cuộc vận động chống mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học ở huyện chợ mới tỉnh bắc kạn từ năm 1998 đến năm 2011 - Pdf 22

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ÂU SƠN HƯNG

CUỘC VẬN ĐỘNG CHỐNG MÙ CHỮ
VÀ PHỔ CẬP GIÁO DỤC TIỂU HỌC Ở HUYỆN CHỢ MỚI
TỈNH BẮC KẠN TỪ NĂM 1998 ĐẾN NĂM 2011
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN THỊ PHƯƠNG CHI Thái Nguyên – Năm 2012

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu đề tài “Cuộc vận động chống mù
chữ và phổ cập giáo dục tiểu học ở huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn từ năm 1998
đến năm 2011” dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thị Phương Chi là
kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là
trung thực. Những chỗ sử dụng kết quả nghiên cứu của người khác đều trích
dẫn rõ ràng. Những tư liệu không có trích dẫn là do tác giả trực tiếp sưu tầm
trong quá trình sưu tầm tài liệu tại địa phương.
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhà trường về sự cam đoan này.

Thái Nguyên, tháng 8 năm 2012
Tác giả
Âu Sơn Hưng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên i

MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục i
Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt ii
MỞ ĐẦU 1

Chương 1. KHÁI QUÁT HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH BẮC KẠN VÀ
TÌNH HÌNH GIÁO DỤC TRƯỚC NĂM 1998 7

1.1 Khái quát về huyện Chợ Mới 7

1.1.1. Khái quát vị trí địa lí - điều kiện tự nhiên 7

1.1.2. Tình hình kinh tế - xã hội huyện Chợ Mới từ 1998 đến 2011 10

1.2. Tình hình giáo dục Việt Nam và huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn trước
năm 1998 13



3.4. Bài học kinh nghiệm 64

KẾT LUẬN Error! Bookmark not defined.
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

PHỤ LỤC
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên iiiDANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

Ký hiệu, chữ viết tắt Tên đầy đủ
CMC Chống mù chữ
PCGD Phổ cập giáo dục
CMC - PCGDTH Chống mù chữ - Phổ cập giáo dục tiểu học
GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo
CNH - HĐH Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá
ĐĐT Đúng độ tuổi Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 1

2

cập giáo dục tiểu học, từng bước thực hiện quá trình đổi mới giáo dục. Từ
năm 1998 đến nay, sự nghiệp giáo dục huyện Chợ Mới đã có nhiều chuyển
biến tích cực, trong đó có vấn đề chống mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học
đúng độ tuổi.
Vì vậy, nghiên cứu quá trình chống mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học
ở huyện Chợ Mới từ năm 1998 đến năm 2011 vừa có ý nghĩa khoa học, vừa
có giá trị thực tiễn to lớn.
Luận văn còn bổ sung nguồn tư liệu nghiên cứu lịch sử địa phương,
nghiên cứu sự nghiệp phát triển giáo dục huyện, góp phần vào việc nâng cao
nhận thức của nhân dân các dân tộc Chợ Mới về vai trò trách nhiệm của mình
đối với sự nghiệp phát triển giáo dục đào tạo, nhất là trong cuộc vận động
chống mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, từ đó đẩy mạnh phát triển kinh
tế, văn hóa xã hội của địa phương.
Là một người con được sinh ra và trưởng thành từ mảnh đất Chợ Mới,
tôi thấy mình có trách nhiệm cùng với các đồng nghiệp phải duy trì, nâng cao
chất lượng giáo dục - đào tạo cho đồng bào các dân tộc huyện nhằm đưa Chợ
Mới tiến nhanh theo kịp sự phát triển giáo dục ở miền xuôi, góp phần đưa Bắc
Kạn phát triển trên con đường CNH - HĐH.
Với những lí do trên, tôi chọn vấn đề về “Cuộc vận động chống mù chữ
và phổ cập giáo dục tiểu học ở huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn từ năm 1998
đến năm 2011” làm đề tài Luận văn thạc sĩ.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Từ khi đất nước ta giành được độc lập (1945) đến nay, Đảng và Nhà
nước ta luôn quan tâm đầu tư cho giáo dục - đào tạo, coi đó là quốc sách hàng
đầu. Ngoài các văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV, VI, VII, VIII,
IX , đặc biệt là Nghị quyết TW 2 khóa VIII và Văn kiện Hội nghị lần VI của
BCH TW Đảng về Giáo dục đào tạo, Bộ Giáo dục và Đào tạo, cơ quan chủ

sách này chỉ viết một cách khái quát.
Trong cuốn “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bắc Thái”, tập II (1991) của Ban
nghiên cứu Lịch sử Đảng tỉnh Bắc Thái; và Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn
(tập I,II) đã đề cập đến những thành tựu trên lĩnh vực văn hoá giáo dục.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 4

