TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH
--- ---
NGUYỄN KIM NGÂN
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN THU NHẬP NÔNG HỘ TẠI THỊ XÃ
BÌNH MINH – VĨNH LONG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành Kinh tế nông nghiệp
Mã số ngành: 52620115
Tháng 12 - 2014
1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH
--- ---
NGUYỄN KIM NGÂN
MSSV: 4114633
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN THU NHẬP NÔNG HỘ TẠI THỊ XÃ
BÌNH MINH – VĨNH LONG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành Kinh tế nông nghiệp
Nguyễn Kim Ngân
i
TRANG CAM KẾT
Tôi xin cam kết luận văn này được hoàn thành dựa trên các kết quả
nghiên cứu của tôi và các kết quả nghiên cứu này chưa dùng cho bất cứ luận
văn cùng cấp nào khác.
Cần Thơ, ngày tháng
năm
Người thực hiện
Nguyễn Kim Ngân
ii
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…..………………………………………………………………………………
…..………………………………………………………………………………
…..………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………..
.………………………………………………………………………………….
.………………………………………………………………………………….
.………………………………………………………………………………….
.………………………………………………………………………………….
.………………………………………………………………………………….
.………………………………………………………………………………….
.………………………………………………………………………………….
.………………………………………………………………………………….
.………………………………………………………………………………….
.……………………………………………………………………………….....
..............................................................................................................................
Cần Thơ, ngày
tháng
. năm
Giảng viên hướng dẫn
(Ký tên và ghi họ tên)
iv
MỤC LỤC
Trang
Chương 1: GIỚI THIỆU................................................................ ............... 1
3.2 Thực trạng sản xuất của thị xã Bình Minh – Vĩnh Long ...... .............. . 27
3.2.1 Thực trạng sản xuất nông nghiệp.. ................................. .................... 27
3.2.2 Thực trạng sản xuất công nghiệp ...... ..................................... ........... 32
3.2.3 Tình hình sản xuất thương mại – dịch vụ .......... ....................... ........ 33
Chương 4: PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THU NHẬP
CỦA CÁC NÔNG HỘ Ở THỊ XÃ BÌNH MINH – VĨNH LONG ...... .. ... 34
4.1 Một số đặc điểm của nông hộ nghiên cứu ......... ...................... ............ 34
4.1.1 Đặc điểm của chủ hộ ........... ...............................................................34
4.1.2 Đặc điểm của các thành viên trong hộ ........... ............... .....................36
4.1.3 Đặc điểm về diện tích đất sở hữu của nông hộ ....... .................. ........ 41
4.2 Thực trạng thu nhập của nông hộ............. ....................... ..................... 41
4.2.1 Tổng thu nhập và thu nhập bình quân của các nông hộ ........... ........ 41
4.2.2 Cơ cấu thu nhập của các nông hộ ..................................................... 43
4.2.3 Thực trạng thu nhập nông nghiệp của nông hộ..... ................... ......... 46
4.2.4 Tình hình tham gia các hoạt động phi nông nghiệp của nông hộ .... .. 48
4.2.5 Thực trạng đa dạng hóa thu nhập của các nông hộ .......................... . 49
4.2.6 Tình hình vay vốn của các nông hộ .............................. .................... 50
4.2.7 Tình hình tham gia các hoạt động đoàn thể của các nông hộ ........... . 51
4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập các nông hộ .. ........................ ...... 52
4.4 Các giải pháp cải thiện thu nhập cho nông hộ ...................................... 55
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .. ............................................ ... 58
5.1 Kết luận .......................................................................................... ...... 58
5.2 Kiến nghị .................................................................................. ............ 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................ . 60
vi
DANH MỤC BIỂU BẢNG
Trang
Bảng 4.10 Các hoạt động nông nghiệp chủ yếu của nông hộ . .................... 46
