Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
o0o
NGUYỄN TRUNG PHẦN
CUỘC VẬN ĐỘNG CHỐNG MÙ CHỮ VÀ PHỔ CẬP GIÁO DỤC
TIỂU HỌC Ở HUYỆN CHIÊM HÓA TỈNH TUYÊN QUANG
TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2010
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
THÁI NGUYÊN - 2011
THÁI NGUYÊN - 2011
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: KHÁI QUÁT HUYỆN CHIÊM HOÁ TỈNH TUYÊN QUANG VÀ
TÌNH HÌNH GIÁO DỤC TRƯỚC NĂM 1991 8
1.1 Khái quát về huyện Chiêm Hoá 8
1.2. Tình hình giáo dục của huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang trước năm 1991.
12
Chương 2: CÔNG CUỘC XÓA MÙ CHỮ VÀ PHỔ CẬP GIÁO DỤC TIỂU HỌC
Ở CHIÊM HÓA TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2010 36
2.1. Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và sự vận dụng của địa phương về
công cuộc xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học 36
2.2. Quá trình thực hiện chống mù chữ - phổ cập giáo dục tiểu học trong giai đoạn 1
(1991- 1995) 41
2.3. Tiếp tục thực hiện chương trình chống mù chữ - phổ cập giáo dục tiểu học đúng
độ tuổi trong giai đoạn 2 (1996 - 2003). 50
2.4. Duy trì kết quả phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi trong giai đoạn 3 (2003
- 2010). 65
Chương 3: Ý NGHĨA VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA CUỘC VẬN
ĐỘNG CHỐNG MÙ CHỮ VÀ PHỔ CẬP GIÁO DỤC TIỂU HỌC Ở HUYỆN
CHIÊM HÓA 75
3.1. Ý nghĩa của cuộc vận động CMC – PCGDTH đối với kinh tế - xã hội huyện
Chiêm Hoá 75
3.2. Bài học kinh nghiệm. 79
KẾT LUẬN 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
PHỤ LỤC 98
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2
trí còn thấp. Vì vậy, trong các nghị quyết của Đảng bộ Chiêm Hóa từ khóa
XVI đến khóa XX xác định nhiều nhiệm vụ quan trọng, trong đó có nhiệm vụ
cấp bách là: Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đẩy mạnh
sự nghiệp giáo dục, mà trước hết là xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học,
từng bước thực hiện quá trình đổi mới giáo dục. Từ năm 1991 đến nay, sự
nghiệp giáo dục huyện Chiêm Hóa đã có nhiều chuyển biến tích cực, trong đó
có vấn đề xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học.
Vì vậy, nghiên cứu quá trình xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học ở
huyện Chiêm Hoá từ năm 1991 đến năm 2010 vừa có ý nghĩa khoa học, vừa
có giá trị thực tiễn to lớn.
Luận văn còn bổ sung nguồn tư liệu nghiên cứu lịch sử địa phương,
nghiên cứu sự nghiệp phát triển giáo dục huyện, góp phần vào việc nâng cao
nhận thức của nhân dân các dân tộc Chiêm Hóa về vai trò trách nhiệm của
mình đối với sự nghiệp phát triển giáo dục đào tạo, nhất là trong cuộc vận
động xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, từ đó đẩy mạnh phát triển
kinh tế, văn hóa xã hội của địa phương.
Với tâm huyết của một người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa – giáo dục,
đã nhiều năm tham gia công tác xóa mù và phổ cập giáo dục THPT tại huyện
Chiêm Hóa, tôi thấy mình có trách nhiệm cùng với các đồng nghiệp phải duy
trì, nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo cho đồng bào các dân tộc huyện
nhà nhằm đưa Chiêm Hóa tiến nhanh theo kịp các huyện vùng xuôi của tỉnh
góp phần đưa Tuyên Quang phát triển trên con đường CNH - HĐH.