Cuốn “Huyện Chợ Mới – 10 năm xây dựng và phát triển” xuất bản năm
2008, của Huyện ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và Ủy ban mặt
trận Tổ quốc. Nội dung cuốn sách trình bày tương đối hệ thống quá trình hình
thành và phát triển của Đảng bộ Chợ Mới trong 10 năm từ khi thành lập
huyện (1998), ghi lại quá trình xây dựng và trưởng thành của Đảng bộ và
nhân dân của các dân tộc từ ngày thành lập huyện, những thành tựu đạt được
trên các mặt chính trị, kinh tế, xã hội của huyện Chợ Mới, trong đó có công
tác chống mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học, trung học cơ sở, tiến tới phổ cập
bậc THPT.
Ngoài các công trình và bài viết nói trên, các bản báo cáo tổng kết của
ngành Giáo dục Bắc Kạn và ngành Giáo dục huyện Chợ Mới qua từng thời kỳ
từ 1998 - 2011 đã nêu một số đánh giá về tình hình giáo dục. Các bản báo cáo
sơ kết cuối kì, cuối từng năm học đều có những bảng biểu thống kê, so sánh
giữa các huyện trong tỉnh về chống mù và phổ cập giáo dục tiểu học.
Đến nay, chưa có công trình chuyên sâu nào về công tác vận động
chống mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học ở huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc
Kạn. Hơn nữa vấn đề chống mù chữ - phổ cập giáo dục tiểu học vẫn còn
đang được thực hiện nhằm duy trì kết quả xóa mù và phổ cập của từng năm
học. Đây cũng là một trong những khó khăn cho tác giả khi làm luận văn.
Tuy nhiên, những công trình, tài liệu liên quan đến đề tài đã được công bố
cũng là một trong những cơ sở khoa học giúp tôi hoàn thành luận văn này.

sở lý luận để nghiên cứu đề tài.
- Các bản kế hoạch, định hướng của Tỉnh ủy, UBND tỉnh Bắc Kạn, Huyện
ủy, UBND huyện Chợ Mới từ năm 1998 đến năm 2011.
- Các công văn báo cáo tổng kết hằng năm của Sở Giáo dục và Đào tạo
tỉnh Bắc Kạn, Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Chợ Mới, Niên giám thống
kê của Chi cục Thống kê tỉnh Bắc Kạn.
- Các công văn, báo cáo một số trường học tiêu biểu.
- Các ấn phẩm và một số công trình về lịch sử tỉnh Bắc Kạn, huyện Chợ
Mới có liên quan đến giáo dục
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 6

- Tài liệu khai thác từ khảo sát thực tế
* Phương pháp nghiên cứu.
- Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tôi sử dụng phương pháp lịch sử và
kết hợp với phương pháp lôgic là chủ yếu.
- Ngoài ra, một số phương pháp nghiên cứu bổ trợ khác như: Thống kê,
so sánh, đối chiếu, phân tích tổng hợp, khảo sát thực tế cũng được vận dụng.
5. Đóng góp của luận văn.
- Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách tương đối hệ
thống về quá trình vận động chống mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học ở
huyện Chợ Mới từ năm 1998 đến năm 2011.
- Nêu được những thành tựu cơ bản, những đóng góp của giáo dục nói
chung và cuộc vận động xóa mù, phổ cập giáo dục tiểu học trong sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa huyện nói riêng.
- Nêu lên một số hạn chế, đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần tiếp
tục duy trì quá trình chống tái mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, cho phù
hợp với xu thế phát triển chung của tỉnh Bắc Kạn cũng như cả nước.