Bảng 4.11 Nhóm tỷ trọng thu nhập từ hoạt động nông nghiệp .................. 47
Bảng 4.12 Thu nhập phi nông nghiệp của các nông hộ phân theo ngành nghề
..................................................................................................................... 48
Bảng 4.13 Số nguồn thu nhập, SID và thu nhập của nông hộ . .................. 49
Bảng 4.14 Thực trạng vay vốn của các nông hộ .......................................... 50
Bảng 4.15 Giá trị trung bình và độ lệch chuẩn của các biến trong mô hình 52
Bảng 4.16 Kết quả hồi quy các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập bình quân của
nông hộ ........................................................................................................ 53
viii
DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 3.1 Bảng đồ hành chính thị xã Bình Minh . ....................................... 21
Hình 3.2 Cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp của Bình Minh năm 2010,
2013.... ................................................................................. ........................27
Hình 3.3 Tỷ trọng các loại rau màu chính của thị xã Bình Minh năm 2013 29
Hình 4.1 Đặc điểm giới tính chủ hộ ............................................................ 34
Hình 4.2 Trình độ học vấn của chủ hộ ........................................................ 35
Hình 4.3 Trình độ học vấn của các thành viên trong hộ ............................. 38
Hình 4.4 Nghề nghiệp của các thành viên .... ............................................. .39
Hình 4.5 Cơ cấu thu nhập nông hộ tại thị xã Bình Minh .......................... ..44
Hình 4.6 Cơ cấu thu nhập nông hộ tại thị xã Bình Minh phân theo nghề nghiệp
tạo thu nhập ....... ................................................................................. .........45
Hình 4.7 Tình hình tham gia các tổ chức đoàn thể của nông hộ . ............. ..51
đai được sử dụng vào canh tác nông nghiệp nên đời sống người dân phụ thuộc
chủ yếu vào hoạt động trồng trọt và chăn nuôi. Nhiều năm qua, cùng với sự nỗ
lực của các cấp, ban ngành, đoàn thể, bà con nông dân đã được chuyển giao
khoa học – kỹ thuật thông qua các hoạt động khuyến nông, góp phần không
nhỏ vào sự phát triển kinh tế của vùng cũng như cải thiện thu nhập nông hộ.
Tuy vậy, sản xuất nông nghiệp luôn đối mặt với những khó khăn về điều kiện
tự nhiên, dịch bệnh, thị trường tiêu thụ... Mặt khác, tình trạng sản xuất manh
mún, nhỏ lẻ, tự phát như các nông hộ hiện nay gây khó khăn trong việc kiểm
soát dịch bệnh, thị trường đầu ra và việc tính toán chi phí cũng như đo lường
hiệu quả sản xuất của nông hộ. Hơn thế nữa, với thực trạng dân số tăng liên
tục trong khi diện tích đất nông nghiệp thu hẹp dần do đô thị hóa đã khiến
nông hộ không ngừng đối mặt với những rủi ro.
Từ thực tế trên, tỉnh Vĩnh Long nói chung và Thị xã Bình Minh nói riêng
đã có những chính sách thiết thực hỗ trợ nông dân trong nhằm hạn chế rủi ro
đồng thời ổn định thu nhập cho người dân. Cụ thể, Ngày 09/01/2012, Thủ
tướng Chính phủ đã ký quyết định số 01/2012/QĐ-TTg về một số chính sách
hỗ trợ việc áp dụng quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (VietGAP)
trong nông nghiệp, điển hình nhất của chính sách này là mô hình “ Cánh đồng
1
mẫu lớn”, đến năm 2013 (sau 2 năm thực hiện mô hình) toàn tỉnh đã có 8 cánh
đồng mẫu lớn với diện tích 1.690,03 ha tập trung tại 7 huyện, trong đó có xã
Đông Thạnh của thị xã Bình Minh. Tham gia mô hình này, bà con được hỗ trợ
nhiều nguồn khác nhau, từ các yếu tố đầu vào (giống, phân bón, tín dụng, tập
huấn khoa học – kỹ thuật…) đến yếu tố thị trường đầu ra. Bên cạnh những
chính sách hỗ trợ của nhà nước thì sự chủ động của bà con cũng đóng vai trò
quan trọng không kém trong vấn đề cải thiện thu nhập. Nhìn chung, bên cạnh
hoạt động sản xuất nông nghiệp, nhiều bà con còn tham gia vào các hoạt động
phi nông nghiệp (PNN), cụ thể là thu nhập từ tiền công, tiền lương, hoạt động
1.2.3 Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng thu nhập của các nông hộ tại Thị xã Bình Minh hiện nay
như thế nào?