Với những lí do trên, tôi chọn vấn đề nghiên cứu về “ Cuộc vận động
chống mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học ở huyện Chiêm Hóa từ năm
1991 đến năm 2010” làm đề tài Luận văn thạc sĩ. Hy vọng công trình này sẽ
có một chút đóng góp trong việc tổng kết và đúc rút kinh nghiệm sau gần 20
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
4
Quang (1975 - 2005)” đã đề cập đến những thành tựu trên lĩnh vực văn hoá
giáo dục.
Tiếp theo cuốn sơ thảo “Lịch sử Đảng bộ huyện Chiêm Hóa (1943 -
1991)”, xuất bản năm 1995, năm 2008, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia cho
xuất bản cuốn “Lịch sử Đảng bộ huyện Chiêm Hóa (1940 - 2005)”. Cuốn
sách trình bày hệ thống quá trình hình thành và phát triển của Đảng bộ Chiêm
Hóa qua các thời kỳ, nêu rõ sự chỉ đạo của Huyện ủy và những thành tựu đạt
được trên tất cả các mặt chính trị kinh tế xã hội của huyện Chiêm Hóa,
trong đó có công tác chống mù chữ, chuẩn bị cho phổ cập giáo dục tiểu học,
trung học cơ sở, tiến tới phổ cập bậc THPT.
Ngoài các công trình và bài viết nói trên, các bản báo cáo tổng kết của
ngành Giáo dục Tuyên Quang và ngành Giáo dục huyện Chiêm Hóa qua từng
thời kỳ từ 1991 - 2010 đã nêu một số đánh giá về tình hình giáo dục. Các bản
báo cáo sơ kết cuối kì, cuối từng năm học đều có những bảng biểu thống kê,
so sánh giữa các huyện trong tỉnh về xóa mù và phổ cập giáo dục tiểu học.
Công trình viết về công tác vận động chống mù chữ và phổ cập giáo
dục tiểu học ở Chiêm Hóa, Tuyên Quang là hoàn toàn mới, từ trước đến
nay chưa có ai nghiên cứu. Hơn nữa vấn đề xóa mù chữ - phổ cập giáo dục
tiểu học vẫn còn đang được thực hiện nhằm duy trì kết quả xóa mù và phổ
cập của từng năm học. Đây cũng là một trong những khó khăn cho tác giả
khi làm Luận văn. Tuy nhiên, những công trình, tài liệu liên quan đến đề
tài đã được công bố cũng là một trong những cơ sở khoa học giúp tôi hoàn
thành Luận văn này.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài
* Đối tượng nghiên cứu.
- Đề tài tập trung nghiên cứu về công tác xóa mù chữ và phổ cập giáo
- Các bản kế hoạch, định hướng của Tỉnh ủy, UBND tỉnh Tuyên Quang,
Huyện ủy, UBND huyện Chiêm Hóa từ năm 1991 đến năm 2010.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
6
- Các công văn báo cáo tổng kết hằng năm của Sở Giáo dục và Đào tạo
tỉnh Tuyên Quang, Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Chiêm Hóa, Niên giám
thống kê của Chi cục Thống kê tỉnh Tuyên Quang.
- Các công văn, báo cáo một số trường học tiêu biểu.
- Các ấn phẩm và một số công trình về lịch sử tỉnh Tuyên Quang, huyện
Chiêm hoá có liên quan đến giáo dục
- Tài liệu khai thác từ khảo sát thực tế
* Phương pháp nghiên cứu.
- Trong quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi sử dụng phương pháp lịch
sử và kết hợp với phương pháp lôgic là chủ yếu.
- Ngoài ra, một số phương pháp nghiên cứu bổ trợ khác như: Thống kê,
so sánh, đối chiếu, phân tích tổng hợp, khảo sát thực tế cũng được vận dụng
5. Đóng góp của luận văn.
- Luận văn là công trình nghiên cứu chuyên khảo đầu tiên, nghiên cứu
một cách tương đối hệ thống về quá trình vận động xóa mù và phổ cập giáo
dục tiểu học ở huyện Chiêm Hóa từ năm 1991 đến năm 2010.