Thịnh, Thanh Bình, Yên Đĩnh, Như Cố, Quảng Chu, Bình Văn, Yên Hân,
Yên Cư và thị trấn Chợ Mới). Theo Nghị quyết kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa
IX, tỉnh Bắc Kạn được tái lập. Sau khi tỉnh Bắc Kạn được tái lập năm 1997,
địa giới hành chính huyện Bạch Thông điều chỉnh tiếp nhận 09 xã và 01 thị
trấn phía Bắc của huyện Phú Lương. Thực hiện Nghị định số 46-NĐ/NP ngày
06/7/1998 của Chính phủ, huyện Chợ Mới được thành lập trên cơ sở tách 16
xã, thị trấn phía Nam của huyện Bạch Thông.
Huyện Chợ Mới có tổng diện tích tự nhiên là 60,716.08 ha, gồm 16 đơn
vị hành chính (15 xã và 01 thị trấn). Thị trấn Chợ Mới là trung tâm huyện lỵ
cách thị xã Bắc Kạn 42 km về phía Bắc và cách thủ đô Hà Nội 142 km về
phía Nam.
Huyện có vị trí địa lý tương đối thuận lợi. Là huyện cửa ngõ phía Nam
của tỉnh Bắc Kạn, phía Đông giáp huyện Na Rì (Bắc Kạn), Võ Nhai (Thái
Nguyên); phía Tây giáp huyện Định Hóa (Thái Nguyên); phía Nam giáp
huyện Đồng Hỷ và huyện Phú Lương (Thái Nguyên); phía Bắc giáp huyện
Chợ Đồn, Bạch Thông và Thị xã Bắc Kạn.
Đường Quốc lộ 3 đi qua 7 xã, thị trấn. sông Cầu chảy qua 9 xã trong
huyện. Thị trấn Chợ Mới nằm trên địa phận hợp lưu của sông Cầu và sông
Chu. Địa hình của huyện khá đa dạng và phức tạp, chia thành 3 vùng chủ yếu:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 8

Khu vực phía Đông của huyện gồm các xã: Như Cố, Bình Văn, Yên Hân,
Yên Cư, Tân Sơn. Địa hình của vùng này được tạo bởi các núi đá và thung
lũng nhỏ, có nhiều thác ghềnh.
Khu vực phía Tây của huyện gồm các xã: Thanh Mai, Thanh Vận, Mai
Lạp. Địa hình núi đất và các thung lũng nhỏ tương đối thuận lợi cho phát triển
trồng rừng.

Chợ Mới nằm trong khu vực khí hậu gió mùa, hàng năm chia hành bốn
mùa: xuân, hạ, thu, đông. Mùa hạ trùng với gió mùa đông nam, nhiệt độ trung
bình từ 25 độ C đến 28 độ C. Mùa đông trùng với gió mùa đông bắc, tiết trời
giá rét, nhiều khi có sương muối, gây ảnh hưởng xấu đến độ sinh trưởng của
cây trồng và gia súc.
Là một huyện miền núi phía Nam của tỉnh Bắc Kạn, đất rộng, người
thưa. Dân số toàn huyện ngày đầu mới thành lập (1998) là 37.998 người tăng
lên 38.205 người (2005) và đến 2008 là 29.468 người.
Trong bức tranh của cộng đồng dân cư, huyện Chợ Mới hiện nay có các
dân tộc: Kinh, Tày, Nùng, Dao, Mông, Hoa, Sán Chay và một số ít dân tộc
khác thuộc các ngữ hệ và các nhóm ngôn ngữ khác nhau:
Ngữ hệ Nam Á với các nhóm: Việt - Mường (Kinh); Mông – Dao
(Mông, Dao).
Ngữ hệ Thái – Ka đai (Tày, Nùng).
Ngữ hệ Hán (Hoa và nhóm Sán Chỉ thuộc dân tộc Sán Chay).
Người Kinh chiếm khoảng 20% dân số, chủ yếu sinh sống tập trung ở
vùng thấp và thị trấn.
Người Tày chiếm khoảng 56,9 % dân số, phân bố hầu khắp các địa bàn
trong huyện. Đây là lớp dân cư bản địa, có trình độ phát triển kinh tế - xã hội
cao trong vùng. Ngôn ngữ Tày cùng với tiếng phổ thông đóng vai trò quan
trọng trong giao tiếp giữa các dân tộc trong khu vực.
Người Nùng có mới quan hệ lịch sử với người Tày, cư trú xem kẽ với
người Tày và người Kinh, với dân số khoảng 3,62 %.
Người Dao cũng như người Mông sinh sống chủ yếu ở cùng cao quanh
chân núi, chiếm khoảng 17,3% dân số.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 10