- Nhân tố nào ảnh hưởng đến thu nhập của các nông hộ trên địa bàn?
- Dựa vào quá trình phân tích trên, những giải pháp nào cần được đề ra
nhằm nâng cao thu nhập cho nông hộ?
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Phạm vi không gian
Phạm vi không gian của đề tài là thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.
1.4.2 Phạm vi thời gian
Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 8 năm 2014 đến tháng 12 năm 2014
1.4.3 Đối tượng nghiên cứu
Các nông hộ tại thị xã Bình Minh và các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập
của các nông hộ.
3
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1 Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất chủ yếu của xã hội. Sản xuất
nông nghiệp có những đặc điểm sau:
- Ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế trong sản xuất
nông nghiệp. Tuy ruộng đất bị giới hạn về mặt diện tích, con người không thể
tăng thêm theo ý muốn chủ quan, nhưng sức sản xuất của ruộng đất có thể
tăng lên nhờ vào quá trình cải tạo của con người, làm ruộng đất ngày càng
màu mỡ hơn, sản xuất ra nhiều sản phẩm vật chất hơn cũng cùng trên một đơn
như các hoạt động PNN khác mà pháp luật không cấm. Nông hộ có những đặc
điểm sau:
- Vừa là đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là đơn vị sản xuất, vừa là đơn vị tiêu
dùng.
- Quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng biểu hiện ở trình độ phát triển của
hộ tự cấp tư túc, trình độ này quyết định quan hệ giữa hộ và thị trường.
- Các hộ nông dân ngoài việc tham gia sản xuất nông nghiệp còn tham
gia các hoạt động PNN khác.
2.1.3 Kinh tế hộ sản xuất nông nghiệp.
Hộ sản xuất hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế hàng hoá phụ thuộc
rất nhiều vào trình độ sản xuất kinh doanh, khả năng kỹ thuật, quyền làm chủ
những tư liệu sản xuất và mức độ vốn đầu tư của mỗi hộ gia đình. Việc phân
loại hộ sản xuất có căn cứ khoa học sẽ tạo điều kiện để xây dựng chính sách
tín dụng phù hợp nhằm đầu tư đem lại hiệu quả.
Có thể chia hộ sản xuất làm 3 loại sau:
+ Loại thứ nhất: Là các hộ có vốn, có kỹ thuât, kỹ năng lao động, biết
tiếp cận với môi trường kinh doanh, có khả năng thích ứng, hoà nhập với thị
trường. Như vậy các hộ này tiến hành sản xuất kinh doanh có hiệu quả, biết tổ
chức quá trình lao động sản xuất cho phù hợp với thời vụ để sản phẩm tạo ra
có thể tiêu thụ trên thị trường.
+ Loại thứ hai là: Các hộ có sức lao động làm việc cần mẫn nhưng trong
tay họ không có hoặc có rất ít tư liệu sản xuất, tiền vốn hoặc chưa có môi
trường kinh doanh. Loại hộ này chiếm số đông trong xã hội do đó việc tăng
cường đầu tư tín dụng để các hộ này mua sắm tư liệu sản xuất có ý nghĩa rất
quan trọng để phát huy mọi năng lực sản xuất nông thôn trong lính vực sản
xuất nông nghiệp. Việc cho vay vốn không những giúp cho các hộ này có khả
năng tự lao động sản xuất tạo sản phẩm tiêu dùng của chính mình mà còn góp
phần giúp các hộ này có khả năng tự chủ sản xuất. Mặt khác, bằng các hoạt
động đầu tư tín dụng, tín dụng ngân hàng có thể giúp các hộ sản xuất này làm
quen với nền sản xuất hàng hoá, với chế độ hạch toán kinh tế để các hộ thích
2.1.4 Thu nhập nông hộ
Thu nhập của nông hộ được xác định bằng tổng thu nhập mà nông hộ thu
được từ các hoạt động nông nghiệp và hoạt động PNN. Thu nhập nông nghiệp
bao gồm thu nhập từ chăn nuôi, trồng trọt, nuôi thuỷ sản, các dịch vụ trong
nông nghiệp và làm thuê trong nông nghiệp. Những nguồn thu nhập còn lại
ngoài các nguồn thu nhập nêu ở trên là thu nhập PNN (Huỳnh Thị Đan Xuân
và Mai Văn Nam, 2011).