- Nêu được những thành tựu cơ bản, những đóng góp của giáo dục nói
chung và cuộc vận động xóa mù, phổ cập giáo dục tiểu học trong sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa huyện nhà nói riêng.
- Phân tích những hạn chế, đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần tiếp
tục duy trì quá trình chống tái mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, cho phù
hợp với xu thế phát triển chung của tỉnh Tuyên Quang cũng như cả nước.
- Luận văn góp phần cung cấp thêm tư liệu phục vụ cho công tác nghiên
cứu, giảng dạy lịch sử địa phương.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
8
Chương 1
KHÁI QUÁT HUYỆN CHIÊM HOÁ TỈNH TUYÊN QUANG VÀ
TÌNH HÌNH GIÁO DỤC TRƯỚC NĂM 1991
1.1 Khái quát về huyện Chiêm Hoá
1.1.1. Khái quát vị trí địa lí - điều kiện tự nhiên.
Chiêm Hóa là một huyện vùng cao của tỉnh Tuyên Quang, mang đậm nét
đặc thù của vùng núi phía Bắc Việt Nam. Phía bắc huyện Chiêm Hóa giáp
huyện Nà Hang (tỉnh Tuyên Quang), phía nam giáp huyện Yên Sơn (tỉnh
Tuyên Quang), phía đông giáp huyện Chợ Đồn (tỉnh Bắc Kạn), phía tây giáp
huyện Hàm Yên (tỉnh Tuyên Quang) và huyện Bắc Quang (tỉnh Hà Giang);
huyện lỵ đặt tại thị trấn Vĩnh Lộc, cách tỉnh lỵ Tuyên Quang 67 km về phía
bắc. Tính từ các điểm tận cùng theo hướng bắc – nam rộng khoảng 75 km,
hướng đông – tây rộng khoảng 120 km. Tổng diện tích toàn huyện là 1.460,60
km
2
, trong đó có 10.828,14 ha đất đang sản xuất nông nghiệp và 120.235,67
ha đất sản xuất lâm nghiệp
(1)
.
Địa hình của Chiêm Hóa bị chia cắt bởi hệ thống sông ngòi và nhiều dãy
núi lớn. Nét chung của địa hình là sự xen kẽ không đều núi đá vôi và núi đất,
các dải núi cao và vùng đồi đất có độ cao trung bình hoặc thấp. Giữa các vùng
biên chế giáo viên.
Từ xa xưa, Chiêm Hóa đã là địa bàn cư trú của người cổ đại. Trên địa
bàn huyện, các nhà khảo cổ học đã phát hiện nhiều di chỉ khảo cổ chứng minh
điều đó. Tại Đầm Hồng, các nhà khảo cổ đã tìm thấy công cụ bằng đá mang
đặc trưng của thời kỳ hậu Văn hóa Hòa Bình. Ở Vĩnh Lộc, tìm thấy công cụ
đồ đồng (rìu xéo, mũi giáo, dao găm, trống đồng loại 1 ) có niên đại cùng
thời với Văn hóa Đông Sơn.
Trong tiến trình lịch sử dân tộc, Chiêm Hóa đã nhiều lần thay đổi tên
gọi và địa giới hành chính. Thời Đinh, Tiền Lê, Lý được gọi là châu Vị Long.
Thời thuộc Minh, với tên gọi châu Tuyên Hóa hay Đại Man (tức là huyện có
nhiều dân tộc ít người); năm 1831, được đổi thành châu Chiêm Hóa (bao gồm
cả huyện Nà Hang và huyện Lâm Bình hiện nay) với tổng diện tích là
2.427km
2
. Đến năm 1943, châu Chiêm Hóa được tách làm hai huyện: Chiêm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
10
Hóa và Nà Hang. Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, Chiêm Hóa được
được gọi là châu Khánh Thiện, bao gồm cả một số vùng của huyện Hàm Yên,
Yên Sơn. Từ năm 1976 đến năm 1991, Tuyên Quang và Hà Giang hợp nhất
thành tỉnh Hà Tuyên và từ năm 1991 đến năm 2010, địa giới hành chính
huyện Chiêm Hóa gồm 28 xã và một thị trấn.