11

Huyện Chợ Mới có 38/164 thôn, bản, tổ dân phố là thôn định canh định
cư. Huyện xác định công tác định canh, định cư là một nhiệm vụ quan trọng
trước mắt và lâu dài. Chính vì vậy Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khóa I đã
ra Nghị quyết về công tác định canh, định cư – kinh tế mới. Sau hơn 10 năm
đã thu được những kết quả quan trọng: Số gia đình đồng bào định canh, định
cư có thu nhập khá, đời sống ngày càng ổn định, góp phần giảm hộ nghèo khu
vực định canh, định cư từ 57% năm 2001 xuống còn 45,65% năm 2007.
Cấp ủy huyện rất quan tâm đến vấn đề tạo việc làm mới cho người lao
động nhằm tăng thu nhập ổn định, đến năm 2010 đã tạo việc làm cho 2.638
lao động có việc làm ổn định. Cùng với việc quan tâm vấn đề lao động việc
làm thì huyện đã lãnh đạo công tác xóa đói giảm nghèo có hiệu quả bằng các
biện pháp và nhiệm vụ cụ thể. Năm 1998 tỷ lệ hộ đói, nghèo toàn huyện là
21,6% theo tiêu chí cũ, đến tháng 12 năm 2007 tỷ lệ hộ nghèo là 30,54% theo
tiêu chí mới. Bình quân từ năm 1998 đến năm 2005 hàng năm giảm 6,73%
hộ nghèo theo tiêu chí cũ, từ năm 2005 đến 2007 bình quân tăng hàng năm
giảm 9,11% hộ nghèo theo tiêu chí mới.
Sự nghiệp giáo dục của huyện có bước phát triển khá. Quy mô phát triển
trường lớp và học sinh không ngừng mở rộng. Chất lượng giáo dục của các
bậc học được nâng lên. So với năm 1998, năm học 2007 – 2008 toàn huyện có
42 trường tăng 13 trường. Có 16 trường mầm non, 15 trường tiểu học, 06
trường THCS, 03 trường PTCS, 02 trường THPT, có 3 trường đạt chuẩn
Quốc gia.
Số lượng cán bộ, giáo viên không ngừng tăng lên. Ngành giáo dục quan
tâm đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ cán bộ, giáo viên. Đến nay, tỷ lệ
giáo viên đạt chuẩn ở tất cả các cấp học đều trên 97%. Toàn ngành có 05 thạc
sĩ. Công tác xã hội hóa giáo dục có chuyển biến đã góp phần quan trọng cho
phát triển sự nghiệp giáo dục của huyện. Đến nay 100% xã có Hội khuyến
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

được quan tâm chu đáo. Toàn xã hội, cộng đồng tham gia quản lý, giáo dục
trẻ em.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 13

Về chính sách xã hội, chính sách người có công được giải quyết kịp thời.
Công tác chăm sóc người có công, gia đình thương binh hàng năm được chăm
lo chu đáo. Chương trình xóa nhà tạm, dột nát được hoàn thành cuối năm
2005. Đến nay toàn huyện đã làm được hơn 100 ngôi nhà tình nghĩa, hỗ trợ
nhà ở cho 739 hộ nghèo
Công tác phòng, chống tệ nạn xã hội được chỉ đạo triển khai tích cực có
hiệu quả. Tệ nạn ma túy, mại dâm, số đề từng bước được ngăn chặn. Các
điểm kinh doanh có dấu hiệu vi phạm được kiểm tra truy quét. Huyện vừa tập
trung tuyên truyền vận động, vừa tăng cường truy quét các tụ điểm ma túy
trên địa bàn.
Các hoạt động văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao có nhiều khởi sắc. Hệ
thống thông tin bước đầu đáp ưng nhu cầu nhanh chóng, kịp thời đến đông
đảo nhân dân trong huyện. Đến nay toàn huyện có 100% xã, thị trấn có báo
đọc trong ngày, 16/16 xã, thị trấn có trạm truyền thanh. Tất cả các cơ quan,
trường học được quan tâm, quy hoạch lâu dài.
Những thành tựu về kinh tế - xã hội của huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn là
cơ sở cho sự phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo của huyện [57].
1.2. Tình hình giáo dục Việt Nam và huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn trước
năm 1998
1.2.1. Khái quát tình hình giáo dục Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến
chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ
Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam. Đến năm 1884,
với Hiệp ước Patơnôt, về cơ bản thực dân Pháp đã hoàn thành việc xâm lược

