1,10), với tỷ suất lợi nhuận là 1,37 lần (±0,97), điều này
có nghĩa là 1 đồng chi phí bỏ ra sẽ thu về 1,37 đồng lợi nhuận. Kết quả này cao hơn nhiều
so với tỷ suất lợi nhuận (0,74 lần) của nghề lưới rê 3 lớp ở tỉnh Bạc Liêu (Nguyễn Thanh
Long, 2013). Về hiệu quả chi phí thì khi đầu tư 1 đồng chi phí thì thu được 2,37 đồng
doanh thu. Ngoài ra, tồng chi phí biến đổi của khảo sát (296 triệu đồng/năm) cao hơn so
với nghiên cứu tại tỉnh Sóc Trăng của Nguyễn Thanh Long và Nguyễn Thanh Phương
(2010) (148,93 triệu đồng/năm). Điều nay cho thấy, do giá nhiên liệu cao hơn so với những
năm trước, làm cho những mặt hàng khác tăng trong thời gian gần đây nên hầu như chi phí
biến đổi của các hộ khai thác tăng lên. Theo kết quả khảo sát, chi phí sinh hoạt bình quân
một tháng mà hộ khai thác phải chi là 6,98 triệu đồng (±1,95), khoản chi phí này không
và 50% cho lao động, với tỷ lệ 17,10%. Nhìn chung, tỷ lệ lợi nhuận bình quân một chủ tàu
nhận được với chia là 68,50% lợi nhuận và còn lại 31,50% lợi nhuận cho lao động.
Bảng 10: Hình thức ăn chia sau mỗi chuyến biển
Phần trăm lợi nhuận (%)
Chủ tàu
Lao động
10 – 20
0
36,50
30 – 40
0
46,40
50
17,10
17,10
60 – 70
46,40
Thu nhập
(triệu đồng)
Lợi nhuận
(triệu đồng)
11
32,70±9,04
56,80±11,24
24,10±5,84
Đi làm công nhân
5
6,50±1,41
42,60±10,14
36,10±9,06
Vá lưới thuê
4
37,50±2,89
Kích cỡ
hải sản
Sản lượng
hải sản
- Không đổi
68,30
61
7,30
- Giảm 0 - 20
31,70
39
48,70
0
0
44
- Không đổi
- Giảm trên 20
Thay đổi so với 10 năm trước (%)
- Không có ý kiến
9
Có sự chênh lệch mức độ thay đổi giữa 5 năm và 10 năm trước, vì có đến 48,80% khảo sát
ngư dân không có ý kiến về việc thay đổi so với 10 năm trước về thành phần loài và kích
cỡ hải sản, và 53,70% không có ý kiến về việc thay đổi về sản lượng. Tuy nhiên, sản lượng
hải sản so với 10 năm trước giảm cũng đáng kể, trong đó, mức độ giảm dưới 20% chiếm tỷ
lệ 24,30% và 17,10% giảm ở mức độ trên 20%.
Ngoài ra, việc tăng dân số đang tạo sức ép đối với các nguồn tài nguyên biển. Mặc dù sản
xuất thủy sản sản tăng nhanh nhưng không tương xứng tốc độ phát triển của lượng tàu
thuyền đánh bắt, dẫn đến hiện tượng khai thác quá mức, đặc biệt là ở các vùng nước nông.
Bên cạnh đó, các hoạt động sản xuất nông nghiệp ở đất liền cũng làm thay đổi tình trạng
môi trường nước xung quanh đảo Phú Quốc, gây ra hiện tượng tăng chất lắng đọng và ô
nhiễm (Ngọc Hà, 2013). Theo nghiên cứu của Nguyễn Trung Vẹn, Lê Xuân Sinh và Đặng
Thị Phượng (2012), khi so sánh thành phần loài, kích cỡ sản phẩm và sản lượng hải sản
khai thác so với 5 và 10 năm trước thì hầu hết bị giảm. Tỷ lệ giảm của thành phần loài
tương ứng là 7,70% và 16,30%, kích cỡ hải sản cũng giảm lần lượt là 8,70% và 17,10%.
Đáng quan tâm nhất là sản lượng khai thác hải sản hiện nay đã giảm tương ứng 20,10% và
36,20%. Kết quả khảo sát các ngư dân cho thấy mức độ rủi ro về năng suất, sản lượng (kể
cả rủi ro bất thường do thiên tai gây ra) và rủi ro về thị trường được ngư dân chú trọng và
quan tâm nhiều nhất với mức điểm bình quân lần lượt là 9,78 điểm và 8,73 điểm. Bên cạnh
đó, bình quân trên một năm có 4-6 chuyến bị lỗ vì chịu ảnh hưởng ít nhiều từ những rủi ro
trên. Vì vậy, ngư dân cần được hỗ trợ để có thể giảm những rủi ro trong sản xuất và ổn
định sản xuất.