1.1.2. Tình hình kinh tế - xã hội.
Tính đến năm 2010, huyện Chiêm Hóa có 135.637 người bao gồm 22
thành phần dân tộc anh em: Kinh, Tày, Dao, Mông, Nùng, Pà Thẻn Mật độ
dân số bình quân là 95 người/km
2
.Toàn huyện có 28.707 hộ thì đã có tới
dưới sự lãnh đạo của Hà Hưng Tông, nhân dân các dân tộc Chiêm Hóa đã
đoàn kết một lòng cầm vũ khí đứng lên đánh giặc phương Bắc, cùng đạo quân
của Lý Thường Kiệt góp phần đập tan âm mưu động binh xâm lược nước ta
của quân Tống
1
. Năm 1789, các thủ lĩnh họ Ma (dân tộc Tày) tập hợp quân
dân các dân tộc châu Vị Long (Chiêm Hóa) cùng với phong trào Tây Sơn,
tham gia chặn đánh một cánh quân của giặc Thanh do Tôn Sĩ Nghị cầm đầu,
trên đường chúng tháo chạy qua Chiêm Hóa, Na Hang, Bảo Lạc về nước, tiêu
diệt gần 3000 tên
Huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang có vị trí chiến lược quan trọng cho
các hoạt động quân sự. Với vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên, Chiêm Hóa sớm
trở thành vùng căn cứ địa cách mạng quan trọng trong kháng chiến chống
thực dân Pháp. Trong những năm 1947 - 1954, Chiêm Hoá vinh dự được
Đảng và Bác Hồ chọn làm nơi ở và hoạt động của nhiều cơ quan Chính phủ:
Bộ Y tế, Bộ Quốc gia Giáo dục là nơi diễn ra Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ II của Đảng (11- 19/2/1951) tại xã Vinh Quang (nay là xã Kim Bình).
Trong kháng chiến chống Mĩ, Chiêm Hoá đã đóng góp sức người sức của chi
(1)
. Sau chiến thắng đó, Hà Hưng Tông được phong tước Hữu Đại Liên ban đoàn luyện xứ, đầu năm 1083
con trai là Hà Di Khánh mới 13 tuổi đã được kén làm Phò mã kết duyên cùng Công chúa Khâm Thánh, là
con gái của Vua Lý Thánh Tông. Hiện nay tại xã Yên Nguyên còn có tấm bia Chùa Bảo Ninh Sùng Phúc
(được xây dựng năm 1107) ghi rõ công lao của quân, dân Châu Vị Long ( Chiêm Hóa) trong việc đánh giặc
,giữ nước duy trì được độc lập
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
12
viện cho miền Nam. Trong thời bình Chiêm Hoá luôn cố gắng vươn lên khắc
Yên Lũng, Phù Loan ( Huyện Hàm Yên), Sơn Đô, Yên Lĩnh (huyện Yên Sơn) và Vĩnh Yên (huyện Nà Hang)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
13
dại dột” [67]. Trong báo cáo của giới cầm quyền Pháp ở Đông Dương đọc tại
hội nghị thuộc địa (1906) ở Pari, có đoạn: “Giáo dục là một công cụ chắc
chắn và mạnh nhất trong tay người đi chinh phục. Chúng ta phải làm cho họ
tiêm nhiễm tư tưởng của chúng ta, dạy cho họ biết tiếng nói của chúng ta và
do đó, phải bắt đầu việc này từ nhà trường mà trước hết là từ trẻ em. Mắc xơ,
một nhà văn cũng viết: Chúng ta chỉ cần dạy tiếng Pháp cho người An Nam,
dạy cho họ biết đọc, biết tính toán một ít thôi, biết hơn là thừa, là vô ích”
[67].