Thu nhập từ hoạt động nông nghiệp: Chỉ lượng tiền mặt hoặc hiện vật
mà các thành viên trong hộ thu được từ sản xuất nông nghiệp chẳng hạn như:
sản xuất lúa, hoa màu, chăn nuôi gia súc gia cầm và thủy sản. Thu nhập từ
hoạt động nông nghiệp được ước tính bằng tổng doanh thu sau khi bán được
các mặt hàng nông sản trừ đi chi phí phát sinh trong suốt quá trình sản xuất.
Trong đó, doanh thu bằng tổng giá trị của nông sản sau khi bán đi, được tính
6
bằng tổng sản lượng nông sản nhân với giá bán. Chi phí phát sinh trong suốt
quá trình sản xuất bao gồm: chi phí máy móc, chi phí nguyên liệu (điện, xăng,
dầu, nước,...), vật liệu (giống, phân bón, thức ăn,...), chi phí lao động (nhân
công) và một số chi phí khác. Ngày nay, lao động gia đình không còn là nguồn
lao động chủ yếu trong sản xuất nông nghiệp nữa, lao động gia đình được thể
hiện bằng số ngày công của các thành viên trong gia đình tham gia trong quá
trình sản xuất nông nghiệp. Thay vào đó là việc sử dụng lao động thuê mướn
nên trong quá trình sản xuất còn phát sinh thêm chi phí nhân công. Chi phí lao
động thuê mướn thường được tính theo số ngày nhân với giá ngày công lao
động. Tùy thuộc vào từng công việc hoặc địa phương khác nhau mà giá ngày
công lao động khác nhau.
Do nhu cầu ổn định thu nhập cũng như giảm rủi ro từ hoạt động sản xuất
nông nghiệp nên thu nhập PNN cũng là một nguồn thu đáng kể của các nông
công nghiệp,…).
Có nhiều cách khác nhau để đo lường mức độ đa dạng hóa thu nhập.
Block và Webb (2001) đã so sánh tỷ trọng của hoạt động trồng trọt với tỷ
trọng của các hoạt động khác để đo lường mức độ đa dạng hóa thu nhập của
nông hộ. Tuy nhiên, điểm yếu của phương pháp này là không thể đo lường
được đối với các nông hộ không tham gia hoạt động trồng trọt. Để khắc phục
nhược điểm này, nghiên cứu của Barrett and Reardon (2001) đã sử dụng chỉ số
Herfindahl nhằm chứng minh đa dạng hóa thu nhập không chỉ phụ thuộc vào
tỷ trọng của hoạt động trồng trọt mà còn phụ thuộc vào số lượng hoạt động mà
hộ tham gia.
Theo Mai Văn Nam và cộng sự (2008), Tương tự với chỉ số Herfindahl
trong việc đo lường mức độ đa dạng sinh học, đối với đa dạng hóa thu nhập
cũng có thể được đo bằng chỉ số Simpson. Công thức của nó như sau:
n
SID 1 Pi 2
i 1
Trong đó, Pi là tỷ trọng thu nhập từ mỗi nguồn i, SID dao động từ 0 đến
1. Nếu hộ nào chỉ có một nguồn thu nhập duy nhất thì Pi =1, kết quả là SID =
0. Hay nói cách khác, số nguồn thu nhập càng tăng thì tỷ trọng Pi càng giảm,
khi đó SID tiến về 1. Joshi (2003) đã sử dụng chỉ số này để so sánh mức độ đa
dạng hoá thu nhập ở các nước Nam Á bởi vì chỉ số khắc phục được điểm yếu
trong phương pháp của Block và Webb.
Để đo lường cũng như so sánh thu nhập giữa các nông hộ hoặc giữa các
địa phương khác nhau, tác giả sử dụng những chỉ tiêu sau đây: thu nhập bình
quân nông hộ, thu nhập bình quân đầu người trên năm, thu nhập bình quân đầu
người trên tháng. Trong đó, thu nhập bình quân nông hộ: là tổng thu nhập của
các nông hộ chia cho số hộ khảo sát; Thu nhập bình quân đầu người/năm: là
tổng các nguồn thu nhập của hộ/năm chia đều cho số thành viên trong gia
khẩu, lao động, trình độ học vấn,…), các yếu tố về nguồn lực tài chính (vốn
đầu tư, vốn vay) và nguồn lực đất đai.