dân Việt Nam. Vì vậy, ngay từ những năm đầu thế kỷ XX, các nhà nho yêu
nước Việt Nam đã nhận thấy sự cần thiết phải gắn việc canh tân giáo dục với
cuộc vận động cách mạng giải phóng dân tộc. Tháng 3 năm 1907, một số nhà
nho yêu nước tiến bộ như Lương Văn Can, Nguyễn Quyền đã mở trường
Đông Kinh nghĩa thục. Hoạt động chính của trường nhằm mở mang việc học
tập bằng chữ quốc ngữ cho nhân dân. Mặc dù chỉ tồn tại trong vòng 8 tháng
(từ tháng 3 đến tháng 11 năm 1907), nhà trường đã tạo ra một phong trào học
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 15

chữ Quốc ngữ có khí thế hào hứng, có nội dung, phương pháp và tổ chức mới
khác với học chữ Hán nặng tính hư văn.
Sau đó, Nguyễn Ái Quốc- nhà yêu nước Việt Nam, trong quá trình hoạt
động cách mạng, đã tố cáo chính sách giáo dục ngu dân của thực dân Pháp ở
Việt Nam và đề ra yêu sách về mở mang giáo dục. Năm 1919, trong bản yêu
sách nổi tiếng gồm 8 điểm gửi tới Hội nghị Véc – xai, Nguyễn Ái Quốc đòi
tự do học tập và mở các trường cho người bản xứ ở khắp các tỉnh.
Năm 1927, trong tác phẩm “Đường Kách Mệnh” Nguyễn Ái Quốc nêu
vấn đề:
“1. Lập trường học cho công nhân
2. Lập trường cho con cháu công nhân” [65; tr.3]
Năm 1929, chương trình của Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên đã
ghi rõ: “bỏ những trường học cũ của đế quốc và thay bằng trường học cách
mạng không phải trả tiền”
Đầu năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và nắm quyền lãnh đạo
cách mạng. Từ đây, các hoạt động giáo dục trở thành một mặt trận đấu tranh
của nhân dân ta chống thực dân Pháp đồng thời gắn bó chặt chẽ với các mặt
trận đấu tranh khác. Trong Chính cương vắn tắt - văn kiện đầu tiên của Đảng,

hãm trong vòng ngu dốt, lạc hậu. Từ khi có ánh sáng của Đảng Cộng sản Việt
Nam rọi tới, cùng với quá trình tuyên truyền, giác ngộ về con đường đấu tranh
tự giải phóng, nhân dân ta từng bước được học hành, mở mang dân trí.
Cách tháng Tám năm 1945 thành công là một sự kiện vĩ đại trong lịch sử
dân tộc Việt Nam. Sau khi ra đời, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đứng
trước một tình thế hết sức hiểm nghèo. Bên cạnh giặc ngoại xâm, là “giặc
đói” “giặc dốt” do chế độ thực dân phong kiến để lại. Hơn 90% dân số
không biết chữ, các tệ nạn xã hội như rượu chè, cờ bạc, nghiện hút và mê
tín dị đoan còn rất phổ biến.
Diệt “giặc dốt”, xóa nạn mù chữ đã trở thành một trong những nhiệm vụ
quan trọng của Nhà nước và nhân dân ta, nhằm giáo dục cho quần chúng nhân
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 17

dân, đặc biệt là đông đảo quần chúng lao động, hiểu biết về tình hình đất nước
– để động viên lòng yêu nước, hun đúc ý chí xây dựng và bảo vệ chế độ mới.
Ngày 3/9/1945, trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ lâm
thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra 6 việc cấp bách trước mắt cần giải quyết
ngay, trong đó vấn đề xóa nạn mù chữ Người nhận xét: “Muốn giữ vững nền
độc lập, làm cho dân mạnh nước giàu, mọi người Việt Nam phải hiểu biết
quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham
gia vào công cuộc xây dựng kiến thiết nước nhà, và trước hết phải biết đọc,
biết viết chữ quốc ngữ ” [67; tr.8]. Một tuần lễ sau khi giành độc lập, ngày
8 tháng 9 năm 1945, Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
đã ban hành 4 sắc lệnh về vấn đề xóa mù chữ và Ban “Thanh tra học vụ”.
Sắc lệnh số 16/SL: Đặt ra trong toàn cõi Việt Nam ngạch “Thanh tra học
vụ” để kiểm soát việc học theo đúng chương trình giáo dục của Chính phủ
dân chủ cộng hòa. Ông Đặng Thai Mai là Tổng Thanh tra.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status