Tại Chiêm Hoá, thực dân Pháp không mở trường học. Đến năm 1924,
do nhu cầu đào tạo tay sai, chúng phải mở một trường sơ học (tức tiểu học)
tại thị trấn. Dưới thời Pháp thuộc, cả huyện Chiêm Hóa chỉ có khoảng dưới
50 học sinh.
Hằng năm, ngân sách mà thực dân Pháp chi cho giáo dục hết sức ít ỏi.
Năm 1933, chi phí cho giáo dục chỉ chiếm 1,2% tổng chi ngân sách của huyện
và không bằng 1/10 chi phí cho xây dựng và tu bổ nhà tù. Thực dân Pháp mở
trường học chủ yếu để đào tạo thông ngôn, tùy phái, viên chức nhỏ phục vụ
bộ máy cai trị của thực dân, phong kiến. Đa số học sinh vào học trường này là
con em giai cấp thống trị, địa chủ và những nhà giàu có; còn tuyệt đại đa số
con em nhân dân lao động không được đến trường.
Mặt khác, theo chương trình cải cách giáo dục từ năm 1924, học sinh
người bản xứ muốn tốt nghiệp bậc Trung học phải trải qua 13 năm học và 8
kỳ thi:
- 3 năm sơ học để thi tốt nghiệp yếu lược rồi thi lên lớp nhì.
- 3 năm tiểu học rồi thi lên đệ nhất.
- 4 năm cao đẳng tiểu học để thi thành chung rồi thi lên đệ nhị trung học.
dục là một bộ phận cấu thành chính sách cai trị của thực dân Pháp ở Việt Nam
nói chung và huyện Chiêm Hóa nói riêng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
15
Mặc dù đã thực hiện một số chính sách giáo dục nô dịch với thủ đoạn
tinh vi, xảo quyệt, nhưng thực dân Pháp vẫn không đạt được kết quả như
mong muốn. Phần lớn những người Việt Nam được Pháp đào tạo vẫn có ý
thức dân tộc, một số không nhỏ có tinh thần yêu nước chống Pháp, trở thành
chiến sĩ cách mạng và đảng viên cộng sản. Mặt khác, việc hình thành hệ
thống trường tân học ở Việt Nam ngoài mục đích đào tạo một lớp người bị
“Pháp hóa”, đã tạo nên sự biến đổi tự nhiên trong nền giáo dục cổ truyền
Tuyên Quang nói chung và Chiêm Hóa nói riêng. Trường học được học tập
trung, có bàn ghế, phấn trắng, bảng đen là những hiện tượng hoàn toàn mới
lạ. Một số kinh nghiệm sư phạm về mặt tổ chức và phương pháp giảng dạy
được tiếp thu, như quy định hạn tuổi, giấy khai sinh, học bạ
Nhằm đầu độc nhân dân Chiêm Hóa về mặt văn hóa, thực dân Pháp
khuyến khích duy trì những phong tục, tập quán lạc hậu, lỗi thời, mê tín
dị đoan, tuyên truyền lối ăn chơi trụy lạc. Chúng dùng thuốc phiện để đầu
độc nhân dân ta nhằm làm suy yếu giống nòi. Trên địa bàn huyện Chiêm
Hóa, thuốc phiện được bầy bán công khai ở các tiệm hút nhằm lôi kéo
thanh niên vào con đường nghiện ngập, ăn chơi sa đọa, mỏi mòn về thể
xác, tinh thần, lãng quên con đường đấu tranh cách mạng. Thực trạng này
càng khẳng định thêm lời tố cáo đanh thép của Nguyễn Ái Quốc được nêu
trong tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp: “Lúc ấy, cứ một nghìn làng
thì có đến một nghìn năm trăm đại lí bán lẻ rượu và thuốc phiện. Nhưng
cũng trong số một nghìn làng đó lại chỉ có vẻn vẹn 10 trường học Hằng
năm người ta đã tọng từ 23 đến 24 triệu lít rượu cho 12 triệu người bản xứ,
kể cả đàn bà và trẻ em” [76; tr 2]
Đầu năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và nắm quyền lãnh đạo
cách mạng. Từ đây, các hoạt động giáo dục trở thành một mặt trận đấu tranh
của nhân dân ta chống thực dân Pháp đồng thời gắn bó chặt chẽ với các mặt
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
17
trận đấu tranh khác. Trong Chính cương vắn tắt - văn kiện đầu tiên của Đảng,
xác định mục tiêu đấu tranh trên lĩnh vực giáo dục cũng là một mặt trận. Chủ
trương tiến hành“Phổ thông giáo dục theo công nông hoá” trong 10 khẩu
hiệu thì khẩu hiệu thứ 9 ghi là: “Thực hành giáo dục toàn dân”.