Bảng 13: Nhận thức của các ngư dân về các rủi ro trong khai thác hải sản
4,73±2,32
Số chuyến biển bị lỗ/năm (chuyến)
4,61±1,48
Kết quả khảo sát về các rủi ro trên hoàn toàn tương đồng với kết quả nghiên cứu của
Nguyễn Trung Vẹn, Lê Xuân Sinh và Đặng Thị Phượng (2012), trong đó nghiên cứu cho
biết nhóm rủi ro về năng suất, sản lượng (kể cả rủi ro bất thường do thiên tai gây ra) là tác
động nhiều nhất đối với nghề khai thác hải sản với điểm trung bình là 9,71 (±0,71), kế đến
là rủi ro thị trường với điểm trung bình là 8,86 (±1,00). Như vậy, dù khảo sát ở 2 địa bàn
khác nhau, nhưng nhận thức của các ngư dân về các rủi ro trong khai thác hải sản là như
nhau, chính những rủi ro này đã tác động trực tiếp đến sản lượng khai thác và thu nhập của
các hộ ngư dân.
3.5 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ khai thác lưới rê ven bờ
Hệ số tương quan (R) nói lên tính chặt chẽ của mối quan hệ giữa biến phụ thuộc (Y) và
các biến độc lập (Xi). Hệ số R = 87,90% cho thấy thu nhập bình quân trên một năm đi biển
(triệu đồng/năm) và các biến độc lập như: lượng nhớt cả năm, chiều dài ngư cụ và tổng số
10
chuyến một năm, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và ảnh hưởng đến thu nhập. Hệ số xác
định R2 = 77,3% cho thấy các yếu tố nêu trong mô hình tác động đến thu nhập được giải
thích bởi 87,9% theo mô hình còn lại là do các yếu tố khác tác động không giải thích trong
mô hình này.
Bảng 14: Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ khai thác hải sản
Hệ số B
Sai số Giá trị t
Diễn giải
chuẩn
0,118
3
Lượng nhớt cả năm (lít)
0,689
0,181
3,809
0,001
4
Số lao động thuê (người)
61,293
67,564
0,907
0,371
5
Chiều dài ngư cụ (m)
X2: Chiều dài ngư cụ (m)
X3: Tổng số chuyến một năm (chuyến)
X1: Lượng nhớt sử dụng cả năm trong khai thác ven bờ có mối tương quan thuận với thu
nhập của hộ. Nếu lượng nhớt sử dụng trong năm tăng lên 1 lít thì thu nhập sẽ tăng thêm
0,689 triệu đồng/năm. Trong điều kiện các yếu tố khác không thay đổi.
Hình 2: Biều đồ thể hiện mối quan hệ giữa lượng nhớt và thu nhập
Hình 2 thể hiện lượng nhớt và thu nhập, trong nhóm
rộng.
Các điểm mạnh (S)
STRENGTHS
S1: Gần ngư trường KT.
S2: Kinh nghiệm lâu năm.
S3: Có sẵn thị trường đầu ra.
S4: Nguồn lao động dễ tìm.
S5: Nhu cầu sản phẩm từ khai
thác cao.
S6: Có quy định và quản lý về
KTHS.
KẾT HỢP SO
- Tăng cường hỗ trợ ngư
dân trong khai thác.
- Mở rộng thị trường đầu
ra cho sản phẩm.
- Hỗ trợ lao động với các
chính sách bảo hiểm
Các điểm yếu (W)
WEAKNESSES
W1: Thiếu vốn sản xuất.
W2: Bị thương lái ép giá.
W3: Sản lượng hải sản đang có
chiều hướng giảm.
KẾT HỢP WO
- Chính quyền và ngân
3.6.2 Một số thuận lợi và khó khăn trong khai thác hải sản
Có 20 hộ (48,80%) cho rằng thuận lợi lớn nhất của họ về mặt kỹ thuật là có kinh nghiệm
nhiều, ngoài ra còn có 9 hộ (22%) có thuận lợi về máy móc và ngư cụ được đầu tư phù hợp
và hoạt động tốt, còn lại một số hộ không có ý kiến (29,20%). Bên cạnh đó, thị trường
cũng có nhiều điều kiện thuận lợi cho các ngư dân, khảo sát cho thấy bán sản phẩm nhanh
và thị trường có sẵn là những thuận lợi lớn nhất cho ngư dân khai thác với tỷ lệ lần lượt là
29,30% và 26,80%. Việc bán cho vựa quen biết dễ tiêu thụ chiếm tỷ lệ tương đối ít với
9,80% số hộ, trong khi đó có 34,10% hộ khai thác không có ý kiến. Tài chính là vấn đề rất
quan trọng ảnh hưởng đến việc đầu tư và thu nhập của ngư dân, khảo sát 41 hộ cho thấy
chỉ có 2 hộ (4,9%) có đủ vốn cho việc đầu tư khai thác hải sản, trong khi đó có 95,10% còn
lại không có ý kiến.