Thứ nhất, nguồn lực con người có ảnh hưởng chủ yếu đến thu nhập, bao
gồm trình độ học vấn của các thành viên và số nhân khẩu của hộ.
Theo Yang (2004), học vấn là yếu tố mấu chốt quyết định khả năng nâng
cao thu nhập của mỗi cá nhân trong xã hội hiện đại. Học vấn tạo cơ hội việc
làm, quyết định sự lựa chọn nghề nghiệp, khẳng định vị thế của mỗi cá nhân
trong xã hội. Những lao động có trình độ học vấn thấp thường gắn với những
nghề nghiệp có mức lương thấp. Ngược lại, những lao động có trình độ học
vấn cao hơn sẽ dễ dàng nắm bắt cơ hội có được thu nhập cao hơn. Welch
(1974) cho rằng mức thu nhập của một cá nhân tỷ lệ thuận với số năm đi học
của họ. Điều này có thể giải thích là do những người đi học nhiều hơn thường
gắn với kỹ năng và trình độ tay nghề cao hơn. Còn đối với nhà tuyển dụng, họ
cũng sẵn sàng chi trả cho những người có bằng cấp cao hơn với mức lương
cao hơn, do đó họ xem số năm đi học như một dấu hiệu nhận thấy người có
năng lực cao hơn. Còn đối với nông dân nói riêng, trình độ học vấn đóng vai
9
trò rất quan trọng trong việc nâng cao thu nhập gia đình, trình độ học vấn cao
gắn liền với khả năng nắm bắt khoa học kỹ thuật tốt hơn. Từ đó, hiệu quả sản
xuất được nâng cao đồng nghĩa với việc cải thiện thu nhập. Ngày nay, đa số
các nông hộ đều nhận thấy tầm quan trọng của trình độ học vấn đến sự phát
triển kinh tế gia đình. Họ nhận thấy được đa dạng hóa thu nhập từ tiền lương
cũng là một trong những biện pháp hữu hiệu để ổn định thu nhập. Vì thế, Theo
nghiên cứu của Nguyễn Công Bằng (2012), trình dộ học vấn được đo bằng số
lớp (số năm) đến trường của một cá nhân. Hệ số này bằng 0 nếu cá nhân đó
mù chữ, từ 1-12 nếu trình độ phổ thông, bằng 14 nếu là trung cấp, bằng 15 là
cao đẳng và bằng 16 nếu trình độ đại học trở lên. Hệ số của biến trình độ học
vay còn giúp nông dân bù đắp khoảng trống thu nhập trước mùa thu hoạch,
giúp bà con nông dân tránh được tình trạng bán nông sản với giá thấp ngay sau
khi thu hoạch. Theo nghiên cứu của Trương Đông Lộc và Trần Bá Duy (2008)
cho thấy thiếu vốn đầu tư là nguyên nhân dẫn đến năng suất thấp, kéo theo đó
là thu nhập nông hộ thấp. Thu nhập thấp dẫn đến tình trạng tích lũy vốn thấp
vì thế có thể gây nên thực trạng thiếu vốn đầu tư cho sản xuất ở vụ sau. Thiếu
vốn đầu tư có thể được các nhà nghiên cứu ví như một vóng lẫn quẫn của các
nông hộ trong vấn đề thoát nghèo cũng như cải thiện thu nhập gia đình. Để
giải quyết tình trạng thiếu vốn của nông hộ thì cần sự can thiệp của một tổ
chức bên ngoài, do đó, vốn vay là một nguồn quan trọng giúp nông dân giải
quyết khó khăn về vấn đề tài chính. Tuy nhiên, thực tế cho thấy các nông hộ
gặp khó khăn trong vấn đề vay tín dụng chính thức. Theo Nguyễn Văn Ngân
và Lê Khương Ninh (2008), cũng như các nước đang phát triển khác, Việt
Nam thành lập các tổ chức tín dụng chuyên biệt dành cho nông thôn để hỗ trợ
cho nông dân về mặt tài chính với lãi suất thấp. Mặc dù được xác định là đối
tượng chủ yếu của các tổ chức tín dụng chính thức. Tuy nhiên, các tổ chức tín
dụng thường quan ngại khi cho các đối tượng hộ nghèo vay vì nguy cơ nợ xấu
cao. Kết quả là những hộ nghèo vẫn tiếp tục đối diện với khó khăn về vấn đề
vốn. Từ thực tế trên, ta thấy được tầm quan trọng của vốn vay đến thu nhập
của các nông hộ trong sản xuất nói chung và sản xuất nông nghiệp nói riêng.