Trong phong trào Đông Dương đại hội thời kỳ vận động dân chủ 1936
– 1939, trong những lá đơn thỉnh nguyện đều có các mục nói về văn hoá,
giáo dục.
Năm 1936, Đảng ta đưa ra yêu sách 12 điểm , trong đó nêu rõ phải mở
rộng nền giáo dục, sửa đổi những thể lệ vào trường học, lên lớp, thi cử, cưỡng
bách giáo dục bằng tiếng mẹ đẻ
Đầu năm 1938, theo đề nghị của đồng chí Trường Chinh, Xứ ủy Bắc Kỳ
quyết định vận động một tổ chức công khai chống nạn mù chữ. Thực hiện chủ
trương này, Hội Truyền bá quốc ngữ được thành lập, do Nguyễn Văn Tố làm
Hội trưởng, ông Phan Thanh làm Tổng thư ký. Mục đích của Hội Truyền bá
quốc ngữ là: “Dạy cho người Việt Nam biết đọc, biết viết và giúp cho họ
thông thái những kiến văn thường thức cần cho cuộc sống mới”[40].
Trước sự đấu tranh của quần chúng và của Hội Truyền bá quốc ngữ,
ngày 29/7/1938, Thống sứ Bắc Kì buộc phải kí giấy công nhận sự hoạt động
hợp pháp của Hội. Ngày 9/9, Hội khai giảng khóa học đầu tiên.
Mặc dù thực dân Pháp đã cho phép hoạt động, nhưng chúng luôn tìm
cách gây khó khăn và kìm hãm sự phát triển của Hội. Đến trước Chiến tranh
thế giới thứ hai, ngoài 4 khu trường được mở tại Hà Nội, Hội cũng chỉ phát
triển thêm được hai cơ sở ở Hải Phòng và Việt Trì. Khi Chiến tranh thế giới
sống hằng ngày. Những người được xóa mù sẽ là những nhân tố quan trọng
trong cuộc vận động cách mạng cũng như trong cuộc sống sau này.
Bên cạnh việc xây dựng chương trình học chung và cần thiết cho người
học, Chi hội Truyền bá quốc ngữ thị trấn Chiêm Hoá còn chú trọng thực hiện
chương trình ấy bằng một phương pháp dạy học phù hợp đối với người lớn.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
19
Để dạy đánh vần chữ quốc ngữ, phương pháp truyền thống là phương
pháp “đánh vần từng chữ”: trước hết cho học các chữ cái từ a,b,c đến x, y rồi
cho học các vần bằng, trắc và cuối cùng là đánh vần, tức là chắp cánh đọc
từng chữ. Học theo phương pháp này vừa mất thời gian, vừa gây nên sự nhàm
chán cho người học, đặc biệt là người lớn tuổi, làm cho họ dễ bỏ dở việc học.
Để tránh tình trạng ấy, ông Hoàng Xuân Hãn, Trưởng ban và một số
người trong Ban Tu thư của Hội Truyền bá quốc ngữ nghiên cứu một phương
pháp dạy học mới là “phương pháp đọc lên thành tiếng”. Đây là một cải tiến
quan trọng và đã trở thành phương pháp chính thức của Hội Truyền bá quốc
ngữ và của các lớp Bình dân học vụ sau này.