Song song với thuận lợi vẫn còn tồn đọng một số khó khăn mà nhiều ngư dân đang gặp
phải. Kết quả Bảng 17 cho thấy, có 15 hộ ngư dân (36,60%) gặp khó khăn về vấn đề neo
đậu tàu, còn lại là máy móc, ngư cụ xuống cấp và tiếp cận khoa học kỹ thuật còn chậm
chiếm tỷ lệ như nhau với 17% và 10%. Về mặt tài chính, hầu hết ngư dân thiếu vốn để đầu
tư cho khai thác hải sản, có 28 hộ (68,30%) gặp khó khăn, 11 hộ (26,80%) gặp khó khăn
trong việc vay vốn, còn lại không có ý kiến (4,90%).
13
Bảng 16: Những thuận lợi của hộ khai thác hải sản ven bờ
Thuận lợi
Tần suất xuất hiện
Có kinh nghiệm
20
Máy móc ngư cụ tốt
9
Không ý kiến
12
29,20
4,90
95,10
26,80
9,80
29,30
34,10
Phần trăm (%)
17,10
36,60
17,10
29,20
11
28
2
41
26,80
68,30
4,90
100
Khó khăn về thị cho thấy có 100% ngư dân khai thác gặp khó khăn trong việc bán sản
phẩm vì bị thương lái ép giá. Tóm lại, để có thể giúp ngư dân tránh những khó khăn trong
khai thác hải sản thì chính quyền địa phương cũng như Nhà nước cần xem xét lại những
mong muốn, đề xuất của ngư dân nhằm tìm ra hướng giải quyết thích hợp nhất để nâng cao
thu nhập cho các hộ khai thác.
3.6.3 Đề xuất một số giải pháp nâng cao thu nhập cho hộ khai thác lưới rê ven bờ
Từ kết quả khảo sát và phân tích ma trận SWOT cho thấy, có đến 16 hộ (39%), đề xuất về
5
12,20
Giải quyết neo đậu
16
39
Nâng công suất tàu
6
14,60
Tập huấn cho ngư dân về kỹ thuật đánh bắt
3
7,30
Không ý kiến
8
19,60
Cấp vốn
15
36,60
Hỗ trợ vay dài hạn
4
9,80
Hỗ trợ vay với mức ưu đãi
8
19,50
Ổn định giá nhiên liệu
9
22
Không ý kiến
5
12,10
Hệ thống tiêu thụ sản phẩm hiệu quả hơn
15
mức vay ưu đãi. Đồng thời ổn định giá đầu ra trên thị trường và cải thiện hệ thống tiêu thụ
sản phẩm tốt hơn nhằm giúp cho ngư dân tránh bị ép giá.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Truy cập 07/11/2014.
Ngọc Hà, 2013. Đa dạng sinh học khu bảo tồn biển Phú Quốc và các dự án bảo tồn.
Truy cập 07/11/2014.
Nguyễn Thanh Long và Nguyễn Thanh Phương, 2010. Phân tích khía cạnh tài chính và kĩ
thuật của các nghề khai thác thủy sản chủ yếu ở tỉnh Sóc Trăng. Tạp chí Khoa học,
Đại học Cần Thơ. 2010:14 360-372.
Nguyễn Thanh Long, 2013. Khảo sát hiệu quả kỹ thuật và tài chính của nghề lưới rê ba lớp
ở tỉnh Bạc Liêu. Tạp chí khoa học trường Đại học Cần Thơ. Số 29 (2013): trang 104
– 108.
Nguyễn Trung Vẹn, Lê Xuân Sinh và Đặng Thị Phượng, 2012. Phân tích hiệu quả khai
thác hải sản ở Đồng bằng sông Cửu Long. Hội nghị khoa học trẻ ngành thủy sản toàn
quốc lần thứ IV. Số 06/2013: trang 662 – 670.
Nham Hoàng, 2014. Chuyển đổi nghề trong khai thác thủy sản: Hướng đi hiệu quả. http://
Truy cập 21/11/2014.
Phân viện Quy hoạch Thủy sản phía Nam, 2012. Quy hoạch tổng thể phát triển thủy sản
tỉnh Kiên Giang đến năm 2020.
Trọng Thân và Quang Nhận, 2013. Phát huy lợi thế, tập trung sản xuất lúa, nuôi trồng thủy
sản thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế
Vassdal et al, 2011. Technical Efficiency of Gillnet Fishery in Da Nang, Vietnam:
Application of stochastic production frontier. Fish for the People 9(1): 26-39.
16