Biến này được đo lường như sau: 0: đối với hộ không vay vốn và 1: đối với hộ
có vay vốn. Biến này được kỳ vọng ảnh hưởng tích cực đến thu nhập.
Sự tác động của vốn vay đến thu nhập phản ánh trực tiếp sự ảnh hưởng
của chi phí đầu tư đến thu nhập. Sự thiếu hụt vốn đầu tư trong sản xuất khiến
nhiều nông hộ hạn chế khả năng nắm bắt cơ hội nâng cao thu nhập. Đặc biệt là
trong sản xuất nông nghiệp, việc đầu tư hợp lý cho nguyên vật liệu sản xuất
cũng như lao động rất quan trọng trong việc quyết định yếu tố đầu ra của quá
trình sản xuất. Bên cạnh đó, sản xuất PNN cũng không thể thiếu yếu tố vốn
đầu tư. Đối với các hộ thiếu đất sản xuất hoặc có thời gian lao động nhàn rỗi
nhập (Marsh và cộng sự, 2007). Đồng tình với quan điểm trên, Huỳnh Trường
Huy và cộng sự (2008) cho rằng đất đai là tài sản quan trọng nhất của nông hộ
và khả năng tiếp cận với đất (cả về số lượng và chất lượng) là một yếu tố
quyết định đối với sản xuất ảnh hưởng đến thu nhập nông hộ. Vì phần lớn thu
nhập nông hộ phụ thuộc vào nông nghiệp và hoạt động sản xuất nông nghiệp
phần lớn là sử dụng lao động chân tay nên yếu tố đất đai đóng một vai trò rất
quan trọng. Nguyễn Quang Tuyến (2011) bổ sung rằng đất đai đã trở thành
hàng hóa trong nên kinh tế thị trường dựa theo Luật đất đai năm 1993 và 2003.
Vấn đề này đang làm thay đổi quyền sở hữu đất đai và kinh tế hộ do hiện
tượng phân hóa trong nông dân và làm đa dạng hóa thu nhập trong những hộ
có qui mô đất đai khác nhau.
Nhìn nhận vấn đề theo một khía cạnh khác, Nguyễn Công Bằng (2012)
cho rằng mặc dù diện tích đất đai đóng vai trò chính trong việc mở rộng sản
xuất, nâng cao thu nhập của nông hộ. Tuy nhiên, do đặc điểm của đất đai mà
nông hộ có diện tích đất khiêm tốn có thể nâng cao năng suất trên cùng một
diện tích đất canh tác thông qua việc cải thiện độ màu mỡ đất đai bằng việc
canh tác hợp lí (bón phân phù hợp, xen canh, luân canh hợp lí,...). Kết quả là
việc sử dụng vốn, sức lao động một cách hiệu quả, việc tăng cường áp dụng
khoa học – kỹ thuật vào sản xuất sẽ tăng khả năng nâng cao thu nhập của
những nông hộ có diện tích đất sản xuất hạn hẹp.
12
Theo một vài nghiên cứu trước đây, một trong những yếu tố tác động
không nhỏ đến thu nhập nông hộ chính là khả năng tiếp cận chính sách nhà
nước thông qua việc tham gia vào các hoạt động đoàn thể.
Theo Nguyên Vụ trưởng vụ Tổ chức Phi Chính phủ Nguyễn Ngọc Lâm
(2012), cho đến nay bên cạnh 6 đoàn thể chính trị - xã hội: Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản
Hồ Chí Minh, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội
thể được kỳ vọng là có tác động cùng chiều với thu nhập nông hộ.
13