Các công tác tuyên truyền cổ động được Chi hội và các trường rất coi
trọng, như tổ chức diễn thuyết, thành lập các tiểu ban gồm những người tiêu
biểu trong từng ngành, từng giới để vận động người trong từng ngành, giới
tham gia. Công tác tuyên truyền cổ động quan trọng nhất là vận động giáo
viên và học viên nhằm giữ vững được các lớp học từ đầu đến cuối khóa học
đồng thời phát triển thêm được nhiều lớp, nhiều học viên.
Người giáo viên không những được Chi hội giúp đỡ giảng dạy đúng
phương pháp, mà còn được tham khảo thêm các tài liệu hướng dẫn về sư
phạm, các nội dung như: Tư cách người thầy giáo; kỷ luật giảng dạy; những
cử chỉ và hoạt động của người giáo viên phải làm trong một buổi dạy học;
cách thức thưởng phạt, lối giảng dạy cho học viên ham thích học; công việc
Cách tháng Tám năm 1945 thành công là một sự kiện vĩ đại trong lịch sử
dân tộc Việt Nam. Nó đã phá tan hai xiềng xích nô lệ của thực dân Pháp hơn
80 năm và của phát xít Nhật gần 5 năm, lật nhào ngai vàng phong kiến ngự trị
ngót gần 10 thế kỷ ở nước ta. Với thắng lợi vĩ đại này, nước ta từ một nước
thuộc địa đã trở thành một nước độc lập, có chủ quyền, nhân dân từ thân phận
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
21
nô lệ thành người làm chủ nước nhà. Một kỷ nguyên mới của lịch sử dân tộc
đã mở ra, kỷ nguyên độc lập tự do.
Sau khi ra đời, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đứng trước một tình
thế hết sức hiểm nghèo. Bên cạnh giặc ngoại xâm, là “giặc đói” “giặc dốt”
do chế độ thực dân phong kiến để lại. Hơn 90% dân số không biết chữ, các
tệ nạn xã hội như rượu chè, cờ bạc, nghiện hút và mê tín dị đoan còn rất
phổ biến.
Tất cả tình hình trên đặt nước Việt Nam vào tình thế “ngàn cân treo
sợi tóc”. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh lúc bấy giờ, nước ta cũng có những
thuận lợi rất cơ bản. Nhân dân lao động đã giành được quyền làm chủ và
bước đầu hưởng những quyền lợi do chính quyền cách mạng đem lại nên
vô cùng phấn khởi và gắn bó với chế độ mới. Phong trào giải phóng dân
tộc đang dâng cao ở nhiều nước thuộc địa và phụ thuộc. Hệ thống xã hội
chủ nghĩa thế giới đang hình thành. Phong trào đấu tranh vì hòa bình, dân
chủ phát triển ở các nước tư bản. Đó là những nhân tố quan trọng, có tác
dụng cổ vũ, động viên nhân ta rất nhiều trong cuộc đấu tranh nhằm thực
hiện nhiệm vụ trước mắt là củng cố chính quyền, chống thực dân Pháp xâm
lược, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống cho nhân dân, như bản Chỉ thị
“Kháng chiến - Kiến quốc”( 25/11/1945) đã nêu.
Để thực hiện nhiệm vụ trên, cùng với nhiệm vụ diệt “giặc đói”, giặc
ngoại xâm, công cuộc vận động nâng cao dân trí, trước hết là xóa mù chữ là
một chính sách lớn của Nhà nước, do Nhà nước tổ chức đảm nhiệm, có những
thể chế đảm bảo thực hiện, mà trước đây dưới chính quyền phong kiến, thực
dân không thể có được. Các Sắc lệnh trên có tác dụng làm thay đổi quan niệm
và nhận thức của các cấp chính quyền và đoàn thể nhân dân đối với các vấn
đề học chữ Quốc ngữ.